MỤC LỤC
Trang
1
1
2
4
4
5
5
I. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
5. Đóng góp của khóa luận
6. Kết cấu của khóa luận
II. NỘI DUNG
Chương 1: Thực chất của nhận thức luận trong triết học I.Cantơ 6
1.1. Những vấn đề nhận thức luận trong triết học I.Cantơ
6
1.2. Nội dung cơ bản của nhận thức luận trong triết học I.Cantơ
15
1.3. Chương 2: Vai trò của nhận thức luận trong triết học I.Cantơ
33
II.1. Vị trí của nhận thức luận trong triết học I.Cantơ
33
II.2. Ảnh hưởng của nhận thức luận trong hệ thống triết học I.Cantơ 35
II.3. Ảnh hưởng của nhận thức luận của I.Cantơ đối với sự phát triển
triết học nói chung
71
nhận thức. I.Cantơ cho rằng: “Không có cảm tính, con người không thể tư
duy, tư tưởng thiếu nội dung thì trống rỗng, trực quan thiếu khái niệm thì
mù quáng”.
Nghiên cứu tư tưởng của I.Cantơ nói chung và nhận thức luận của
ông nói riêng là công việc hết sức khó khăn nhưng lại là thường xuyên của
những người làm công tác triết học. Đối với sinh viên ngành triết học thì
đây là một đòi hỏi không chỉ giúp cho chúng ta nắm được nội dung của vấn
đề nhận thức mà còn làm sáng tỏ vai trò của nhận thức về những cống hiến
và hạn chế của I.Cantơ trong lịch sử tư tưởng của nhân loại. Hơn nữa, thời
đại ngày nay “nhận thức luận” đang được xem là vấn đề cốt yếu trong tư
tưởng nhân loại. Do vậy, việc nghiên cứu vấn đề này trong triết học I.Cantơ
có thể góp phần làm sáng tỏ một số khía cạnh nhất định mà giới nghiên cứu
đang quan tâm.
2
Xuất phát từ những lý do trên, tôi quyết định chọn vấn đề Thực chất
và vai trò của nhận thức luận trong triết học I.Cantơ làm đề tài khóa luận
tốt nghiệp cử nhân ngành triết học.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Hơn hai thế kỷ trôi qua, kể từ ngày I.Cantơ – người sáng lập ra nền
triết học cổ điển Đức qua đời, lịch sử đã có nhiều biến động, nhân loại đã
nhìn nhận, đánh gìá ông dưới nhiều gốc độ khác nhau. Rất nhiều công trình
nghiên cứu về I.Cantơ trong đó có triết học lý luận, triết học thực tiễn và
triết học thẫm mỹ của ông, khai thác chưa nhiều. Nhìn chung, tài liệu được
dịch ra tiếng Việt có các công trình sau:
- Hội thảo khoa học triết học cổ điển Đức: Nhận thức luận và đạo
đức học, tham luận của các học giả nước ngoài, Hà Nội 2003.
- Hội thảo khoa học triết học cổ điển Đức: Những vấn đề nhận thức
ý nghĩa của triết học I.Cantơ.
- Trần Thái Đỉnh (2005) Triết học Kant: Cuốn sách này ra đời nhằm
giúp ban đọc hiểu Kant, sau bao nhiêu lần triết học đứng trước tình hình
không hẳn là khủng hoảng, nhưng không còn là hướng đi mãnh liệt như hồi
phong trào Hiện sinh (những năm 40 và 50) và phong trào cơ cấu (những
năm 60 và 70). “Vậy phải bắt đầu lại từ đâu? Phải bắt đầu lại với Kant. Tại
sao bắt đầu lại từ đầu là bắt đầu lại với Kant. Chúng ta có ba lần bắt đầu
trong lịch sử triết học, nhưng chỉ với Kant, triết học mới thật sự đi vào đúng
hướng của nó. Nhưng sao Kant lại nói khó hiểu thế? Sao người ta hiểu Kant
sai thế? Người ta nói muốn hiểu một cuốn sách khó, cần phải đọc ngược lại,
“có thể đọc xuôi và đọc ngược”. Đối với Kant cũng thế, cũng vì triết của
Kant quá mới mẻ ,đối với nhiều tác giả cũng đã bị nạn “cây to che khuất cả
rừng” họ vấp phải cuốn phê phán lý tính thuần túy, họ dừng lại ở đó và
dường như coi đó là tất cả của triết học Kant. Ngày nay, sau những nghiên
cứu mới đây của nhiều triết gia và học giả, người ta đồng ý nhau về những
điểm mà xưa kia không thể có sự đồng ý.
- Trịnh Đình Bảy (1998), “Vấn đề niềm tin trong triết học I.Cantơ”,
Tạp chí triết học, số 1 tháng 2 – 1998. Tác giả bàn về vấn đề cơ bản khái
niệm “triết học” của I.Cantơ chứa đựng trong ba tác phẩm “phê phán” nổi
tiếng của ông: nổi bật lên ở khái niệm đó là nội dung nhận thức luận của nó.
