GIẢI PHÁP XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN CƠ CHẾ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN TRONG PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY - Pdf 43

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA CHÍNH TRỊ HỌC

TIỂU LUẬN
Môn: Quyền lực Chính trị

ĐỀ TÀI: GIẢI PHÁP XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN CƠ CHẾ THAM
GIA CỦA NGƯỜI DÂN TRONG PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Học viện thực hiện: Nguyễn Thị Hòa

Hà Nội - 2016
1


Các biện pháp chống tham nhũng dựa trên những khuyến khích tạo cho
hành vi tham nhũng. Những điều kiện nhất định khuyến khích các quan chức tìm
kiếm và chấp nhận tham nhũng. Những lợi nhuận mong đợi thu được từ tham
nhũng nhiều hơn chi phí cho tham nhũng.
Ở những nước có tham nhũng nặng nề và quản trị yếu kém, những ưu tiên
cho các nỗ lực chống tham nhũng là thiết lập sự cai trị của luật pháp, tăng cường
các thể chế tham gia và trách nhiệm giải trình, hạn chế sự can thiệp của chính phủ
tập trung vào những sự ủy quyền căn bản. Đối với những nước có tham nhũng
vừa phải và quan trị khá, những ưu tiên là phân quyền và cải cách kinh tế, quản
trị dựa vào kết quả và đánh gia, và thực hiện những khuyến khích cạnh tranh
trong cung cấp dịch vụ công. Còn đối với những nước ít tham nhũng và quản trị
tốt, các ưu tiên là các chiến lược và chương trình chống tham nhũng rõ ràng, quản
trị tài chính mạnh mẽ hơn và tăng cường nhận thức của công chúng và chính phủ,
không có hối lộ và những nỗ lực để bắt “những con cá lớn”.1
Ở Việt Nam, tham nhũng được xếp ở mức phổ biến, có tính hệ thống, vì

tranh cử cùng với các ứng cử viên tự ứng cử, các ứng cử viên do nhân dân đề cử.
Đảng tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng cho tất cả các ứng cử viên.
Chỉ có thông qua môi trường cạnh tranh thực sự mới tìm được người tài giỏi ra gánh
vác công việc của đất nước. Danh sách ứng cử viên cần nhiều hơn số lượng cần bầu ít
nhất là gấp đôi để mở rộng sự lựa chọn của nhân dân. Nhân dân mới có quyền quyết
định xem ai là người xứng đáng được giao trọng trách quản lý đất nước. Đảng phải
tôn trọng quyền quyết định này của dân. Làm như thế không những Đảng nâng cao
được uy tín, tính chính đáng cho quyền lãnh đạo của mình mà còn có thêm sức mạnh
của dân cùng tham gia xây dựng bộ máy nhà nước.
Việc thiết kế hệ thống bầu cử là yếu tố quan trọng tiếp theo sau khi Đảng
đã quán triệt được vai trò quyết định của nhân dân trong việc lựa chọn các đại
diện. Trong phạm vi nghiên cứu này không thể đi sâu vào các thiết kế cụ thể mà
chỉ đưa ra những yêu cầu có tính nguyên tắc chung, đó là:
- Luật bầu cử nên được xây dựng và quy định cụ thể trong Hiến pháp; phải lập
ra Ủy ban giám sát bầu cử có vị thế độc lập với các ảnh hưởng bên ngoài. Các biện
pháp này nhằm đảm bảo phản ánh một cách trung thực lá phiếu của người dân.
- Do còn nhiều hạn chế về trình độ nhận thức, về việc tiếp cận thông tin
cũng như năng lực duy lý, cộng theo tâm lý đám đông nên sự lựa chọn của người
dân vẫn có khả năng không hợp lý. Vì vậy, cần có những quy định, biện pháp
ngăn cấm, hạn chế việc tuyên truyền, vận động có tính chất mị dân. Đồng thời, có
3


các hình thức giáo dục, tuyên truyền, nâng cao sự hiểu biết của dân chúng để
người dân có được sự lựa chọn hợp lý.
- Nên có sự nghiên cứu, khảo sát cụ thể để thiết lập các đơn vị bầu cử một
thành viên trên toàn quốc. Nó sẽ khắc phục được nhiều điểm hạn chế của đơn vị
bầu cử nhiều thành viên và hình thành đoàn đại biểu quốc hội như hiện nay. Thứ
nhất, nó làm giảm chi phí thông tin và giám sát của cử tri đối với đại biểu mà họ
bầu ra. Với đơn vị bầu cử nhiều thành viên như hiện nay, cử tri không có đủ thời

