vai trò của vốn fdi đối với sự phát triển kinh tế của việt nam hiện nay - Pdf 43

BỘ GÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ

BÀI TIỂU LUẬN

Đề tài: VAI TRÒ CỦA VỐN FDI ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN
KINH TẾ CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY
GVHD: Th.S. NGUYỄN THỊ QUỲNH TRANG
SVTH - NHÓM 4:

***
2016 - 2017

MỤC LỤC


LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay, với xu hướng toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng, mục tiêu năm
2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp hiện đại đang cận kề. Việc phát
huy những tiềm năng có sẵn để phát huy nội lực và tranh thủ những điều kiện từ
bên ngoài để đẩy mạnh ngoại lực là hết sức quan trọng và cần thiết, không chỉ đối
với Việt Nam (nước đang phát triển) mà đối với cả những nước phát triển, APEC,
NICs.
Riêng với Việt Nam, sau 31 năm đổi mới và 30 năm thu hút vốn đầu tư
nước ngoài (tính từ 1987 sau khi ra Luật Đầu tư năm 1987), chúng ta đã đạt được
những thành tựu đáng kể trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, với
trình độ phát triển kinh tế chưa cao, tích lũy vốn trong nước còn thấp, nội lực
chưa được phát huy mạnh mẽ, xuất khẩu tăng cao nhưng chưa thật sự hiệu quả
trong khai thác và chế biến, có nguy cơ rơi vào “bẫy thu nhập thấp”. Cho thấy,
Việt Nam cần thu hút và sử dụng hiệu quả hơn nữa “cú huých” từ bên ngoài này.

tư.”
Như vậy, từ khái niệm trên, FDI, xét theo định nghĩa pháp lý của Việt
Nam, là hoạt động bỏ vốn đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài vào lãnh thổ Việt
Nam với điều kiện họ phải tham gia quản lý hoạt động đầu tư đó.

1.1.2. Nguồn gốc và bản chất của FDI
Thứ nhất, nguồn gốc:
FDI xuất hiện do những nguyên nhân sau:
- Sự chênh lệch của vốn giữa các nước: có những nước thì thừa vốn trong
khi đó một số nước khác lại thiếu vốn.
- Chu kỳ sản phẩm: đối với các doanh nghiệp tham gia kinh doanh quốc tế
thì chu kỳ sống của sản phẩm này gồm 3 giai đoạn chủ yếu là: giai đoạn sản phẩm
mới; giai đoạn sản phẩm chín muồi; giai đoạn sản phẩm chuẩn hóa. Có ý kiến cho
rằng sản phẩm mới được phát minh và sản xuất ở nước đầu tư, sau đó mới được
xuất khẩu ra thị trường nước ngoài. Tại nước nhập khẩu, ưu điểm của sản phẩm
mới làm nhu cầu thị trường trong nước tăng lên nên nước nhập chuyển sang sản
xuất để thay thế sản phẩm nhập khẩu này bằng cách chủ yếu dựa vào vốn, kỹ
thuật của nước ngoài. Khi nhu cầu thị trường của sản phẩm mới trên thị trường
trong nước bão hòa, nhu cầu lại xuất hiện. Hiện tượng này diễn ra theo chu kỳ và
do đó dẫn đến sự hình thành FDI.
- Lợi thế đặc biệt của các công ty đa quốc gia: các công ty đa quốc gia có
những lợi thế đặc thù (chẳng hạn năng lực cơ bản) cho phép công ty vượt qua
4|Page


những trở ngại về chi phí ở nước ngoài nên họ sẵn sàng đầu tư trực tiếp ra nước
ngoài. Khi chọn địa điểm đầu tư, họ sẽ chọn nơi nào có các điều kiện về lao động,
đất đai, chính trị … cho phép họ phát huy hết các lợi thế đặc thù.
- Tiếp cận thị trường và giảm xung đột thương mại: trong thương mại
thường xuất hiện những xung đột thương mại song phương. Ví dụ: Nhật Bản