Tuy nhiên, theo ông nội dung của nhận thức luận không bao hàm hết nội
dung của triết học, triết học phải dạy cho con người sống như thế nào để trở
thành con người. I.Cantơ viết: “Muốn tồn tại một khoa học thật sự cần thiết
cho con người thì đó là khoa học …, từ đó có thể học được cái điều mà ai
cũng phải học để làm người. Từ đó, ông đò hỏi triết học phải có nhiệm vụ
vượt ra ngoài khuôn khổ hoạt động nhận thức, vì nhận thức không phải là
mục đích tự nó, mà phải phục vụ mục đích nhân đạo, vì con người.
- Phạm Minh Lăng (1996), “Cái tiên nghiệm trong triết học I.Cantơ”,
Tạp chí triết học, số 2, tháng 4 – 1996.
- Lê Công Sự (1998), “Quan niệm về “vật tự nó” của I.Cantơ và sự
5
Chương 1
THỰC CHẤT CỦA NHẬN THỨC LUẬN TRONG TRIẾT HỌC I.CANTƠ
1.1. Những vấn đề của nhận thức luận trong triết học I.Cantơ
Triết học I.Cantơ có một vị trí đặc biệt trong lịch sử triết học thế giới .
ông là người mở đầu cho một thời kỳ phát triễn rưc rỡ của triết học. Triểt
học của I.Cantơ coi nó là một trong ba nguồn gốc hình thành chủ nghĩa
Mác: “Triết học cổ điển Đức là giai đoạn phát triển mới về chất trong lịch sử
tư tưởng Tây Âu và thế giới – nó ảnh hưởng to lớn đến triết học hiện đại.
Tư tưởng triết học cơ bản của I.Cantơ ở hai thời kỳ tiền phê phán và
phê phán. Ở thời kỳ tiền phê phán, I.Cantơ chủ yếu tập trung vào triết học tự
nhiên. Chịu ảnh hưởng của các thành tựu khoa học tự nhiên, I.Cantơ thể
hiện “như một nhà duy vật khoa học tự nhiên” ông đã đưa ra những dự đoán
khoa học có giá trị, đặc biệt là giả thuyết nguồn gốc vũ trụ luận” – nó đem
lại một cách nhìn phát triển lịch sử về thế giới. Ở thời kỳ phê phán I.Cantơ
chú ý tới những vấn đề xã hội. Chính sự định hướng vào con người đã đưa
I.Cantơ tới chổ đặt ra và giải quyết hàng loạt vấn đề mà căn bản đã cho phép
người ta gọi triết học của ông là “cuộc cách mạng Copecnich trong lịch sử
triết học loài người”.
1.1.1. Vấn đề tri thức
I.Cantơ được coi là người đầu tiên trong lịch sử loài người nghiên cứu
về tri thức con người. Tri thức con người thuộc loại tri thức nào? Con người
có thể tri thức những gì? Và không tri thức những gì? I.Cantơ cho rằng tri
thức của con người là do nhận thức của con người mang lại, kết quả nhận
thức của con người về thế giới. Với I.Cantơ thì tri thức là một thể thống nhất
có 2 mặt:
Mặt thứ nhất, để có tri thức trước hết có những quan niệm, khuôn
thức.
Đối tượng của nhận thức là bản thân thế giới nhưng đây là thế giới tri
thức con người khác với thế giới nói chung. Vào lúc không có con người thì
thế giới đã có rồi. “Thế giới chung” và khi con người đã có thì thế giới cũng
đã có rồi.
Đối tượng nhận thức là thế giới hiện ra của con người chứ không phải
là thế giới chung mà thế giới bằng những năng lực của con người làm cho thế
giới hiện ra.
Ví dụ: Con mắt tôi nhìn một gốc 120°, còn hai bên còn có 20° nữa là
hai gốc mờ, thế phía sau còn có 120° nữa người ta không nhìn được là hai
phần tối nữa. Vậy thì thế giới đó diễn ra thuộc vào năng lực, khả năng cách
nhìn của con người và thế giới thôi. Khả năng con người phản ánh thế giới.
Đó là một phần của thế giới hiện ra trước con người chứ không phải tất cả
của thế giới nói chung. Tôi nhận thức ở đây chỉ là một phần của thế giới
hiện ra, ta có thể nhận thức được, nhưng ta có thể nói rằng trong một lúc
người ta có thể nhìn một cách toàn diện. Trong cách nhìn ấy thì thế iìới có
hai phần.
Phần thế giới hiện ra trước con người, “thế giới hiện tượng” thế giới
này chỉ tồn tại phụ thuộc vào năng lực của con người.
