BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
---------------------------------------
NGUYỄN TIẾN QUYẾT
NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP LẬP TRÌNH GIA CÔNG BỀ MẶT
PHỨC TẠP TRÊN MÁY PHAY CNC
Chuyên ngành: CÔNG NGHỆ CHẾ TẠO MÁY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ CHẾ TẠO MÁY
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS. TRẦN VĂN ĐỊCH
Hà Nội – Năm 2011
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan các số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực và
chưa được ai công bố trong bất kỳ một công trình khác, trừ những phần tham khảo
đã được ghi rõ trong luận văn.
Tác giả
Nguyễn Tiến Quyết
1
9
1.1.1. Khái niệm về Điều khiển số
9
1.1.2. Quá trình hình thành và phát triển
9
1.1.3. Hệ thống Điều khiến số
20
1.1.4. Phân loại máy Phay CNC
28
1.2. Đặc điểm đặc trưng của máy phay CNC
29
1.3. Kết luận.
35
Chương 2 - LÍ THUYẾT TẠO HÌNH BỀ MẶT TRÊN MÁY PHAY
CNC
37
2.2.1. Lý thuyết về gia công phay trên máy phay CNC
2.2.2. Xây dựng cơ sở toán học trong việc tính toán đường chạy dao khi
gia công bề mặt trên máy phay CNC
2
45
49
54
2.2.3. Mặt đẳng góc
2.2.3.1 Khái niệm mặt đẳng góc
54
2.2.3.2 Tạo ra mặt đa góc
55
2.2.3.3 Thiết lập đường chạy dao
56
2.2.3.4 Tính bước dịch dao
57
104
4.1. Bản vẽ cối khuôn nắp đèn
104
4.2. Chương trình gia công cối khuôn nắp đèn
105
64
4.2.1. Nguyên công 1: Phay thô
105
4.2.2. Nguyên công 2: Phay bán tinh
106
4.2.3. Nguyên công 3: Phay tinh
108
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
112
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Hình 1.4: Máy NC có trang bị các Robot
Hình 1.5: Dây truyền sản xuất linh hoạt (FMS) hay tích hợp (CIM)
Hình 1.6: Mô hình hệ thống sản xuất linh hoạt
Hình 1.7: Dây truyền sản xuất linh hoạt
Hình 1.8: Máy Phay CNC trục đứng
Hình 1.9: Máy Phay CNC trục ngang
Hình 1.10: Hệ trục tọa độ theo qui tắc bàn tay phải
Hình 1.11: Hệ trục toạ độ của Máy gia công trung tâm trục đứng
Hình 1.12: Hệ trục toạ độ của Máy gia công trung tâm trục ngang
Hình 1.13: Điểm gốc toạ độ của máy và không gian làm việc của máy
Hình 1.14: Hệ thống gốc toạ độ của chi tiết từ G54 đến G59
Hình 1.15: Hệ thống gốc toạ độ của chi tiết
Hình 2.1 Các loại dao phay phổ biến trong gia công bề mặt cong
Hình 2.2 Các thông số của dụng cụ
Hình 2.3 Khả năng lấy đi lượng dư của các loại dao hình dáng bề mặt gia công
Hình 2.4: Đường dụng cụ 2D
Hình 2.5: Đường dụng cụ trong gia công 3D
Hình 2.6 Các kiểu hình dáng đường dụng cụ 2D
Hình 2.7 Ảnh hưởng của hướng tiến dao đến đường dụng cụ
Hình 2.8 Chiều cao nhấp nhô theo bước tiến ngang
Hình 2.9 Bề mặt thực và bề mặt lý thuyết theo dung sai gia công
Hình 2.10 Nội suy đường tròn
Hình 2.11: Mạch tạo hình ứng dụng CAD/CAM
Hình 2.12: Hình dáng bề mặt sau gia công
Hình 2.14: Ví dụ đường chạy dao đồng phẳng Si (i = 1, 2, ...)