mình đầu tư vào nước khác. Hay nói cách khác, việc tìm kiếm, theo đuổi lợi
nhuận cao hơn và bảo toàn độc quyền hay lợi thế cạnh tranh là bản chất, là động
cơ, là mục tiêu cơ bản xuyên suốt của các nhà đầu tư. Đây là loại hình mà bản
thân nó rất có khả năng để thực hiện việc kéo dài “chu kỳ tuổi thọ sản phẩm”,
“chu kỳ tuổi thọ kĩ thuật” mà vẫn giữ được độc quyền kĩ thuật, dễ dàng xâm nhập
thị trường nước ngoài mà không bị cản trỏ bởi các rào chắn.
Khai thác được nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng như giá nhân công rẻ
của nước nhận đầu tư. Phải nói rằng, đầu tư trực tiếp nước ngoài là “lối thoát lý
tưởng” trước sức ép xảy ra “sự bùng nổ phá sản” do những mâu thuẫn tất yếu của
quá trình phát triển. Ta nói nó là lý tưởng vì chính lối thoát này đã tạo cho các nhà
đầu tư tiếp tục thu lợi và phát triển, có khi còn phát triển với tốc độ cao hơn.
Thậm chí khi nước nhận đầu tư có sự thay đổi chính sách thay thế nhập khẩu sang
chính sách hướng sang xuất khẩu thì nhà đầu tư vẫn có thể tiếp tục đầu tư dưới
dạng mở các chi nhánh sản xuất các bộ phận, phụ kiện,… để xuất khẩu trở lại để
phục vụ cho công ty mẹ, cũng như các thị trường mới… Đối với các nước đang
phát triển, dưới con mắt của các hà đầu tư, trong những năm gần đây, các nước
này đã có sự cải thiện đáng kể cơ sở hạ tầng, điều kiện kinh tế, trình độ và khả
năng phát triển của người lao động, hệ thống pháp luật, dung lượng thị trường,
một số nguồn tài nguyên … cũng như sự ổn định về chính trị … những cải thiện
này đã tạo sự hấp dẫn nhất định đối với các nhà đầu tư.
Tóm lại, thực chất cơ bản bên trong của nhà đầu tư trong hoạt động đầu tư
trực tiếp nước ngoài bao gồm: duy trì và nâng cao hiệu quả sản xuất của chủ đầu
tư (vấn đề vốn, kỹ thuật, sản phẩm… khai thác các nguồn lực và xâm nhập thị
trường của các nước nhận đầu tư; tranh thủ lợi dụng chính sách khuyến khích của

6|Page


các nước nhận đầu tư; thông qua hoạt động đầu tư trực tiếp để thực hiện các ý đồ
kinh tế (hoặc phi kinh tế) mà các hoạt động khác không thực hiện được).

1.1.3. Đặc điểm của FDI
Đầu tư trực tiếp nước ngoài có những đặc điểm chủ yếu sau:
Thứ nhất, gắn liền với việc di chuyển vốn đầu tư, tức là tiền và các loại tài
sản khác giữa các quốc gia, hệ quả là làm tăng lượng tiền và tài sản của nền kinh
tế nước tiếp nhận đầu tư và làm giảm lượng tiền và tài sản nước đi đầu tư.
Thứ hai, được tiến hành thông qua việc bỏ vốn thành lập các doanh nghiệp
mới (liên doanh hoặc sở hữu 100% vốn), hợp đồng hợp tác kinh doanh, mua lại
các chi nhánh hoặc doanh nghiệp hiện có, mua cổ phiếu ở mức khống chế hoặc
tiến hành các hoạt động hợp nhất và chuyển nhượng doanh nghiệp.
Thứ ba, nhà đầu tư nước ngoài là chủ sở hữu hoàn toàn vốn đầu tư hoặc
cùng sở hữu vốn đầu tư với một tỷ lệ nhất định đủ mức tham gia quản lý trực tiếp
hoạt động của doanh nghiệp.
Thứ tư, là hoạt động đầu tư của tư nhân, chịu sự điều tiết của các quan hệ
thị trường trên quy mô toàn cầu, ít bị ảnh hưởng của các mối quan hệ chính trị
giữa các nước, các chính phủ và mục tiêu cơ bản luôn là đạt lợi nhuận cao.
Thứ năm, nhà đầu tư trực tiếp kiểm soát và điều hành quá trình vận động
của dòng vốn đầu tư.
Thứ sáu, FDI bao gồm hoạt động đầu tư từ nước ngoài vào trong nước và
đầu tư từ trong nước ra nước ngoài, do vậy bao gồm cả vốn di chuyển vào một
nước và dòng vốn di chuyển ra khỏi nền kinh tế của nước đó.
Thứ bảy, FDI chủ yếu là do các công ty xuyên quốc gia thực hiện.
Các đặc điểm nêu trên mang tính chất chung cho tất cả các hoạt động FDI
trên toàn thế giới. Đối với Việt Nam, quá trình tiếp nhận FDI diễn ra đã được
khoảng 30 năm và những đặc điểm nêu trên cũng đã thể hiện rõ nét. Chính những
8|Page


