BỘ QUỐC PHÒNG
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ
TRƯƠNG NHƯ THỦY
CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CỦA
CÁN BỘ TÒA ÁN NHÂN DÂN Ở CÁC QUẬN,
HUYỆN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
CHUYÊN NGÀNH: XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ CHÍNH QUYỀN NHÀ NƯỚC
MÃ SỐ: 60 31 02 03
HÀ NỘI - 2016
BỘ QUỐC PHÒNG
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ
TRƯƠNG NHƯ THỦY
CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CỦA
CÁN BỘ TÒA ÁN NHÂN DÂN Ở CÁC QUẬN,
HUYỆN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
CHUYÊN NGÀNH: XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ CHÍNH QUYỀN NHÀ NƯỚC
MÃ SỐ: 60 31 02 03
HƯỚNG DẪN LUẬN VĂN: TS NGUYỄN DUY HẠNH
HÀ NỘI - 2016
TSVM
Xã hội chủ nghĩa
XHCN
Uỷ ban nhân dân
UBND
Giáo dục pháp luật
Gdpl
Đảng Cộng sản Việt Nam
ĐCSVN
Tư tưởng Hồ Chí Minh
TTHCM
Thành phố Hồ Chí Minh
TPHCM
Danh mục tài liệu tham khảo
DMTLTK
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
CỦA CÁN BỘ TÒA ÁN NHÂN DÂN CÁC QUẬN,
HUYỆN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
2.1. Những yếu tố tác động và yêu cầu nâng cao chất lượng
giáo dục pháp luật của cán bộ tòa án nhân dân các quận,
huyện Thành phố Hồ Chí Minh
56
2.2. Giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật
của cán bộ tòa án nhân dân ở các quận, huyện Thành phố Hồ
Chí Minh hiện nay
65
KẾT LUẬN
89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
91
6
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp
quyền của dân do dân và vì dân. Mọi tổ chức trong hệ thống chính trị, mọi
cán bộ, đảng viên và mọi người dân đều phải sống và hoạt động trong khuôn
Ý thức pháp luật của một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa cao; tình trạng
vi phạm pháp luật diễn biến phức tạp, tình trạng tội phạm chưa được ngăn
chặn.., việc xử lý vi phạm còn chưa bám sát các quy định của pháp luật, còn để
xảy ra oan sai...đã ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình phát triển kinh tế, văn
hóa, xã hội của thành phố, chưa đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước. Những hạn chế, yếu kém trên đây được bắt nguồn
từ nhiều nguyên nhân, trong có nguyên nhân từ việc giáo dục pháp luật của các
cấp, các ngành, trong đó việc giáo dục pháp luật cho cán bộ, đảng viên ở Tòa
án nhân dân quận, huyện trong Thành phố trong những năm vừa qua.
Ngày nay, Đảng đang lãnh đạo nhân dân thực hiện công cuộc đổi mới
đất nước, phát triển kinh tế thị trường, mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế, vì
mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Công
cuộc đổi mới, phát triển kinh tế thị trường, mở cửa, hội nhập càng được mở
rộng, đi vào chiều sâu càng phải chăm lo công tác giáo dục pháp luật cho mọi
người dân, trước hết là cán bộ, đảng viên ở các cơ quan thực thi pháp luật, ở
Tòa án nhân dân các cấp, góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền vững
mạnh và coi đó là nhiệm vụ trọng yếu của toàn Đảng, toàn dân hiện nay.
Vì vậy, việc lựa chọn vấn đề: “Chất lượng giáo dục pháp luật của
cán bộtòa án nhân dân ở các quận, huyện Thành phố Hồ Chí Minh hiện
nay” làm đề tài luận văn có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật các tầng lớp nhân dân
nói chung, cho cán bộ, đảng viên nói riêng là vấn đề hệ trọng, được nhiều cán
bộ lãnh đạo, cơ quan chức năng, các nhà khoa học, cán bộ các ngành quan
tâm nghiên cứu. Đã có nhiều công trình khoa học, đề tài luận văn, luận án
được công bố,như:
8
-Nguyễn Ngọc Phú (1997), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về kỷ
9
Các công trình đã tập trung làm rõ nội dung của việc phổ biến, tuyên
truyền giáo dục pháp luật trong phạm vi nghiên cứu đã xác định, phù hợp với
từng đối tượng. Đồng thời, các tác giả đã chú trọng phân tích làm rõ đặc điểm
riêng có của công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật ở từng lĩnh
vực cụ thể
Đã tập trung làm rõ quan niệm chất lượng, nâng cao chất lượng công
tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật cho các đối tượng. Trong từng
nội dung các công trình đã có sự phân tích khá thuyết phục những vấn đề cơ
bản như: yếu tố cấu thành, mục đích, chủ thể, lực lượng, nội dung, hình thức
biện pháp nâng cao, những vấn đề có tính nguyên tắc, tiêu chí đánh giá.