Hình 2.15: Đường chạy dao đồng tham số (v = const)
Hình 2.16: Tạo bước chạy dao dựa vào chiều cao nhấp nhô
Hình 2.17: Sơ đồ khối của phương pháp chiều cao nhấp nhô không đổi
Hình 2.18: Đường chạy dao gia công hốc
Hình 2.19: Mặt đẳng góc của một bề mặt bất kỳ
Hình 3.20: Ví dụ bù chiều dài dao sử dụng G43
Hình 3.21: Các điểm trong chu trình
Hình 3.22: Điểm R và Z theo G90 và G91
Hình 3.23: Chu trình dùng G98 hoặc G99
Hình 3.24: chiều sâu q của mỗi lần cắt sau đó dừng lại để bẻ phoi
Hình 3.25: Chu trình được lặp 4 lần
Hình 4.1: Bản vẽ chi tiết
Hình 4.2: Mô phỏng phay thô
Hình 4.2: Mô phỏng phay thô
Hình 4.4: Mô phỏng phay tinh lòng khuôn
Hình 4.5: Mô phỏng phay tinh rãnh lòng khuôn
6
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong sự phát triển không ngừng của các thành tựu Khoa học – công nghệ,
đặc biệt lĩnh vực điều khiển số và tin học đã cho phép các nhà Chế tạo máy ứng
dụng vào máy cắt gọt các hệ thống điều khiển ngày càng tin cậy hơn với tốc độ xử
lý nhanh hơn và giá thành thấp hơn. Tự động hóa sản xuất, mà phương thức cao
nhất của nó là sản xuất linh hoạt (dây chuyền mền). Trong đó máy điều khiển số
CNC (Computer Numerical Control) đóng vai trò quan trọng nhất, sử dụng máy
điều khiển số CNC cho phép giảm khối lượng gia công chi tiết, nâng cao độ chính
xác gia công và hiệu quả kinh tế đồng thời cũng rút ngắn được chu kỳ sản xuất.
Chính vì vậy, nghành cơ khí chế tạo đa số các nước phát triển trên thế giới
cũng như trong nước ta hiện nay đầu tư các dây chuyền CNC ứng dụng vào sản xuất
với hiệu quả kinh tế rất cao. Vấn đề tài chính không còn là vấn đề đáng quan tâm
của các doanh nghiệp khi đầu tư các máy công cụ điều khiển theo chương trình số,
5. Phương pháp nghiên cứu
Kết hợp giữa nghiên cứu lý thuyết động học máy CNC, phương pháp tạo hình bề
mặt, phương pháp lập trình và thực nghiệm
Tác giả rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô và các bạn đồng nghiệp
để tác giả hoàn thiện hơn cho các công trình tương tự sau này.
Xin trân thành cảm ơn GS.TS Trần Văn Địch người đã tận tình hướng dẫn
em hoàn thành luận văn này.
8
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ MÁY CNC
1.1. Gia công điều khiển theo chương trình số
1.1.1. Khái niệm về Điều khiển số
Khi gia công chi tiết trên các máy công cụ thông thường, các bước gia công do
người thợ thực hiện bằng tay như: điều chỉnh số vòng quay trục chính và lượng
chạy dao, kiểm tra vị trí của dao cắt để đạt được kích thước cần gia công trên bản vẽ
v.v…
Ngược lại trên các máy công cụ điều khiển theo chương trình số, quá trình gia
công được thực hiện một cách tự động. Trước khi gia công, người ta phải đưa vào
hệ thống điều khiển một chương trình gia công dưới dạng một chuỗi các lệnh điều
khiển. Chương trình này mô tả đầy đủ các bước cần thiết cho quá trình gia công
bằng một ngôn ngữ lập trình mà hệ thống điều khiển có thể hiểu được, cũng như có
khả năng thực hiện các lệnh đó và kiểm tra chúng bằng các thiết bị đo dịch chuyển
trên các bàn trượt của máy.
Như vậy điều khiển số (NC = Numerical Control) là một hình thức đặc biệt của
tự động hoá, mà cụ thể là các máy công cụ tự động được lập trình để thực hiện một
loạt các thao tác máy ở một chế độ xác định nhằm tạo ra một chi tiết thoả mãn các
nguyên lý mới và dễ dàng thích nghi được với các biến thể trong thiết kế và các tình
huống sản xuất thực tế.
Hệ thống điều khiển mới này còn phải có khả năng điều khiển tự động với độ
chính xác cao chuyển động của dao cắt trong khi gia công biên dạng chi tiết, đặc
biệt là với các chi tiết lớn, phức tạp trong công nghiệp chế tạo ôtô và máy bay
những năm 1950. Muốn vậy hệ điều khiển phải xử lý nhanh các tín hiệu thu nhận
được. Sự xuất hiện của các máy tính điện tử số (digital computer) với tốc độ tính
toán nhanh gấp hàng trăm lần so với trước đây đã cho phép phát triển loại hệ thống
điều khiển kể trên.