Phần thế giới vật tự nó, I.Cantơ cho rằng thế giới nói chung, nguyên
là vật tự nó, thế giới này không phụ thuộc vào con người, không do con
7
người mà có, nhưng thế giới này tác vào giác quan con người thì lúc này thế
giới này xuất hiện, thế giới hiện tượng nó được sinh ra “tự nó – và sự tồn tại
của giác quan con người”, nhưng thực ra chỉ nhận thức được thế giới thông
qua nhận thức con người mà thôi.
Theo I.Cantơ, thế giới hiện tượng là thế giới hữu hình, hữu hạn, có
giới hạn của nó về mặt không gian và thời gian. Đây là thế giới tuân theo
với hai đặc tính phổ quát và tất yếu. Tri thức này là tri thức về quy luật, tính
liên hệ tất yếu, nhân quả nên nó tất yếu.
8
Lý năng: đây không phải là năng lực tri thức mà đây là năng lực đem
lại cho con người những ý tưởng, cái tuyệt đối, không phải là cái hữu hình
nằm ngoài quy luật, cái tuyệt đối chính là vật tự nó, tuyệt đối siêu nghiệm,
đó là những ý niệm siêu nghiệm. Đối với I.Cantơ những ý niệm về tuyệt đối
thì chỉ là những ước vọng của con người về cái tuyệt đối, cho nên nó không
cho con người ta bất kì một hiểu biết nào, không cung cấp hiểu biết nào.
1.1.4 Quá trình nhận thức
Con người ta có tri thức là nhờ vào hoạt động của năng lực nhận thức,
nhưng có hay không là nhờ vào quá trình nhận thức đó là quá trình thực
hiện, triển khai phát huy năng lực này thì mới có tri thức. Còn có năng lực
nhận thức nhưng chưa có thể phát huy được năng lực ấy.
Từ đó cho rằng năng lực phát sinh ra quá trình nhận thức, chủ thể
nhận thức năng lực của mình,mọi tri thức con người không do kinh nghiệm
nhưng nó lại đi liền với kinh nghiệm.
Quá trình hoạt động của cảm năng bằng cảm tính, kết quả của tri thức
kinh nghiệm cảm tính đó là tri thức không gian và thời gian.
Để tạo ra tri thức không gian, thời gian phải làm những gì? Nếu tôi
biết được trật tự các sự vật xuất hiện trong không gian thì tri thức ấy gọi là
tri thức thời gian, nó phản ánh không gian, thời gian của sự vật. Tri thức đó
cách thừa nhận giửa Mác và I.Cantơ là giống nhau.
Đối tượng ban đầu thể hiện ra trước mắt con người dưới dạng những
cảm giác mờ mờ mịt mịt, không có khuôn hình, không có trật tự, tức là cảm
giác không phản ánh được không gian của sự vật và không phản ánh được
thời gian của sự vật. Nên những cảm giác đó chưa phải là tri thức, chưa có
trật tự nhưng khi cảm năng hoạt động thì nó vốn có một bộ máy tiên thiên
con người.
Thế giới ban đầu xuất hiện là “vật tự nó” không thuộc vào ai cả, vậy
làm như thế nào để biết được thế giới bằng không gian và thời gian. Thì khi
đó thế giới được phản ánh thông qua bộ công cụ phụ thuộc vào cảm năng
của con người. Khi con người ta có cảm năng thì con người đã có bộ công
cụ cảm năng ấy rồi. Thế khi đứng trước thế giới thì những cảm giác đó
không có không gian và thời gian thì bộ cảm giác đó chưa cho ta biết gì cả.
Khi đưa quan niệm không gian, thời gian vào cảm giác “có khuôn hình” quá
trình cảm tính. I.Cantơ đúng ở chỗ nào? Đó là những năng lực nhận thức,
các cảm giác, tri thức phải có khuôn hình và nội dung, những tri thức mà
kinh nghiệm cảm tính là những tri thức khuôn hình có trật tự, I.Cantơ sai ở
chỗ khi thừa nhận không gian-thời gian thuộc về chủ thể “không cần nhận
thức mà có” mà nó có sẵn.
Quá trình họat động của trí năng gọi là giác tính kết quả là tri thức
khoa học có tính phổ quát, tất yếu thuộc về quy luật tất yếu nhân quả.
Vậy bằng cách nào trí năng sản sinh ra. Bản thân trí năng đã có sẵn
một bộ công cụ tiên thiên “những phạm trù tiên nghiệm” có trước kinh
nghiệm, không được sinh ra từ kinh nghiệm.
Phạm trù tiên thiên này làm cơ sở; chất lượng;số lượng;tương quan;trí
thức. Với những phạm trù của tính năng, bộ công cụ này chưa phải là trí
thức những phạm trú, những khuôn hình trống rỗng chưa có nội dung.
10
Ví dụ: khi nói rằng một kiến trúc sư vẽ ra bản vẽ về ngôi nhà nhưng
chưa trở thành ngôi nhà vì chưa có vật liệu.