bầu của nhân dân đã được ghi nhận trong Hiến pháp cũng như trong Luật tổ chức
Quốc Hội. Nhưng quy trình bãi nhiệm đại biểu Quốc hội của nhân dân vẫn chưa
cụ thể, rõ ràng và có nhiều công đoạn phức tạp. Theo quy định của Luật tổ chức
Quốc hội, cử tri bãi nhiệm đại biểu quốc hội chỉ khi có đề nghị của Ủy ban Trung
ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cách thức lại do UBTVQH quyết định. Cách
thức đó được tiến hành như thế nào, quy định ở đâu, thì vẫn chưa có chỉ dẫn cụ
thể. Về vấn đề này, có thể tham khảo Hiến pháp 1946. Hiến pháp có quy định rõ
ràng, cụ thể về quyền bãi miễn của nhân dân: khi có ¼ tổng số cử tri tỉnh hay
thành phố đề nghị bãi miễn nghị viên họ đã bầu, thì Nghị viện phải xét vấn đề bãi
miễn nghị viên đó. Nếu có 2/3 tổng số nghị viên đồng ý thì nghị viên đó bị bãi
miễn.
Trong bối cảnh hiện nay, có thể quy định thành các thủ tục đơn giản, dễ
dàng hơn để cử tri có thể thực hiện được quyền đã hiến định của mình. Chẳng
hạn, khi đã thiết lập được đơn vị bầu cử một thành viên, có thể chỉ cần 1/5
tổng số cử tri đã bầu ra đại biểu đó đề nghị bãi miễn, Quốc hội phải xét vấn
đề bãi miễn đại biểu đó và chỉ cần tỷ lệ phiếu quá bán đồng ý ở Quốc hội, đại
biểu đó sẽ bị bãi miễn. Điều này dựa trên cơ sở phân tích tại sao quy trình lựa
chọn người lãnh đạo, đại diện cho lợi ích chung cần phải được thiết kế cẩn
trọng, sao cho đó là quá trình rất khó khăn, trong khi quá trình phế truất lại
dễ dàng hơn rất nhiều (có khi chỉ cần một biểu hiện rõ ràng về sự không đáp
ứng các tiêu chí về đạo đức, tinh thần phục vụ nhân dân). Một trong các lý do
chính là tính bất đối xứng của hai loại quyết định này: việc nhận biết người
tốt (hiểu theo nghĩa rộng là phù hợp với mục tiêu cụ thể) sẽ đòi hỏi thời gian
dài, nhiều kiến thức và nhiều thông tin hơn là việc nhận biết người xấu. Cũng
5


như việc nhận biết một người ích kỷ (có thể chỉ cần quan sát một vài biểu
hiện) sẽ dễ dàng hơn rất nhiều so với việc khẳng định người đó là vô tư, vị
tha.

ngôn luận, quyền được tiếp cận thông tin của người dân.
Đạo luật về tự do thông tin – cho phép người dân yêu cầu các cơ quan công
quyền cung cấp thông tin liên quan đến hoạt động và kết quả hoạt động của của
nhà nước. Tuy nhiên luật về tự do thông tin chỉ là bước khởi đầu, là điều kiện cần
chứ chưa đủ để minh bạch hoá các hoạt động công quyền. Sự ra đời của đạo luật
này sẽ tăng cường vai trò giám sát của người dân, nâng cao trách nhiệm giải trình
của các cơ quan công quyền.
Việc tiếp cận các thông tin của chính phủ là một điều kiện tiền đề cần thiết
nhằm đẩy mạnh sự minh bạch và công khai. Việc tiếp cận đó làm giảm thiểu sự
lạm dụng thông tin, quản lý sai trái và tham nhũng.
5. Ban hành luật bảo vệ người chống tiêu cực, tham nhũng
Nếu tham nhũng có tính hệ thống, người tố cáo tham nhũng có nguy cơ bị
cấp trên kỷ luật hoặc thậm chí có thể bị cáo buộc rằng chính họ là kẻ tham nhũng.
Khi đó, việc tố cáo tham nhũng là rất hiếm. Các phương tiện thông tin đại chúng
đã đề cập không ít trường hợp người tố cáo tham nhũng bị trù dập, từ tước đoạt
phương tiện sinh sống đến cả tính mạng. Vì vậy nếu không có sự bảo vệ hữu hiệu
từ luật pháp cho đến thực thi trên thực tế thì việc tố cáo các hiện tượng tiêu cực,
tham nhũng là khó xảy ra. “Xét về bản tính con người, nếu chúng ta có thể kiểm
soát được sự sinh sống của một người thì tức là chúng ta có thể kiểm soát được ý
chí của người đó”2.
Hành vi trả thù người tố cáo tham nhũng ngày càng tinh vi trong khi những
quy định về bảo vệ người tố cáo còn chung chung, mang tính nguyên tắc và nằm
rải rác tại nhiều văn bản pháp luật khác nhau... Nhiều ý kiến nhận định như trên
tại hội thảo quốc tế về bảo vệ người chống tham nhũng do Văn phòng Ban Chỉ
đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng (BCĐ PCTN) tổ chức ngày 3-11 tại
Hà Nội.
Alexander Hamilton, James Madision, John Jay (1959), Luận về hiến pháp Hoa Kỳ, Bản dịch
của Nguyễn Hưng Vượng, Sài gòn
2