Các công trình đã đánh giá khá toàn diện, đầy đủ những ưu điểm, hạn
chế, khuyết điểm trong công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật và
nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật cho
các đối tượng, chỉ rõ nguyên nhân và rút ra một số kinh nghiệm có giá trị có
thể vận dụng chỉ đạo thực tiễn hiện nay.
Phân tích khá sâu sắc sự phát triển của tình hình, nhiệm vụ, nhất là
nhiệm vụ chính trị của các địa phương, đơn vị và rõ sự tác động, cả thuận lợi,
cả khó khăn và những vấn đề đặt ra đối với công tác tuyên truyền phổ biến
giáo dục pháp luật cán bộ,đảng viên và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao
chất lượng công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật cán bộ, đảng
viên đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng đảng bộ, xây dựng địa phương, cơ
quan, đơn vị vững mạnh trong thời kỳ mới.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
* Mục đích nghiên cứu:
Luận giải rõ một số vấn đề cơ bản về đề lý luận, thực tiễn và đề xuất
những giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật của cán bộ
tòa án nhân dân ở các cấp quận, huyệnThành phố Hồ Chí Minh hiện nay.
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
các quận, huyện Thành phố Hồ Chí Minh
11
- Tham khảo báo cáo công tác xây dựng Đảng, công tác giáo dục pháp
luật cho cán bộ, đảng viên của các tổ chức đảng, các cơ quan chức năng và
kết quả điều tra, khảo sát thực tiễn của người học.
* Phương pháp nghiên cứu của đề tài:
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, đề tài sử dụng
tổng hợp các phương pháp khoa học chuyên ngành, liên ngành, chú trọng các
phương pháp: Kết hợp logic với lịch sử, tổng kết thực tiễn, phân tích, tổng
hợp, khái quát hóa, thống kê, so sánh; điều tra xã hội học ...
6. Ý nghĩa của đề tài
- Cung cấp thêm luận cứ khoa học để các cấp ủy, chi bộ ở Tòa án nhân
dân quận, huyệnThành phố Hồ Chí Minh trong lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao
chất lượng giáo dục pháp luật cho cán bộ, đảng viên đáp ứng nhiệm vụ duy trì
và thực thi pháp luật của Tòa án nhân dân các quận, huyện Thành phố Hồ Chí
Minh trong thời kỳ mới.
- Đề tài có thể làm tài liệu nghiên cứu trong giảng dạy và học tập ở
Trường Chính trị các quận, huyện của Thành phố Hồ Chí Minh
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn gồm 2 chương, 4 tiết.
12
Chương 1
CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CỦA CÁN BỘ TÒA ÁN
NHÂN DÂN Ở CÁC CẤP QUẬN, HUYỆN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
MINH - MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Thành phố Hồ Chí Minh có 305 phường, xã, thị trấn.
Về dân cư, nếu tính cả những người cư trú không đăng ký thì đến đầu
năm 2015, dân số thực tế của thành phố vượt trên 10 triệu người với đủ 54 thành
phần dân tộc và 13 tôn giáo khác nhau, cùng người nước ngoài sinh sống.
- Lịch sử thành lậpTòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh:
Thực hiện quan điểm chỉ đạo của Đảng được nêu tại Đại hội Đảng Toàn
Quốc lần thứ IV (năm 1976), ngày 10/8/1976 Chánh án Tòa án nhân dân tối
cao ban hành Quyết định số 08/TATC thành lập Tòa án nhận dân huyện, quận,
thị xã, thành phố thuộc tỉnh; tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tại miền
Nam. Lịch sử phát triển của Tòa án nhân dân đã sang một trang mới, đây
chính là mốc đánh dấu hình thành, xây dựng và phát triển của một chặng
đường lịch sử bảo vệ công lý, bảo vệ nền pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ
lợi ích hợp pháp của mọi công dân nói chung.
Vào tháng 8 năm 1976, Tòa án nhân dân hai cấp Thành phố Hồ Chí
Minh được thành lập gồm 01 Tòa án nhân dân cấp tỉnh và 12 Tòa án nhân dân
cấp quận, huyện. Những ngày đầu chưa có Tòa chuyên trách, sau đó mới
thành lập Tòa chuyên trách và bộ phận Tòa hình sự, Tòa dân sự, Văn phòng
và Phòng Giám đống kiểm tra; lúc đó, Tòa án nhân dân huyện có 3 thẩm
phán, Tòa án nhân dân thành phố có 7 thẩm phán và một số thẩm phán chi
viện từ miền Bắc vào để thực hiện công tác xét xử bảo vệ chính quyền cách
mạng trong thời gian đầu sau ngày giải phóng 30/4/1975.