Ngay trong phạm trù tiên thiên có tính phổ quát và tính tất yếu “trong
bản thân sự vật rồi” khi giác tính áp dụng các phạm trù và những tri thức
kinh nghiệm cảm tính thì những tri thức kinh nghiệm cảm tính trở thành
trong giới hạn không gian và thời gian. Khi anh có thể đưa lý năng vươn
11
vượt qua cái không gian và thời gian đó “có nghĩa là vũ trụ này không có
không gian và thời gian”.
Lý năng hướng tới cái tuyệt đối ở trong ta, nhưng vượt hết thảy mọi
cảm giác khách thể “thì đạt đến linh hồn bất tử”. Ta không bao giờ có một
cuộc sống kinh nghiệm vũ trụ vô hạn cả, mà chỉ có một vũ trụ kinh nghiệm
của một vũ trụ giới hạn mà thôi. Thế thì linh hồn là cái gì? Có thấy được
không? Anh có quan niệm về linh hồn bất tử là linh hồn không có giới hạn
về thời gian “linh hồn bất tử anh chỉ có ý niệm mà thôi” , tôi có linh hồn bất
tử nhưng tôi không chứng minh được, vì chứng minh nó thì tôi phải có tri
thức!
Cái tuyệt đối cả trong ta và ngoài ta, khi lý năng hướng đến cái trong
ta và ngoài ta, khi vươn vượt mọi quan hệ nhận quả thì có nguyên nhân nào
đó, bản thân nó là kết quả nào đó.
Vật tự nó chính là vũ trụ vô hạn, linh hồn bất tử và chúa trời. I.Cantơ
cho rằng con người có ý niệm về vật tự nó nhưng lý tính một mặt chỉ đem
lại cho người ta cái tuyệt đối, mà lý tính còn có sự ham muốn hiểu biết về
cái tuyệt đối.
Lý tính tạo ra cái mường tượng mà nó còn có sự ham muốn về sự có
tri thức về cái tuyệt đối nhưng không chỉ ước vọng như thế mà muốn thực
hiện nó nên nó muốn thực hiện ham muốn này thì phải tìm kiếm công cụ,
nhưng công cụ đã có sẵn đâu? Do vậy nên phải mượn lại bộ công cụ của các
phạm trù lí năng “công cụ không phải để nhận thức cái tuyệt đối” mà để
nhận thức hiện tượng thôi “không phải là công cụ để nhận thức cái tự nó
được”. Ở đây, nó nảy sinh mâu thuẩn, vấp phải những Antromia “những
mâu thuẩn của lý tính”. Do chổ những công cụ này không phù hợp ấy, do
I.Cantơ xuất phát từ lập trường nhất nguyên nhưng lại rơi vào nhị
nguyên, ở chổ thế giới theo I.Cantơ vừa là thế giới hình tượng vừa là vật tự
nó. Nhị nguyên ở công cụ nhận thức, ở nguồn gốc tri thức, ở tính bất khả tri.
Vì I.Cantơ nói tôi mượng tượng được chúa trời là có, là tồn tại nhưng tôi
không chứng minh được, nên ông mới bác bỏ hết các lý thuyết trước đây về
sự tồn tại của chúa trời. Vì bất khả tri mà ông đã biết được những cái mà
người khác không biết được. Với I.Cantơ chỉ mường tượng, ông không thể
chứng minh được nó. Từ quan niệm của I.Cantơ chúng ta hiểu gì? Và có
nhận xét gì ở đây.
Quan niệm của Hêghen khi đánh gìá về I.Cantơ: Hêghen khi đưa ra
quan niệm về “vật tự nó” thì quả nhiên bao chứa trong đó vật tự nó không
thể nhận thức được vật tự nó. Vì sao? Là vì vật tự nó ở ngoài không gian và
thời gian, vật tự nó nằm ngoài quan hệ nhân quả, vật tự nó không có quy luật thì
làm gì mà tìm quy luât.
Hêghen nhận xét rằng: không có vật tự nó kể cả tinh thần của ta đều
nằm trong không gian và thời gian, tuân theo quy luật không gian mà mọi
người hiểu chỉ là một không gian có hình hài cụ thể. Nhưng có những không
gian không có hình hài cụ thể “siêu hình” có hình hài nhưng không cụ thể.
Con người chỉ nhận thức được hiện tượng chứ không nhận thức được
vật tự nó. I.Cantơ hy vọng con nguời ta đạt đến tự do, đến vật tự nó có điều
không bằng con đường nhận thức.
1.2. Nội dung cơ bản của nhận thức luận trong triết học I.Cantơ
I.Cantơ là nhà triết học vĩ đại của thời cận đại, là người mở đầu cho
triết học cổ điển Đức-một trong những cội nguồn của triết học Mácxít. Lý
luận nhận thức chiếm một vai trò quan trọng trong hệ thống triết học
13
I.Cantơ, chính ở đó ông đã có nhiều cống hiến, đã đặt ra nhiều vấn đề mà
cho đến tận ngày nay chúng ta vẫn cần phải trở lại nghiên cứu. Một trong
hóa vấn đề này thành ba nội dung riêng biệt: khả năng của toán học? Khả
năng của vật lý học (khoa học tự nhiên) và khả năng của siêu hình học (triết
học)? [14; 300].