Năm 1940, thông qua thực nghiệm John Parsons đã phát hiện ra dữ liệu ba chiều
về vị trí dao cắt được khởi tạo từ các biên dạng chi tiết có thể lại được sử dụng để
điều khiển chuyển động máy công cụ. Dựa trên ý tưởng này, William Webster cùng
các kỹ sư tại Air Material Command kết luận: sự tích hợp giữa máy tính số và các
10
cơ cấu sécvô hiệu năng cao (high-performance servo-mechanism) là cần thiết cho
sự ra đời của kỹ thuật gia công chính xác biên dạng chi tiết.
Tiếp đó, một bản hợp đồng về nghiên cứu kiểm chứng tính khả thi của hệ thống
điều khiển máy công cụ dựa trên máy tính số đã được kí kết giữa Parsons
Corporation và Phòng thí nghiệm về động cơ sécvô thuộc Viện công nghệ bang
Massachussets (MIT-Mỹ) vào tháng 10/1949. Tới năm 1952, máy phay đứng đầu
tiên với 3 trục NC điều khiển đồng thời nhằm gia công kích thước 3D đã được MIT
chế tạo thành công, có tên gọi là máy điều khiển số- Numerical(ly) Control(led)
Machine.
Máy phay NC đầu tiên này sử dụng đơn vị điều khiển lai tương tự-số, có thể gia
công được chi tiết với tốc độ, độ chính xác cũng như tính lặp lại cao gấp từ 3-5 lần
so với các máy công cụ trước đây. Hơn nữa, nó không cần bất cứ sự thay đổi nào về
bộ phận máy để tạo ra một chủng loại chi tiết mới; một chương trình NC lưu trên
trong việc chuyển giao các chương trình NC để gia công trên các máy NC có hệ
điều khiển khác nhau.
Các máy NC kể trên đã được đưa vào hoạt động từ 1958-1960 tại một vài hãng
hàng không. Tuy nhiên chúng không phát huy được hiệu quả do các mạch điện tử
hệ điều khiển thời kỳ này hoạt động kém tin cậy, những sai sót trong khâu cài đặt và
vận hành máy, và cả sự yếu kém về kỹ thuật lập trình của người sử dụng.
Những khó khăn trên đã từng bước được khắc phục bằng việc cải tiến dần thiết
kế của hệ điều khiển NC (từ phía nhà chế tạo máy công cụ) và bằng việc đào tạo
nâng cao trình độ cho các lập trình viên, người vận hành và chuyên gia bảo dưỡng
(từ phía người sử dụng). Vấn đề trên hoàn toàn được giải quyết trong những năm
1961-1962. Bị thuyết phục trước những ưu thế vượt trội của kỹ thuật NC, các hãng
hàng không đã bắt đầu mua hoặc tự chế tạo các máy NC mới bằng nguồn kinh phí
riêng của mình.
Về phương diện lịch sử, sự phát triển của kỹ thuật NC gắn liền với hai nhân tố
chính: sự cải tiến hệ điều khiển máy công cụ và các công cụ trợ giúp lập trình.
Cấu hình của máy gia công NC hiện đại có nét khác biệt lớn so với các máy
công cụ truyền thống. Hệ thống tiến dao (feed-drive system) đóng vai trò cốt lõi
trong máy NC vì nó quyết định độ chính xác vị trí và biên dạng của chi tiết gia
công. Yêu cầu đặt ra đối với hệ thống này là tính chính xác cao và tính tác động
nhanh. Việc sử dụng các thanh trượt chống ma sát, cơ cấu vítme- đai ốc- bi cho
phép giảm ma sát giữa các bộ phận truyền động và hiệu ứng stick-slip. Từng trục
được dẫn động bằng các động cơ một chiều riêng biệt thay vì thiết kế dẫn động
trung tâm như trước đây.
Hệ thống đo chính xác và phản hồi các dịch chuyển thẳng và góc cũng được
phát triển và sử dụng trên máy NC vì chúng rất cần thiết cho việc thực hiện điều
khiển theo vòng lặp kín (closed-loop control).
Các chuyển động phụ trợ (thẳng, quay) theo các hướng khác với ba trục cổ điển
X, Y, Z đã được kết hợp vào máy NC nhằm giải quyết việc gia công các biên dạng
chuyên dụng vào bộ điều khiển NC-mang tên Điều khiển Số Máy tính bằng CNC
(Computer Numerical Control). Ngoài băng đục lỗ hay băng từ, chương trình NC
còn có thể được lưu trữ trên đơn vị bộ nhớ của bộ điều khiển hoặc được tiếp nhận từ
một máy tính riêng biệt khác. Hơn nữa, chương trình này hoàn toàn có thể được
13
chỉnh sửa và tối ưu hoá- một tiện ích không thể có tại các bộ điều khiển thế hệ cũ.