Biên chế của toàn ngành Tòa án thành phố lúc ban đầu khi mới thành
lập chỉ có80 thẩm phán; tuân thủ theo Hiến pháp 1992 và thực hiện Luật tổ
14
chức Tòa án nhân dân năm 1992 (được sửa đổi bổ sung năm 1993, năm
1995), do có sự thay đổi về cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ nên số lượng thẩm
phán tòa án nhân dân hai cấp Thành phố Hồ Chí Minh từ 55 thẩm phán vào
giai đoạn đầu mới thành lập tăng lên 120 thẩm phán, mỗi thẩm phán giải
chức Tòa án nhân dân trên cơ sở hình thành 04 cấp Tòa án: Tòa án nhân dân
tối cao,Tòa án nhân dân cấp cao,Tòa án nhân dân cấp tỉnh,Tòa án nhân dân
cấp quận huyện; phân định lại chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của các cấp
Tòa án…
Hiện nay Tòa án nhân dân hai cấp thành phố không ngừng tăng cường
biên chế, biên chế hiện nay của Tòa án nhân dân hai cấp Thành phố Hồ Chí
Minh là 1.340 biên chế trong đó có 550 thẩm phán, 630 thư ký, 32 thẩm tra
viên và 88 lao động khác. Hiện nay, tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh lãnh đạo có 05 người gồm 01 Chánh án và 04 Phó Chánh án, các tòa
chuyên trách, bộ phận đều bố trí đủ cán bộ lãnh đạo, 24 Tòa án nhân dân
quận, huyện ban lãnh đạo có từ 02 đến 03 đồng chí, Tòa thấp nhất có 03 thẩm
phán, Tòa cao nhất có 17 thẩm phán.
Trong công tác tổ chức cán bộ, Tòa án nhân dân Thành phố không
ngừng củng cố bộ máy, bố trí cán bộ quản lý, đào tạo chính trị chuyên môn
nghiệp vụ, nhằm xây dựng người cán bộ làm công tác pháp luật phải “vừa
hồng, vừa chuyên”. Đến nay, lực lượng thẩm phán, thư ký toàn ngành đều đạt
trình độ cử nhân luật, có nhiều đồng chí đã học xong cao học luật (có 82 thạc
sỹ, 8 tiến sỹ). Đội ngũ thẩm phán toàn ngành đều kinh qua lớp chính trị trung
cấp, cao cấp, có một số thẩm phán đã học xong cử nhân chính trị hoặc cử
nhân chuyên ngành.
-Tòa án nhân dân các quận, huyện Thành phố Hồ Chí Minh.
Tòa án nhân dân các quận, huyệnThành phố Hồ Chí Minh là tổ chức
nằm trong hệ thống tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
được thành lập theo quy định của Hiến pháp, pháp luật, có chức năng, nhiệm
16
vụ duy trì và bảo đảm việc thực thi pháp luật trên địa bàn các quận, huyện,góp
phần duy trì an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, xây dựng nhà nước pháp
quyền vững mạnh, tạo điều kiện để phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời
đều giới hạn cán bộ trong phạm vi bộ máy hành chính nhà nước (Chính phủ
và chính quyền địa phương). Ở nước ta, phù hợp với thể chế chính trị và tổ
chức bộ máy Đảng, nhà nước, đoàn thể, chúng ta dùng khái niệm “cán bộ”.
Theo Luật cán bộ, công chức được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam thông qua ngày 13/11/2008, có hiệu lực thi hành từ ngày
01/01/2010 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã quy định:
“Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức
vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà
nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh
(sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà
nước”.[ 17]
Theo đó, cán bộ tòa án nhân dân ở các quận, huyện là công dân Việt
Nam, những cán bộ của Đảng và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam có đủ tiêu chuẩn được lựa chọn bổ nhiệm, tuyển dụng bố trí vào các
chức danh trong biên chế tổ chức của Tòa án nhân dân các quận, huyện theo
đúng quy định của pháp luật.
Cán bộtòa án nhân dân các quận, huyện Thành phố Hồ Chí Minhgồm có:
thẩm phán, thư ký, thẩm tra viên. Ngoài các chức danh chuyên môn, ở Tòa án
nhân dân các quận, huyện còn có các chức vụ lãnh đạo như bí thư chi bộ, phó
bí thư chi bộ; các chức vụ quản lý như Chánh án tòa án, Phó Chánh án tòa án .