chặn sự tố cáo, chống tham nhũng của nhân dân. Vì chưa có cơ chế bảo vệ người
chống tiêu cực nên chẳng ai giám tố cáo cho dù biết đó là sự thật. Các nước khác,
chỉ cần có ý kiến phản ánh dù nặc danh hay không đều được quan tâm xem xét, là
dấu hiệu để thẩm tra, kiểm tra.
Người đưa hối lộ cũng bị xử lý nên chẳng ai giám tố cáo. Tư duy theo cách
này là không hợp lý. Bởi lẽ vì bất ký lý do gì người ta đưa hối lộ thì anh là người
9


có quyền có chức, anh ở vị thế chủ động có quyền nhận hoặc không, không ai có
thể ép buộc anh nhận. Còn việc người ta hối lộ có thể do rất nhiều nguyên nhân,
có thể đầu cơ trục lợi, cũng có thể vì bất đắc dĩ … Vì vậy, phải xử người bán chứ
không thể xử người mua cho dù vì bất kỳ động cơ nào. Đấy là chưa kể tới không
ít người “bị buộc” phải hối lộ nhưng sau đó muốn tố cáo để trừng trị kẻ ăn hối lộ
thì với quy định trên họ cũng không dám tố cáo. Quy định như trên càng khuyến
khích người nhận hối lộ vì biết chắc rằng dù nhận hay không thì người đưa cũng
không giám tố cáo mình.
Quy định xử lý người đưa hối lộ nhằm hạn chế người hối lộ, nhưng trên
thực tế lại chỉ hạn chế sự tố cáo. Nó khuyến khích việc nhận hối lộ, vì người
được hối lộ biết chắc rằng dù nhận hay không thì người hối lộ cũng không giám
tố cáo mình. Đó là chưa kể đến hiện nay chúng ta đang có những quy định hạn
chế việc tố cáo tham nhũng. Chẳng hạn những quy định cấm, không xem xét đối
với những thư tố cáo nặc danh, hay người hối lộ cũng bị xử lý… Trên thực tế vì
tố cáo chống tham nhũng thường bị trù dập nên phải mạo danh, nặc danh. Trong
khi đó ta lại không tính đến sự tố cáo dưới hình thức này. Vô hình dung ngăn
chặn sự tố cáo, chống tham nhũng của nhân dân. Vì chưa có cơ chế bảo vệ người
chống tiêu cực nên chẳng ai giám tố cáo cho dù biết đó là sự thật. Các nước khác,
chỉ cần có ý kiến phản ánh dù nặc danh hay không đều được quan tâm xem xét, là
dấu hiệu để thẩm tra, kiểm tra.
6. Ban hành Luật biểu tình

nhà nước thiếu đi sự giám sát, sức ép từ phía nhân dân, công luận, sẽ dẫn đến
phát sinh nhiều vấn đề như duy ý chí, quan liêu, cửa quyền, tham nhũng. Vì
vậy, Đảng cần quán triệt quan điểm xây dựng nhà nước pháp quyền phải gắn
liền với phát triển xã hội công dân. Xã hội công dân mạnh sẽ là cơ sở chính trị
làm vững chắc nhà nước, tạo tính chính đáng cho nhà nước, thúc đẩy nhà nước
dân chủ.
Phát triển xã hội dân sự đồng nghĩa với việc nâng cao tính tự quản, tính tích
cực chính trị và trách nhiệm xã hội, đồng thời giảm bớt ngân sách ở những lĩnh
vực có thể xã hội hoá được. Việc cho phép và khuyến khích thành lập các tổ chức
11