đặc điểm này đòi hỏi thể chế pháp lý, môi trường và chính sách thu hút FDI phải
chú ý để vừa thực hiện mục tiêu thu hút đầu tư, vừa bảo đảm mối quan hệ cân đối
giữa kênh đầu tư FDI với các kênh đầu tư khác của nền kinh tế.

chủ nhà khó tiếp nhận được kinh nghiệm quản lý và công nghệ, khó kiểm soát
được đối tác đầu tư nước ngoài và không có lợi nhuận.
Thứ hai, thành lập doanh nghiệp liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước
và ngoài nước. Đây là hình thức được sử dụng rộng rãi trên thế giới từ trước đến
nay. Hình thức này cũng rất phát triển ở Việt Nam, nhất là giai đoạn đầu thu hút
FDI. Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp được thành lập tại nước sở tại trên
cơ sở hợp đồng liên doanh ký giữa Bên hoặc các Bên nước chủ nhà với Bên hoặc
các Bên nước ngoài để đầu tư kinh doanh tại nước sở tại.
Hình thức doanh nghiệp liên doanh có những ưu điểm là góp phần giải
quyết tình trạng thiếu vốn, nước sở tại tranh thủ được nguồn vốn lớn để phát triển
kinh tế nhưng lại được chia sẻ rủi ro; có cơ hội để đổi mới công nghệ, đa dạng
hóa sản phẩm; tạo cơ hội cho người lao động có việc làm và học tập kinh nghiệm
quản lý của nước ngoài; Nhà nước của nước sở tại dễ dàng hơn trong việc kiểm
soát được đối tác nước ngoài. Về phía nhà đầu tư, hình thức này là công cụ để
thâm nhập vào thị trường nước ngoài một cách hợp pháp và hiệu quả, tạo thị
trường mới, góp phần tạo điều kiện cho nước sở tại tham gia hội nhập vào nền
kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, hình thức này có nhược điểm là thường dễ xuất hiện
mâu thuẫn trong điều hành, quản lý doanh nghiệp do các bên có thể có sự khác
nhau về chế độ chính trị, phong tục tập quán, truyền thống, văn hóa, ngôn ngữ,
luật pháp. Nước sở tại thường rơi vào thế bất lợi do tỷ lệ góp vốn thấp, năng lực,
trình độ quản lý của cán bộ tham gia trong doanh nghiệp liên doanh yếu.
Thứ ba, đầu tư theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh. Hợp đồng hợp
tác kinh doanh là hình thức đầu tư được ký giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh
doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập pháp nhân.

10 | P a g e


Hình thức đầu tư này có ưu điểm là giúp giải quyết tình trạng thiếu vốn,
công nghệ; tạo thị trường mới, bảo đảm được quyền điều hành dự án của nước sở