CƠ CẤU ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN Ở TÒA ÁN NHÂN
DÂN QUẬN, HUYỆN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
(từ năm 2011 đến 2015)
1. Về tuổi đời:
Năm/Tuổi đời 25 - 35
2011
2012
2013
18
2015
99
491
531
178
0
THCS
THPT
1024
1024
1024
0
2012
0
1101
1101
biết Biết đọc – Tiểu học
viết
2011
1024
Năm/
chuyên
môn
NVKT,NV
THCN
CĐ
2011
2012
2013
2014
2015
ĐH
ThS
TS
1192
Cao cấp – cử
nhân
48
57
69
81
107
KẾT QUẢ PHÂN LOẠI ĐẢNG VIÊN, CẤP ỦY VIÊN Ở TÒA ÁN
NHÂN DÂN QUẬN, HUYỆN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
( NĂM 2011 – 2015)
1. phân loại đảng viên:
Năm
Hoàn thành xuất
sắc nhiệm vụ
Hoàn thành
tốt nhiệm vụ
Hoàn thành
nhiệm vụ
Vi phạm tư
cách, không
hoàn thành
nhiệm vụ
249
17
2014
97
452
318
13
2015
114
459
307
5
2.Phân loại cấp ủy viên:
PHÂN LOẠI
Hoàn thành
Năm
xuất sắc chức
2013
32
61
3
2014
39
63
5
2015
41
65
1
Không hoàn
thành
+ Chức trách, nhiệm vụ của cán bộ tòa án nhân dân các quận, huyện:
- Đối với thẩm phán: xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự, dân sự, hôn
thường là những cán bộ được sinh ra và trưởng thành ở các quận, huyện khác,
thậm chí các tỉnh khác. Tuy có sự khác nhau về thành phần, nơi cư trú, song
điều quan trọng nhất là tất cả cán bộ tòa án ở các quận, huyện hiện nay của
Thành phố Hồ Chí Minh đều được đào tạo cơ bản, tốt nghiệp đại học luật
hoặc các đại học khác gần chuyên ngành và được bồi dưỡng kiến thức pháp
luật theo yêu cầu chức trách, nhiệm vụ.
Hai là, hoạt động của cán bộ tòa án nhân dân ở các quận, huyện luôn
căng thẳng và chịu nhiều áp lực từ công tác, gia đình và xã hội, nhiều khi rất
nguy hiểm.
Đây là đặc điểm phản ánh tính chất nghề nghiệp của cán bộ ngành tòa
án. Với trách nhiệm duy trì bảo vệ pháp luật với yêu cầu bảo đảm tính khách
21
quan, chính xác, công bằng, bảo vệ lợi ích của tổ chức và công dân theo đúng
quy định của pháp luật trên cơ sở các chứng cứ xác thực đòi hỏi cán bộ tòa án
nói chung, cán bộ tòa án ở các quận, huyện nói riêng làm việc phải có tâm có
đức, phải xem xét trên nhiều khía cạnh một cách khoa học, phải đầu tư rất
nhiều thời gian, công sức để không làm oan người vô tội, không bỏ sót tội
phạm, phải xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, thể hiện chính sách ưu
việt của Đảng và nhà nước ta.
Mặt khác, xuất phát từ tính chất công việc, cán bộ tòa án nhân dân ở
các quận, huyện phải thường xuyên tiếp xúc với các đối thượng phạm tội và
người thân của họ, chịu rất nhiều tác động cả lý trí và tình cảm rất dễ bị lung
lạc làm sai lệch cán cân công lý nếu cán bộ bản lĩnh chính trị thiếu vững vàng,
phẩm chất đạo đức cách mạng và đạo đức nghề nghiệpthiếu trong sáng, kiến
thức pháp luật yếu kém. Đồng thời, khi tiếp xúc với sự đa dạng các loại tội
phạm nhiều cán bộ tòa án bị đe dọa tấn công rất nguy hiểm đến tính mạng bản
thân và gia đình. Đây là vấn đề đã được thực tiễn trả lời. Vì vậy, các cấp có
thẩm quyền cần làm tốt việc bồi dưỡng nâng cao trình độ mọi mặt cho cán bộ
chuộc, tha hóa về chính trị, đạo đức, làm sai lệch cán cân công lý, ảnh hưởng
không nhỏ đến uy tín của Đảng và nhà nước.