dân sự, hội nghề nghiệp chính là khuyến khích người dân tham gia vào các hoạt
động bảo vệ lợi ích chính đáng của mình, của xã hội một cách có tổ chức và có
trách nhiệm. Đảng và Nhà nước nên có những quy định thông thoáng hơn trong
việc cho phép thành lập hiệp hội. Việc quan trọng mà Nhà nước cần phải tính tới là
làm thế nào để quản lý chúng tốt hơn, chứ không phải là tìm cách hạn chế, ngăn
cản sự hình thành và phát triển của chúng trong xã hội.
Sự giám sát từ các tổ chức chính trị - xã hội, từ công dân mạnh lên cũng
nên phòng ngừa sự chi phối một cách quá mức, quá thái của các tổ chức xã hội
vào hoạt động của Nhà nước, làm gián đoạn nhịp điệu hoạt động của Nhà nước.
Do vậy, cần phải xây dựng luật giám sát của nhân dân và các tổ chức xã hội, đối
với hoạt động của các cơ quan nhà nước vừa tạo ra các điều kiện cho sự giám sát
của nhân dân, vừa ngăn chặn những can thiệp thái quá có thể gây trở ngại, ách tắc
cho hoạt động của các cơ quan công quyền.
9. Thay đổi nhận thức của người dân về tham nhũng, vai trò
của họ trong phòng chống tham nhũng và tạo môi trường cho sự
thay đổi
Thay đổi nhận thức về tham nhũng và vai trò của nhân dân trong chống
tham nhũng

dân phát huy vai trò của mình thì giáo dục, tuyên truyền nâng cao trình độ pháp
lý, văn hoá dân chủ cho người dân là một biện pháp quan trọng để tạo môi trường
cho sự thay đổi.
Tạo dựng các yếu tố môi trường cho sự thay đổi
- Nâng cao trình độ dân trí
Việc nâng cao trình độ dân trí, cùng với nó là sự phát triển của trình độ
pháp lý, văn hóa dân chủ là một giải pháp quan trọng, có tính chất liên tục và tác
dụng trong dài hạn.
Từ thời cổ đại Aristotle đã nhấn mạnh, một trong những chức năng quan
trọng của nhà nước là giáo dục phẩm hạnh công dân. Mục tiêu của nhà nước là
làm cho con người sống trong xã hội được sống tốt hơn. Muốn vậy, nhà nước
phải giáo dục cho công dân từ ý thức về sự bình đẳng, về công lý, đến nghĩa vụ
và trách nhiệm của mỗi công dân đối với nhà nước, với cộng đồng. Sau này đến
Rousseau, John Mill, Mác,… đã tiếp tục phát triển và nhấn mạnh yêu cầu này đối
với xã hội dân chủ.
13


Đối với nước ta, nền kinh tế vốn chủ yếu là sản xuất nông nghiệp với tập
quán canh tác tự cung, tự cấp kéo dài, lại sinh hoạt trong một không gian hẹp, khá
khép kín là làng xã. Tập quán và tư duy tiểu nông còn ăn sâu trong suy nghĩ,
trong hoạt động và ứng xử hàng ngày của đông đảo nhân dân. Tác động tiêu cực
của nó thể hiện hàng ngày trong đời sống chính tri, xã hội. Đó là sự thờ ơ, không
cần biết đến luật pháp và không có ý thức tôn trọng luật pháp; không có tinh thần
hợp tác, ý thức vì cái chung, vì cộng đồng, tập thể; cách ứng xử và quan hệ trong
xã hội thiên về cảm tính, thiếu tính duy lý, thiển cận,… Trong khi đó, nền giáo
dục của chúng ta thường nhấn mạnh đến truyền đạt tri thức khoa học, văn hóa,
đạo đức xã hội mà chưa quan tâm đúng mức đến giáo dục đạo đức công dân.
Phần lớn chúng ta thiếu kỹ năng sống và làm việc tập thể, vừa không biết hợp tác,
vừa không biết phát huy cái tôi của mình.

11. Nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm của nhà nước
Minh bạch hoá các hoạt động của nhà nước là việc làm cho các hoạt động
của nhà nước phải đảm bảo tính rõ ràng, công khai, phù hợp với thực tiễn và pháp
lý. Chẳng hạn, việc ban hành quyết định cũng như trình tự lập pháp phải dựa trên
những nguyên tắc và thủ tục được xác định trước, Những nguyên tắc và thủ tục
đó là không thể bị sửa đổi giữa cuộc chơi. Một trong những nguyên tắc cơ bản
của việc ban hành quyết định là bảo đảm tính hợp pháp và tính hợp lý.
Minh bạch còn có nghĩa các chính sách, quyết định của đảng và nhà nước phải
thống nhất, rõ ràng, dễ hiểu. Tránh tình trạng chính sách, luật có thể hiểu và thực thi
theo nhiều cách. Vừa làm yếu hiệu lực của chính sách vừa dễ bị lạm dụng.
Tính minh bạch còn ở thể hiện ở việc người dân có quyền tiếp cận các
thông tư cũng như các tư liệu và số liệu là cơ sở cho việc quyết định.
Công khai tài sản của tất cả các quan chức, kể cả quan chức cao cấp là cần
thiết. Nếu như việc công khai tài sản của cán bộ nhà nước không được đặt ra như một
yêu cầu thì điều đó cho thấy chúng ta thiếu ý chí chính trị, thiếu cam kết và tinh thần
trách nhiệm trong việc tăng cường tính minh bạch, chống tham nhũng.
Tăng cường năng lực kiểm soát việc giao dịch, trao đổi, thanh toán hàng
hoá của toàn xã hội. Kết quả của tham nhũng dù biến tướng thế nào cũng là của

15


cải vật chất. Vì thế khi không kiểm soát được nguồn gốc của cải vật chất của xã
hội khó lòng phát hiện được tham nhũng.
- Tách biệt lĩnh vực chính trị (đại diện lợi ích) với lĩnh vực hành chính
(mang tính kỹ thuật, chuyên môn). Trên cơ sở tách biệt đó, chúng ta sẽ phân loại
được cán bộ chính trị theo chế độ bầu cử và công chức hành chính theo chế độ bổ
nhiệm. Cơ chế kiểm soát và các hình thức chịu trách nhiệm của các loại cán bộ
này được hình thành rõ ràng và minh bạch theo những cách thức khác nhau.
- Phải có sự đồng thuận ngày càng cao của những nhà họach định chính

biểu quốc hội; thẩm phán phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về các phán quyết của
mình bên cạnh tinh thần trách nhiệm, sự cảnh giác của phương tiện truyền thông
và xã hội.
- Viện kiểm sát không nên kiêm chức năng kiểm sát xét xử. Viện kiểm sát
vừa là chủ thể buộc tội, một bên của tố tụng, lại vừa đứng ra kiểm sát việc xét xử
là không hợp lý. Khi Viện kiểm sát không còn chức năng kiểm sát xét xử mà chỉ
thực hiện chức năng công tố. Viện kiểm sát nên đổi tên thành Viện công tố trực
thuộc Chính phủ. Như vậy, sẽ đảm bảo được tính công bằng, khách quan của quá
trình tranh tụng, tính độc lập của thẩm phán trong xét xử.
- Đổi mới và thúc đẩy hoạt động của toà án hành chính. Hoàn thiện những
quy định pháp luật liên quan bằng cách cụ thể hoá các quy định của pháp luật tố
tụng hành chính. Giai đoạn tiền tố tụng hành chính không nên bắt buộc đối với tất
cả các vụ kiện. Mặt khác, kiện toàn cách thức tổ chức của toà hành chính theo
hướng tách rời khỏi cơ cấu lãnh thổ hành chính nhất định; tạo ra những thiết chế
khác để đảm bảo tính độc lập của thẩm phán hành chính như chế độ bổ nhiệm
thẩm phán dài hạn, lương, phụ cấp cho thẩm phán hành chính. Nâng cao trình độ
chuyên môn của đội ngũ thẩm phán thông qua đào tạo, bằng những khuyến khích
vật chất khác. Đồng thời, tăng cường tuyên truyền, giáo dục, bằng những vụ việc
điển hình được xét xử và truyền hình trực tiếp trên các phương tiện truyền thông,
giúp cho người dân thay đổi quan niệm, định kiến của mình đối với tòa án này.
Từ đó nhân dân sẽ có những động thái tích cực hơn trong các công việc có quan
hệ tới chính quyền, tòa án.

17




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status