Bộ điều khiển NC còn cung cấp chẩn đoán lỗi trực tuyến về tình trạng máy và
truyền tin dễ dàng với nhiều thiết bị vào-ra và các máy tính khác.
Hai hướng tiếp cận đã được phát triển để thực hiện truyền tin (communication)
giữa bộ điều khiển CNC và máy tính. Với Điều khiển Số Phân tán DNC
(Distributed Numerical Control), một chương trình gia công chi tiết hoàn chỉnh có
thể được gửi đến từ một máy tính và lưu trữ trên bộ điều khiển CNC trước khi nó
được thực hiện. Trong Điều khiển số Trực tiếp DNC (Direct Numerical Control),
chương trình còn có thể được gửi tới bộ điều khiển NC từng lệnh một (statement by
statement) trong khi đang thực hiện việc gia công chi tiết (theo thời gian thực). Sự
khác biệt giữa hai hướng tiếp cận này là kích thước chương trình NC cho hệ Điều
khiển Số Phân tán bị giới hạn bởi dung lượng đơn vị bộ nhớ bộ điều khiển NC. Còn
với hệ Điều khiển Số Trực tiếp, các thao tác trên máy NC phụ thuộc các tín hiệu gửi
đi từ máy tính. Thông thường một máy tính trung tâm (central computer) được
dùng để điều khiển một vài máy NC, vì thế hoạt động của các máy NC này sẽ phụ
thuộc nhiều vào mức độ hoạt động của máy tính trung tâm đó.
Bên cạnh sự phát triển của hệ điều khiển NC còn phải kể đến các phần mềm trợ
giúp lập trình NC. Như đã trình bày ở các phần trên, dữ liệu chính xác liên quan đến
các vị trí dịch chuyển dao liên tiếp trong quá trình gia công cần phải được đưa vào
chương trình NC. Đối với các chi tiết có hình dạng phức tạp, việc tính toán bằng tay
các số liệu này là không khả thi hoặc quá tốn kém. Sự khó khăn trong lập trình NC
còn do nhu cầu dịch dữ liệu vào các mã yêu cầu bởi nhiều bộ điều khiển NC khác
Dữ liệu của mô hình CAD có thể còn được sử dụng để định nghĩa quỹ đạo cắt
NC với sự trợ giúp của các phần mềm lập trình NC xác định. Vì vậy nếu một hệ
CAD được cung cấp với các chức năng cần thiết cho việc biểu diễn một quỹ đạo cắt
NC dựa trên mô hình CAD đó, thì ta có thể xác định được một quá trình gia công
NC hiển thị trên màn hình CRT. Một hệ thống như vậy thường được gọi là hệ thống
Thiết kế có Trợ giúp Máy tính/ Sản xuất có Trợ giúp Máy tính CAD/CAM
(Computer-Aided Design/ Computer-Aided Manufacturing). Các hệ CAD/CAM
chưa được sử dụng rộng rãi cho tới trước năm 1980 do giá thành cao và độ tin cậy
còn thấp của các phần mềm CAD/CAM. Hiện nay các hệ CAD/CAM tổng quan
15
(general) và hướng NC (NC-oriented) với chất lượng tốt đã xuất hiện nhiều trên thị
trường.
Kỹ thuật Điều khiển số NC ban đầu vốn chỉ phát triển cho việc điều khiển quá
trình gia công biên dạng chi tiết kim loại, nhưng ngày nay nó đã có các ứng dụng
rộng rãi trong hàn (welding), cắt hơi (flame cutting), gia công tấm vỏ (metal
forming), các quá trình đo lường và giám sát v.v…Ngoài ra kỹ thuật NC còn được
sử dụng trong các ngành công nghiệp khác như sản xuất đồ gỗ (woodworking), đồ
dệt may (textile), nhựa (plastics), và đồ điện tử (electronics). Robotics cũng được
xem như là một trong những ứng dụng quan trọng của NC vì giữa chúng có sự
tương đồng về các nguyên lý lập trình và điều khiển.
Xu hướng phát triển chính của kỹ thuật NC hiện nay chính là tạo dựng trực tiếp
chương trình dựa trên mô hình CAD, kết hợp với việc sử dụng cơ sở dữ liệu sản
xuất (manufacturing database system)- gồm dữ liệu về dụng cụ cắt, máy, đồ gá, vật
liệu phôi và lập kế hoạch sản xuất.