yếu tố tác động đến quy mô đầu tư và tổng lợi nhuận của nhà đầu tư. Để thu hút
vốn FDI ngoài tiềm năng đông dân thì việc cải thiện đời sống, tăng thu nhập, tăng
sức mua của cư dân trong nước cũng có tác động rất lớn trong thu hút FDI. Bên
cạnh đó việc gia nhập các liên kết kinh tế khu vực và thế giới cũng tạo ra thị
trường rộng mở cho các nhà đầu tư và cũng là nhân tố tác động đến việc quyết
định địa bàn đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài.
1.3. Tác động của FDI tới sự phát triển kinh tế
FDI thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Khu vực FDI là một thành phần kinh tế,
đóng góp vào quá trình tăng trưởng chung của toàn nền kinh tế. Một mặt, FDI bổ
sung nguồn vốn cho đầu tư phát triển kinh tế thúc đẩy phát triển kinh tế về phía
cầu (cầu lao động, yếu tố nhập lương vv…). Mặt khác, thông qua các hình thức
kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế về phía cung (sản phẩm, dịch vụ vv…).
Từ năm 1991- 1995, GDP tăng liên tục qua các năm với tốc độ tăng bình
quân mỗi năm 8,2% và tỷ trọng đóng góp của vốn FDI thực hiện trong GDP bình
quân mỗi năm 4,7%. Trong 5 năm 1966- 2000, GDP bình quân hàng năm tăng
6.96% và tỷ trọng đóng góp của vốn FDI thực hiện trong GDP bình quân mỗi
năm là 10,4%. Trong thời kỳ 2001- 2005, GDP tăng 7,5%/năm và tỷ trọng
FDI/GDP là 14,6%/năm. Trong 2 năm 2008 và 2009, GDP tăng 5,78%/năm và tỷ
trọng FDI/GDP là 18,14%/năm.
FDI góp phần quan trọng trong việc làm tăng năng suất lao động, cải thiện
nguồn nhân lực. Đến nay, khu vực có vốn FDI đã tạo ra việc làm cho trên 1.5
triệu lao động và hàng triệu lao động gián tiếp khác. Theo kết điều tra của ngân
hàng thế giới (WB) cứ 1 lao động trực tiếp sẽ tạo việc làm cho từ 2- 3 lao động
gián tiếp phục vụ trong cộng đồng dân cư, góp phần tăng GDP/đầu người/năm.
FDI đóng góp một phần đáng kể vào nguồn thu ngân sách nhà nước.
-

Đối với các nước đầu tư:

12 | P a g e

triển tiếp cận với khoa học- kỹ thuật mới. Quá trình đưa công nghệ vào sản xuất

13 | P a g e


giúp tiết kiệm được chi phí và nâng cao khả năng cạnh tranh của các nước đang
phát triển trên thị trường quốc tế.
Cùng với FDI, những kiến thức quản lý kinh tế, xã hội hiện đại được du
nhập vào các nước đang phát triển, các tổ chức sản xuất trong nước bắt kịp
phương thức quản lý công nghiệp hóa, hiện đại hóa; lực lượng lao động quen dần
với phong cách làm việc công nghiệp cũng như hình thành dần đội ngũ những nhà
doanh nghiệp giỏi.
FDI giúp các nước đang phát triển mở cửa thị trường hàng hóa nước ngoài
và đi kèm với nó là những hoạt động Marketing được mở rộng không ngừng.
2. Tình hình thu hút và vai trò của vốn FDI ở Việt Nam hiện nay
2.1. Tình hình thu hút vốn FDI ở Việt Nam hiện nay
Sau 30 năm thu hút vốn FDI, Việt Nam đã đạt được những thành tựu nhất
định với những giai đoạn đầy biến động trong lĩnh vực này. Đặc biệt là sau khi
Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO), FDI đã không ngừng tăng
trưởng một cách mạnh mẽ và đỉnh điểm là đến năm 2008, FDI đã đạt đến hơn 64
tỷ USD; và đến ngày 04/02/2016 bộ trưởng phụ trách thương mại của 12 nước,
trong đó có Việt Nam đã chính thức ký kết để xác thực lời văn Hiệp định Đối tác
xuyên Thái Bình Dương (TPP) tại Aucland, New Zealand (trước đó Việt Nam đã
tuyên bố gia nhập TPP vào 13/11/2010) với nhiều dự đoán sẽ tạo nên cú huých
lớn mạnh cho dòng chảy FDI đổ vào Việt Nam mặc cho sự kiện Mỹ rút khỏi tổ
chức này vào ngày 23/01/2017.
Năm 2014 tuy có nhiều biến động về kinh tế, chính trị trên thế giới và
trong nước nhưng với sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh
nghiệp nên nền kinh tế Việt Nam vẫn đạt được những kết quả khả quan, đặc biệt
là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.