Với ba lĩnh vực này, I.Cantơ đã nêu ra ba định hướng quan niệm khác
nhau về khả năng của chúng. I.Cantơ tin tưởng sâu sắc vào tính chất khoa
14
học của toán học và các khoa học tự nhiên. Ông tìm cách giải thích tính
khoa học của khoa học đó trong sự chi phối và quy định của tư duy kinh
nghiệm và nhận thức ở trình độ kinh nghiệm. Nhưng với siêu hình học, tức
là với triết học thì I.Cantơ đã đặt ra câu hỏi liệu siêu hình học nói chung có
khả năng tồn tại như là khoa học hay không? Và ông đã trả lời phủ định với
câu hỏi này. I.Cantơ viết “Siêu hình học từ trước tới giờ luôn ở trong tình
trạng bấp bênh không đáng tin cậy và mâu thuẫn chỉ bởi một nguyên do là
nhiệm vụ (xác định khả năng của tri thức khoa học) và thậm chí cả việc tìm
ra sự khác biệt giữa các suy lý phân thích và tổng hợp cũng vẫn chưa được
bàn đến....”.
I.Cantơ cho rằng, tính xác thực của tri thức khoa học nghĩa là có thể
tin cậy được và đó chỉ có thể tri thức khách quan, tức là mang tính khách
quan. Tính khách quan ở đây mang tính đồng nhất với tính phổ quát và tất
yếu. Do vậy tri thức muốn đạt tới sự xác thực thì nó cần phải đạt tới trình độ
tất yếu và phổ quát, có gìá trị chung mang tính phổ biến.
Về tính khách quan của tri thức, theo I.Cantơ được quy định bởi cấu
trúc của chủ thể siêu nghiệm, bởi những thuộc tính và phẩm chất siêu cá
nhân của chủ thể nhận thức. I.Cantơ lý giải, mỗi chủ thể đang nhận thức,
trong bản tính của mình, luôn vốn có một trình độ nhất định của nhận thức
thiên bẩm (tiền kinh nghiệm), điều này đã được I.Cantơ phân tích kỹ thông
qua các khái niệm không gian, thời gian.v.v...mà ông coi là những hình thức
chủ quan tiền kinh nghiệm của nhận thức cảm tính. . I.Cantơ phân biệt,
Khi nói về sự khác nhau giữa trực quan tiên nghiệm thuần túy với
trực quan kinh nghiêm. Và theo I.Cantơ “trực quan thuần túy nằm trong cơ
sở của trực quan kinh nghiệm, và vì vậy tự chúng không bao giờ có thể bị
loại bỏ, nhưng vì chúng là những trực quan thuần túy và điều đó đã chứng
minh rằng chúng thực chất chỉ là những hình thức của giác tính chúng ta.
Những hình thức trước đó có bất kì trực quan kinh nghiệm nào, có nghĩa là
nó có trước tri giác về các sự vật thực [14; 325].
I.Cantơ cho rằng, sở dĩ toán học thuần túy có thể có được chỉ vì rằng:
“nó có quan hệ đặc biệt với các đối tượng cảm tính mà trực quan kinh
nghiệm về chúng dựa trên trực quan kinh nghiệm thuần túy (về không gian,
thời gian) và hơn nữa nó có thể xây dựng dựa trên trực quan thuần túy như
vậy vì rằng trực quan đó chỉ là hình thức của giác tính – hình thức có trước
hiện thực của các sự vật...”.
Khái niệm “tiên nghiệm” được nhắc lại nhiều lần trong tác phẩm: có
nghĩa là tiên nghiệm có trước kinh nghiệm, nó không vượt ra khỏi khuôn
khổ kinh nghiệm, không vượt cao hơn kinh nghiệm. Nhưng tiên nghiệm lại
được áp dụng với kinh nghiệm (cảm tính) làm cho kinh nghiệm có thể có
được gìống như phương pháp, cách thức hệ thông hóa tri thức kinh nghiệm
thành tri thức khoa học.