1.1.2.2. Ảnh hưởng của kỹ thuật NC tới quá trình thiết kế và chế tạo sản phẩm
(1)Ảnh hưởng tới quá trình thiết kế sản phẩm
Lịch sử phát triển của kỹ thuật NC cho thấy điều khiển số- như một công cụ tự
Manufacturing), một quy trình công nghệ và các bước gia công trong đó đều được
lập và xác định rất cụ thể, do đó nó có thể được thiết kế như một thủ tục hay chương
trình chạy bởi máy tính và tiếp đó là gia công chính xác trên máy CNC. Người lập
quy trình công nghệ cần phải có kiến thức sâu về các quá trình gia công, còn người
lập trình NC thì lại phải hiểu biết tường tận về các thao tác vận hành máy.
Thay đổi cách thức mà các bước gia công được thực hiện:
Các thao tác gia công không còn được điều khiển bởi người thợ máy, mà thay vào
đó là chính chương trình NC. Kỹ năng của người vận hành được thay thế bởi quá
trình xử lý thông tin (ví dụ: xác định các bước gia công trong chương trình NC). Tất
cả các công việc chuẩn bị đều được tách rời khỏi máy và được tiến hành bởi người
lập trình, vì thế thời gian điều chỉnh máy trong mỗi bước gia công được giảm đáng
kể.
Thay đổi cách thức điều khiển một quá trình hay thao tác:
Điều khiển bằng tay với các thao tác hoặc quá trình gia công được thay thế bằng bộ
điều khiển NC hay máy tính.
17
Như vậy, kỹ thuật NC có ảnh hưởng sâu sắc tới nền sản xuất hiện đại: nó thay
đổi những nguyên lý của tự động hoá, phương thức một quá trình được thiết kế,
thực hiện và điều khiển, đồng thời cũng góp phần làm biến đổi cấu trúc của lực
lượng lao động. Nền tự động hóa linh hoạt (flexible automation), vốn là loại hình tự
động hóa có thể thích nghi nhanh chóng và dễ dàng với các thay đổi trong thiết kế
và chế tạo thông qua quá trình xử lý thông tin nhanh bởi máy tính, hoàn toàn có thể
đạt được trong tương lai.
Dưới đây sẽ điểm lại và bổ sung thêm các mốc quan trọng trong quá trình hình
thành và phát triển của kỹ thuật NC trên thế giới:
1952 Viện công nghệ Massachussets (MIT)- Mỹ chế tạo máy gia công
1978
Hệ thống gia công linh hoạt FMS (Flexible Manufacturing System)
1979
Kết nối liên hoàn CAD/CAM đầu tiên
1984
Hệ CNC với công cụ trợ giúp đồ họa (graphics), tạo khả năng mô
phỏng (simulation) trên máy tính và lập trình tại phân xưởng
18
1986/1987 Giao diện tiêu chuẩn hóa (Standard Interfaces) tạo khả năng tích
hợp hóa và tự động hóa sản xuất theo mô hình CIM (Computer
Intergrated Manufacturing)
1990
Giao diện số (Digital Interfaces) giữa hệ điều khiển NC và các hệ
khởi động đã cải thiện độ chính xác cũng như đáp ứng điều khiển
của các trục NC (NC axes) và các trục máy
1993
Động cơ tuyến tính (Linear Motor) ở các trung tâm gia công MC
(Manufacturing Center)
19
hình CAD 3D, sau đó: (2) dùng thiết bị tạo mẫu nhanh để tạo ra bản
sao chi tiết.
Hiện nay các máy CNC 5 trục đã được sản xuất và sử dụng rộng rãi ở các nước phát
triển
1.1.3. Hệ thống Điều khiến số
Trong các hệ thống điều khiển số, mỗi dịch chuyển hành trình đều được cơ cấu
chấp hành thực hiện ứng với các “giá trị xung”- nghĩa là được điều khiển theo số.
Sử dụng hệ thống điều khiển số nhằm các mục đích:
- Tự động hóa các thiết bị sản xuất với khả năng linh hoạt cao (điều chỉnh nhanh các
máy, dây chuyền để thay đổi đối tượng gia công)
- Hiệu chỉnh nhanh chóng, dễ dàng chương trình gia công khi chi tiết có sự thay đổi
về kết cấu
- Tổ chức lập trình tập trung (có thể ngoài phân xưởng) và chuyển chương trình gia
công từ trung tâm tới phân xưởng bằng điện thoại, fax ...