vốn đăng ký: 1,4 tỷ USD
+ Công ty TNHH Dewan International tại Khánh Hòa, xây dựng, phát triển
khu vực biển chính của Nha Trang, vốn đăng ký: 1,25 tỷ USD
+ Công ty TNHH Samsung Display tại Bắc Ninh, sản xuất, lắp ráp, gia
công các sản phẩm màn hình smartphone, máy tính bảng, vốn đăng ký: 1 tỷ USD
Với 4 dự án lớn có quy mô vốn đăng ký trên 1 tỷ USD là dấu hiệu không
thực sự khả quan cho việc sử dụng hiệu quả vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Tuy

15 | P a g e


nhiên bên cạnh đó, Việt Nam đang đàm phán khoảng 10 dự án BOT điện, vốn
mỗi dự án khoảng từ 2 – 2,5 tỷ USD và có dự án dầu khí đặc biệt lớn tại Bình
Định (vốn khoảng 27 tỷ USD) đang trong quá trình chuẩn bị đầu tư. Đây là xu thế
đầy hứa hẹn cho việc gia tăng các dự án quy mô lớn vào những năm tiếp theo.
-

Hoạt động giải ngân vẫn tăng nhẹ dù trong nước và thế giới có nhiều bất ổn, diễn
biến phức tạp. Cụ thể là các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đã giải ngân được
12,35 tỷ USD, tăng 7,4 % so với cùng kỳ năm 2013 và tăng 2,9% so với kế hoạch
năm 2014. Giải ngân dự án FDI đạt được những kết quả trên là do công tác hỗ
trợ, thúc đẩy giải ngân các dự án đã được chú trọng hơn. Đồng thời công tác đối
thoại chính sách với các nhà đầu tư đang hoạt động tại Việt Nam nhằm tháo gỡ
các khó khăn, vướng mắc của nhà đầu tư được đẩy mạnh, phần nào giúp các nhà
đầu tư triển khai hoạt động có hiệu quả hơn.
Tổng kết năm 2014 về tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài đã đạt được
những thành tựu nhất định như hoạt động giải ngân hiệu quả thúc đẩy cho việc sử
dụng vốn FDI tốt hơn tuy nhiên số vốn trung bình về quy mô dự án đăng ký vẫn
chưa đạt chỉ tiêu là một trong những hạn chế kìm hãm dòng chảy đầu tư nước
ngoài vào nước ta.

tư tại TP Hồ Chí Minh vào lĩnh vực hoạt động kinh doanh bất động sản.
+ Dự án Nhà máy sản xuất giấy công ty TNHH CHENG LOONG BÌNH
DƯƠNG PAPER tổng vốn đầu tư 1 tỷ USD do nhà đầu tư Samoa đầu tư tại Khu
công nghiệp Bình Dương với mục tiêu sản xuất giấy công nghiệp và giấy tiêu
dùng.
+ Dự án Cty TNHH Hyosung Đồng Nai tổng vốn đầu tư 660 triệu USD do
nhà đầu tư Thổ Nhĩ Kỳ đầu tư tại Khu công nghiệp Đồng Nai với mục tiêu sản
xuất và gia công các loại sợi.
-

Hoạt động giải ngân là điểm nhấn mạnh trong hoạt động thu hút vốn FDI vào Việt
Nam năm 2015. Trong 12 tháng năm 2015, ước tính các dự án đầu tư trực tiếp
nước ngoài đã giải ngân được 14,5 tỷ USD, tăng 17,4% với cùng kỳ năm 2014
(trong khi năm 2014 là tăng thêm 7,4% so với cùng kỳ năm 2013).
Kết quả thu hút và giải ngân vốn FDI năm 2015 khá tốt, trong đó đặc biệt
là vốn giải ngân tăng cao nhất từ trước tới nay. Ngoài sự xuất hiện của nhiều dự
17 | P a g e