I.Cantơ khẳng định rằng: mọi nhận thức đều bắt đầu từ kinh nghiệm
(cảm tính). Nhưng, cho dù toàn bộ nhận thức của con người được bắt đầu từ
kinh nghiệm, thì điều đó không hoàn toàn không có nghĩa là tri thức được
sinh ra hoàn toàn từ kinh nghiệm. Có nghĩa ngoài các thông số kinh nghiệm
do các quan cảm giác đem lại thì có tồn tại chăng loại nhận thức phụ thuộc
vào kinh nghiệm và thậm chí vào các ấn tượng do cảm giác đem lại. Tri thức
16
loại đó theo I.Cantơ là tri thức tiên nghiệm và nó khác với tri thức kinh
nghiệm.
một cách apriori chỉ bằng cách nhờ vào hình thức trực quan cảm tính, mà
trong đó chúng ta có thể nhận thức đối tượng chỉ như là nó hiện ra cho cảm
giác của chúng ta, mà không phải như nó vốn có. Các hình thức giác tính đó
là không gian và thời gian – đối tượng của những trực quan mà toán học
17
thuần túy đưa vào các phán đoán của mình. Vì đó là những phán đoán đúng
một cách tất yếu [14; 328].
Theo I.Cantơ, không gian và thời gian như là cơ sở của toán học và
khoa học tự nhiên thuần túy “không thể là các tính chất của các sự vật như
nó vốn có, mà chỉ là các hình thức của giác tính chúng ta... tất cả các sự vật
trong không gian thực chất chỉ là các hiện tượng, có nghĩa là không phải sự
vật như nó vốn có, mà chỉ là những biểu tượng trực quan cảm tính của
chúng ta” 1, tính khách quan của không gian, thời gian có được không phải
do chúng ta tồn tại ngoài và độc lập với ý thức chúng ta, mà do chúng có
tính phổ biến và tất yếu [14; 329].
Để trả lời cho câu hỏi: khoa học tự nhiên thuần túy có thể có được
bằng cách nào, trước hết I.Cantơ xác định rằng chúng ta quả thực đã chiếm
lĩnh được khoa học tự nhiên thuần túy, khoa học đó cho chúng ta biết về các
quy luật điều khiển giới tự nhiên. Mà ở đây được I.Cantơ đồng nhất với toàn
bộ các đối tượng của kinh nghiệm có thể có. I.Cantơ viết: “nhưng ở đây
chúng ta không thể nói đến các sự vật như nó vốn có (chúng tôi gạt chúng
sang một bên cùng với tất cả các tính chất của chúng) mà chỉ nói đến các sự
vật như là các đối tượng của kinh nghiệm có thể có, và tổng thể của tất cả
các đối tượng này là cái mà chúng ta ở đây gọi là giới tự nhiên” [14; 330].
Vấn đề về khả năng của nhận thức kinh nghiệm (kinh nghiệm khoa
học) đối với tự nhiên này, làm thế nào có thể nhận thức quy luật tất yếu của
các sự vật như là đối tượng của kinh nghiệm một cách Apriori? Ở đây giới
chứ không phải là bản thân “vật tự nó”. Về nguyên tắc theo . I.Cantơ thì tri
thức không phản ánh được “vật tự nó” và chỉ phản ánh được hiện tượng do
“vật tự nó” sinh ra [14; 336].
Sự lĩnh hội của ta về cái đa tạp của hiện tượng bao giờ cũng có tính
tiếp diễn. Những biểu tượng về các bộ phận tiếp diễn nhau trật tự. Nhưng
liệu chúng có tiếp diển nhau ở bên trong đối tượng hay không là điểm thứ
hai cần phải suy nghĩ vì điểm thứ nhất. Sự lĩnh hội chưa chứa đựng sẵn điều
này. Tất nhiên người ta có thể gọi tất cả, kể cả từng biểu tượng hay chừng
mực ta có ý thức về nó,là đối tượng “đối tượng” này có ý nghĩa là gì? nơi
những hiện tượng-không phải trong trong chừng mực nó là những đối tượng
(như là những biểu tượng) mà chỉ biểu thị (bản thân) một đối tượng. Vậy
trong chừng mực chúng chỉ như là những biểu tượng – đồng thời là những
đối tượng của ý thức, chúng không có gì khác biệt với sự lĩnh hội, tức là sự
tiếp thu vào trong sự tổng hợp của trí tưởng tượng, và như vậy phải nói rằng
“cái đa tạp của những hiện tượng luôn luôn được tạo ra một cách tiếp diễn
trong tâm thức ta”. Còn nếu những hiện tượng là những vật tự thân, chắc
chắn không ai có thể - từ sự tiếp diễn của những biểu tượng và cái đa tạp
(trong tâm thức) – lượng đoán chúng được nối kết với nhau như thế nào
trong đối tượng (vật – tự - thân). Bởi vì, ta chỉ làm việc với những biểu
tượng của ta thôi, còn vật tự thân như thế nào (không xét đến những biểu
tượng qua đó chúng tác động vào ta) là hoàn toàn nằm ngoài phạm vi nhận
thức của ta. Thế thì mặc dù những hiện tượng không phải là những vật tự
thân nhưng lại là cái duy nhất có thể mang lại cho ta để trở thanh nhận thức.