1.1.2. Một số vấn đề cơ bản về chất lượng giáo dục pháp luật của cán bộ tòa
án nhân dân ở các quận, huyện Thành phố Hồ Chí Minh.
* Giáo dục pháp luật của cán bộ tòa án nhân dân ở các quận, huyện
Thành phố Hồ Chí Minh.
- Quan niệm
Pháp luật là quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung, mọi công dân phải có
nghĩa vụ tuân thủ pháp luật. Pháp luật, bản thân nó sẽ tự thực hiện chức năng của
mình bằng các quy định về quyền và nghĩa vụ thông qua các chế tài đối với những
người tham gia vào các quan hệ xã hội do pháp luật điều chỉnh.
Giáo dục pháp luật, trước hết là một hoạt động mang đầy đủ tính chất
chung của giáo dục nhưng nó cũng có những nét đặc thù riêng, phạm vi riêng để
tác động lên ý thức con người theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp của giáo dục.
Giáo dục pháp luật được hiểu là: con người nói chung là khách thể (hay
đối tượng) chịu ảnh hưởng và tác động của các điều kiện khách quan và nhân tố
chủ quan để hình thành nên ý thức, tình cảm và hành vi pháp luật.
23
Giáo dục pháp luật vừa mang những đặc điểm chung của giáo dục, sử dụng
những hình thức phương pháp của giáo dục nói chung, vừa thể hiện những nét đặc
thù riêng có của mình trong mối liên hệ chặt chẽ với các loại hình giáo dục khác
như giáo dục chính trị, đạo đức... Tính đặc thù của giáo dục pháp luật thể hiện ở cả
mục đích, nội dung và ở cả hình thức, phương pháp.
Giáo dục pháp luật có mục đích riêng của mình, đó là hoạt động nhằm
trang bị tri thức, hình thành tình cảm và thói quen xử sự phù hợp với quy định của
pháp luật; Giáo dục pháp luật có nội dung riêng, đó là sự tác động định hướng với
nội dung cơ bản là chuyển tải trí thức của nhân loại nói chung, của một Nhà nước
nói riêng về hai hiện tượng nhà nước và pháp luật; Giáo dục pháp luật so với các
Thành phố Hồ Chí Minh là cấp ủy các cấp, chi bộ Tòa án, đội ngũ cán bộ chủ trì
các quận, huyện, chủ trì các Tòa án và các cơ quan chức năng cấp trên.
Lực lượng tham gia Giáo dục pháp luật của cán bộ tòa án nhân dân ở các
quận, huyện Thành phố Hồ Chí Minh là các cơ quan, ban ngành, đoàn thể của
các quận, huyện, các cơ quan truyền thông báo chí, truyền hình, phát thanh của
thành phố và của các quận, huyện... Các tổ chức kinh tế - xã hội của Trung ương,
thành phố và toàn thể nhân dân trên địa bàn quận, huyện.
Đối tượng Giáo dục pháp luật là toàn thể cán bộ tòa án nhân dân ở các
quận, huyện thành phố Hồ Chí Minh.
Nội dung Giáo dục pháp luật của cán bộ tòa án nhân dân ở các quận,
huyện Thành phố Hồ Chí Minh bao gồm Hiến pháp, các bộ luật, luật, các văn
bản dưới luật, các quy định của địa phương liên quan trực tiếp đến việc thực hiện
chức trách, nhiệm vụ của mỗi cán bộ, đảng viên, trọng tâm là các quy định của
pháp luật về dân sự, hình sự, hành chính, hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới, đất
đai, xây dựng, bảo vệ môi trường, lao động, giáo dục, y tế, quốc phòng an ninh,
giao thông, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, quyền hạn và trách nhiệm của
cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, các văn bản quy phạm pháp luật mới được
ban hành. Các điều ước quốc tế mà nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam là thành viên, các thỏa thuận quốc tế. Ý thức tôn trọng và chấp hành pháp
luật; ý thức bảo vệ pháp luật, lợi ích của việc chấp hành pháp luật, gương người
tốt, việc tốt trong việc thực hiện pháp luật. Các nguyên tắc, chế dộ, quy trình giải
quyết các vấn đề liên quan đến nghiệp vụ ngành tòa án...; đạo đức nghề nghiệp,
cách ứng xử theo văn hóa của ngành...
25
Hình thức, biện pháp Giáo dục pháp luật của cán bộ tòa án nhân dân ở
các quận, huyện Thành phố Hồ Chí Minh thường được đan xen vào các hoạt
động trên các lĩnh vực đời sống xã hội, được xây dựng thành nội dung chương
trình giáo dục pháp luật của tổ chức đảng, chính quyền, ngành Tòa án các cấp;