- Lưu trữ và sử dụng lại các chương trình
- Lập trình tự động (với sự trợ giúp của máy tính) để nâng cao năng suất và độ
chính xác gia công
Hệ thống điều khiển số được chia thành các loại: hệ thống điều khiển NC, hệ
thống điều khiển CNC, hệ thống điều khiển DNC (trực tiếp, phân tán) và hệ thống
thích nghi.
1.1.3.1. Hệ thống điều khiển NC
Ngày nay các máy công cụ trang bị hệ thống điều khiển NC vẫn còn thông
dụng. Đây là hệ điều khiển đơn giản với số lượng hạn chế các kênh thông tin. Trong
hệ thống NC này các thông số hình học của chi tiết, các lệnh điều khiển máy được
cho dưới dạng dãy các con số.
Nguyên tắc làm việc của hệ thống điều khiển NC như sau: sau khi mở máy, các
động riêng biệt mà còn cho nhiều chuyển động cùng lúc. Điều này cho phép làm
giảm số câu lệnh của chương trình, nâng cao độ tin cậy làm việc của máy.
Sau khi đã được đưa vào hệ thống điều khiển, chương trình gia công có thể được
gọi ra bất cứ lúc nào từ bộ phận lưu giữ chương trình mà không cần phải đọc lại
băng đục lỗ. Việc sửa chữa, thay đổi hay làm tối ưu chương trình có thể tiến hành
21
ngay tại máy bất cứ lúc nào. Các câu lệnh có thể được bổ sung, thay thế hoặc chỉnh
sửa lại.
Hệ thống điều khiển CNC có kích thước nhỏ gọn hơn, giá thành thấp hơn, đồng
thời lại có những đặc tính mới mà hệ thống điều khiển NC trước đó chưa có, chẳng
hạn cho phép hiệu chỉnh sai số cố định của máy (là nguyên nhân gây ra sai số gia
công). Ngoài ra trên các hệ thống điều khiển CNC hiện đại còn trang bị màn hình
đồ họa giúp mô phỏng động học quá trình cắt gọt trên máy công cụ CNC.
1.1.3.3. Hệ thống điều khiển DNC
DNC (Direct Numerical Control) biểu thị một hệ thống trong đó nhiều máy NC
được nối với 1 máy vi tính gia công thông qua đường dẫn dữ liệu.
Đặc điểm cơ bản của các hệ thống DNC hiện nay là cung cấp cho các máy NC
riêng biệt các thông tin điều khiển (hay các chương trình). Tất cả các chương trình
NC sẽ được sử dụng được lưu giữ trên các đĩa cứng của máy vi tính gia công (bố trí
trên hệ thống DNC) và có thể được gọi ra trực tiếp tùy theo nhu cầu của từng máy
NC.
1
CNC
M¸y tÝnh
trung t©m
M¸y c«ng cô
Có 1 ngân hàng dữ liệu trung tâm cho biết các thông tin về chương trình chi
tiết gia công và dụng cụ.
-
Truyền dữ liệu nhanh, tin cậy và phát huy tốt hiệu quả của các máy NC.
-
Điều khiển và lập kế hoạch gia công.
-
Có khả năng ghép nối vào các hệ thống gia công linh hoạt FMS.
1.1.3.4. Điều khiển thích nghi AC (Adaptive Control)
Điều khiển thích nghi là điều khiển tự động quá trình gia công không có sự tác
động của người vận hành máy. Mục đích chính của nó là nhằm tự động thay đổi các
thông số gia công theo ảnh hưởng không thể dự kiến trước trong quá trình gia công.
Ví dụ khi kích thước các phôi đúc, rèn thay đổi hoặc lượng dư gia công cơ không
đều thì có thể gây biến dạng đàn hồi cho hệ thống công nghệ, sinh ra sai số gia
công. Muốn khắc phục điều này thì thiết bị điều khiển thích nghi phải thay đổi tốc
độ chạy dao cho phù hợp.
Tuỳ theo mục đích sử dụng, người ta phân chia các hệ thống điều khiển thích
nghi thành 2 loại:
- Điều khiển thích nghi cưỡng bức ACC (Adaptive Control Constrain): dùng để
điều khiển giới hạn của các thông số cắt gọt. Ví dụ, khi tiện côn hay phay bề mặt
23
Các tế bào gia công linh hoạt.
-
Các cụm gia công linh hoạt.
-
Các dây chuyền gia công linh hoạt.
24