Vậy thì, ở đây loại kết nối nào trong thời gian thuộc về cái đa tạp nơi bản
19
thân của những hiện tượng, trong khi biểu tượng về cái đa tạp này trong sự
lĩnh hội bao giờ cũng có tính tiếp diễn. Ví dụ: sự lĩnh hội về cái đa tạp trong
hiện tượng một ngôi nhà đang đứng trước mắt tôi là có tính tiếp diễn (tôi có
nó sẽ chỉ ra khả năng làm thế nào để áp dụng các khái niệm thuần túy của
giác tính vào những hiện tượng nói chung”. Nó có nghĩa tìm ra các khởi
điểm để từ đó tiến lên nắm được cái chung bản chất và cuối cùng nắm được
20
toàn bộ đối tượng. Theo I.Cantơ cho rằng: con đường tổng hợp là quá trình
diễn ra theo nguyên tắc nhân quả, tiến dần từ yếu tố khởi điểm ấy đến chổ
đạt được cái thống nhất, cái chỉnh thể. Theo I.Cantơ tổng hợp là năng lực
riêng của lý tính, một quá trình không có nguồn gốc hiện thực. Mà đây là
quá trình lý tính tự triển khai, tự đặt sự thống nhất của các khái niệm, các
biểu tượng bên trong nó. Chính năng lực này đưa lại khả năng nhận thức
được sự thống nhất của cái đa dạng của các đối tượng kinh nghiệm (hiện
thực) [14; 103 – 104].
Song I.Cantơ còn giải thích, làm thế nào chủ thể lại có thể nhận thức
cả đối tượng hiện thực, sau khi đã tạo ra trong tư duy siêu nghiệm khái niệm
tiên nghiệm về “đối tượng nói chung”. Thực vậy, vì “đối tượng nói chung”
được tạo ra bởi tư duy siêu nghiệm, tức là bởi cái gì đó thuần túy tư tưởng.
Trong khi đó đối tượng kinh nghiệm tồn tại hiện thực ngoài tư duy và các
khái niệm về nó: Điều này nói đến mối quan hệ giữa các đối tượng với “các
đối tượng nói chung”, thì trong triết học I.Cantơ mọi đối tượng chỉ tồn tại
như là đối tượng của ý thức, còn tất cả những gì nằm ngoài khuôn khổ ấy
đều được I.Cantơ coi là “vật tự nó”. Vì thế mọi đối tượng đối với I.Cantơ
đều là hiện tượng, tức là sản phẩm của ý thức con người. Vậy thì thế giới đó
diễn ra phụ thuộc vào năng lực, khả năng cách nhìn của con người về thế
giới thôi, khả năng con người phản ánh thế giới. Đó là một phần của thế giới
hiện ra trước con người chứ không phải tất cả (của thế giới nói chung). Bởi
vì thế giới nói chung, nguyên là vật tự nó thì thế giới này không lệ thuộc
vào con người, không do con người mà có, nhưng khi thế giới này tác vào
giác quan con người thì lúc này thế giới xuất hiện, thế giới hiện tượng nó
độ này lý trí đó chính là tư duy với hệ thống các khái niệm và các phạm trù
của mình đã thực hiện các phán đoán để xây dựng đối tượng nhận thức. Đối
tượng không phải là nguồn gốc của tri thức về nó dưới dạng các khái niệm,
phạm trù. Ngược lại, chính các hình thức của lý trí đã kiến tạo nên đối tượng
của nhận thức. Điều này còn là lý do giải thích tại sao con người chỉ có thể
hiểu được những gì do nó sáng tạo ra, tức hiểu được những gì nằm trong
phạm vi bao quát của hệ thống phạm trù tiên nghiệm vốn có của con người.
Vươn vượt ra khỏi giới hạn đó hiện thực thuộc về thế giới “vật tự nó”. Theo
I.Cantơ khái niệm, phạm trù cơ sở chỉ mang tính phổ quát và tất yếu, bởi vì
trước hết chúng không phụ thuộc vào ý thức cá nhân (được hình thành bởi
kinh nghiệm). Chúng chính là những hình thức siêu nghiệm của nhận thức.
Tri thức vì thế theo I.Cantơ luôn là cơ sở cho chính nó, có sẵn dưới dạng các
tri thức siêu nghiệm, nó được làm gìàu thêm, được phát triển thêm cũng nhờ
chính bản thân của tri thức kinh nghiệm và siêu nghiệm. Quá trình đó nằm
ngoài và không phụ thuộc vào ý thức cá nhân, cá thể. Do vậy I.Cantơ cho
rằng tri thức có tính khách quan.
Quan niệm của I.Cantơ, lý tính điều chỉnh tri giác của con người
trong suốt quá trình nhận thức, dẫn dắt tri giác vào khuôn khổ của các hình
thức tất yếu và phổ quát của nhận thức. Lý tính quy định tính khách quan
của tri thức, nhưng cái gì đã tạo ra khả năng đó của lý tính? Tại sao lý tính
lại có thể đưa tri giác vào các hình thức tiên nghiệm như vậy. Và cuối cùng
22
thì cái gì đã gắn kết các phạm trù và các khái niệm vào một chỉnh thể trong
hiện thực? Theo I.Cantơ: tất cả những thao tác đó là do đặc thù của chủ thể
quy định cơ sở sâu xa tạo nên sự thống nhất trong nhận thức luận mà nếu
thiếu sự thống nhất đó thì lý tính không thực hiện được chức năng của nó –
đó là hành vi tự nhận thức của chủ thể: cái tôi đang tư duy. I.Cantơ gọi hành
vi này là sự thống nhất siêu nghiệm của tri giác hay sự kết hợp của các tri
cứu chủ yếu của thần học tiên nghiệm. Khi lý tính muốn đi sâu tìm hiểu bản
chất của ba đối tượng này thì nó vấp phải những antinomi (luật tương phản
hay nghịch lý của nhận thức) mà vế chính đề được khái quát lên từ các quan
điểm duy tâm – thần học, còn vế phản đề, được khái quát lên từ các quan
điểm duy vật – vô thần. Cả hai vế antinomi tuy đối lập nhau nhưng nó có
căn cứ gìống nhau, chúng có thể cùng đúng hoặc cùng sai, chứ không phải
hoàn toàn phủ định nhau. Theo lý giải của I.Cantơ, các antinomi lý tính là
những mâu thuẩn phản ánh bản chất lý tính của con người khi muốn vươn
lên nhận thức những đối tượng tối cao tuyệt đối. Cơ sở để lý giải những mâu
thuẫn đó không phải là chủ nghĩa duy vật hay chủ nghĩa duy tâm, cũng
không phải chủ nghĩa kinh nghiệm hay chủ nghĩa duy lý, mà là chủ nghĩa
duy tâm tiên nghiệm, dựa trên phương pháp luận của thuyết bất khả tri, với
quan điểm nhìn nhận thế giới như một thế giới lưỡng phân. Thế giới hiện
tượng là thế giới của các sự vật, hiện tượng khả nghiệm, khả giác. Thế giới
vật tự nó là thế giới các sự vật, hiện tượng khả niệm, bất khả giác.
Vậy, linh hồn, vũ trụ, thượng đế ba đối tượng của siêu hình học, mà lý
tính – cấp độ cao nhất của nhận thức con người đã nhiều lần muốn vươn tới
nhưng gặp phải antinomi. Điều đó chứng tỏ rằng nhận thức con ngườ có
giới hạn và con người chỉ nhận thức được những gì nằm trong khuôn khổ
của thế giới hiện tượng, vượt ra ngoài thế giới đó là vương quốc của thế giới
vật tự nó. Đó là lời giải đáp cho câu hỏi: “Tôi có thể nhận biết được cái
gì?”[14; 314–315].
Theo I.Cantơ hiểu “vật tự nó” theo các cái nghĩa sau: thứ nhất, đó là
những hiện tượng (được I.Cantơ đồng nhất với các kinh nghiệm), mà chúng
ta chưa nhận thức được; thứ hai, đó là bản chất của mọi sự vật tồn tại bên
ngoài chúng ta, thuộc về lĩnh vực siêu nghiệm và về nguyên tắc chúng ta
không thể nhận thức được; thứ ba, “vật tự nó” là những lý tưởng, chuẩn
mực của mọi sự hoàn hảo tuyệt đối mà con người không thể đạt được, là
khác nhau, những cảm giác mờ mờ, không có khuôn hình, những cảm giác
đó chưa có trật tự, chưa có tri thức. Nhưng khi cảm năng hoạt động nhờ nó
vốn có một bộ công cụ tiên thiên (tiên nghiệm) bộ công cụ này được đưa
vào trong nhận thức là quá trình cảm tính đã ứng dụng bộ công cụ vào cảm
giác vô hình vô định làm cho các cảm giác được sắp xếp một cách có trình
tự trong không gian và thời gian của tri giác. Đối với I.Cantơ, không gian và
thời gian vốn không phải là hình thức tồn tại của các sự vật trong hiện thực
khách quan, mà là những hình thức tiên thiên bên ngoài và bên trong của
cảm tính. Những tri giác vẫn còn mang tính chủ quan và đơn lẻ. Để trở
thành kinh nghiệm có tính khách quan thì các tri giác cảm tính phải được
đưa vào trong các khái niệm. Vốn dĩ không gian và thời gian ấy vốn không
phải là hiện thực. Để có khuôn hình thì cần phải đưa không gian và thời gian
vào cảm giác để có khuôn hình và trật tự. Vậy không gian từ chủ thể mà ra
và thời gian từ chủ thể mà ra khi con người biết đưa công cụ tiên thiên vào
cảm giác.
Với những phạm trù của trí năng: chất lượng, số lượng, tương quan,
tri thức. Các phạm trù là những khái niệm của giác tính có trước kinh
25