án lớn, thu hút FDI năm 2015 tăng mạnh còn do Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư
sửa đổi được ban hành vào tháng 11/2014 và chính thức có hiệu lực từ ngày
1/7/2015 đã tác động tích cực đến môi trường đầu tư của Việt Nam. Từ đó tạo ra
tiền đề tích cực cho việc thực hiện kế hoạch 5 năm 2016-2020 về hoạt động này
cũng như hoạt động phát triển kinh tế - xã hội.
Năm 2016:
-

Về số dự án và số vốn đăng ký, theo số liệu của Hệ thống thông tin quốc gia về
Đầu tư nước ngoài, đến ngày 26 tháng 12 năm 2016 cả nước có 2.556 dự án mới
được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đăng ký là 15,18 tỷ USD, tăng

tế CDC (Cayman Islands) đầu tư với tổng vốn đầu tư đăng ký 315,46 triệu USD.
+ Dự án Thành phố Amata Long Thành, tổng vốn đầu tư đăng ký 309,3
triệu USD do nhà đầu tư Thái Lan đầu tư với mục tiêu đầu tư xây dựng khu đô thị
dịch vụ theo quy hoạch tại Đồng Nai.
Đồng thời theo dự kiến năm 2016 có 2 dự án lớn là dự án điện BOT Nghi
Sơn 2, vốn 2,5 tỷ USD và dự án điện Vũng Áng 2, vốn 2,5 tỷ USD được cấp
GCNĐKĐT, tuy nhiên 2 dự án này không có khả năng cấp phép trong năm nay
mà phải sang năm 2017. Trong khi trong năm 2015 chỉ tính riêng các dự án quy
mô trên 1 tỷ USD đã đóng góp tới 6,6 tỷ USD.
-

Hoạt động giải ngân, tính đến ngày 26/12/2016, ước tính các dự án đầu tư trực
tiếp nước ngoài đã giải ngân được 15,8 tỷ USD, tăng 9% so với cùng kỳ năm
2015, đạt mức giải ngân vốn FDI cao nhất từ trước đến nay.
Nhìn chung tình hình thu hút vốn FDI ở Việt Nam ba năm 2014, 2015,
2016 khá hiệu quả, số dự án và số vốn đăng ký liên tục tăng qua các năm, bên
cạnh đó là hoạt động giải ngân cũng đạt được những thành tựu đáng kể đặc biệt là
sau khi Luật đầu tư, Luật doanh nghiệp được sửa đổi vào năm 2014, giảm bớt
những những sự can thiệt của các cơ quan cũng như những thủ tục hành chính đã
tháo gỡ nhiều rào cản cho dòng chảy FDI đổ vào Việt Nam. Nhưng những dự án

19 | P a g e


đăng ký quy mô lớn còn chưa thật nhiều và chưa có dự án thật sự lớn để tạo ra
ngành kinh tế mũi nhọn cho đất nước trong hoạt động thu hút, sử dụng vốn FDI.
2.2. Vai trò của vốn FDI đối với phát triển kinh tế Việt Nam hiện nay
Với tư cách là một nước tiếp nhận đầu tư, và cũng là một nước đang phát
triển, vốn FDI có vai trò hết sức quan trọng đối với việc phát triển kinh tế của
Việt Nam. Đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, khi mà mục tiêu đưa đất nước trở

Xuất khẩu luôn là mong muốn của mọi quốc gia trên thế giới. Hoạt động
này sẽ giúp nước xuất khẩu hàng hóa thu được nhiều lợi nhuận, tăng tính cạnh
tranh của hàng hóa trên thị trường thế giới và tạo ra tỷ giá hối đoái có lợi cho
quốc gia của mình. Ở nước ta, xuất khẩu của khu vực FDI (xuất khẩu không kể
dầu thô) trong 12 tháng đạt 94,41 tỷ USD tăng 16,7% so với cùng kỳ 2013 và
chiếm 68% kim ngạch xuất khẩu. Xuất khẩu của khu vực đầu tư nước ngoài (xuất
khẩu không kể dầu thô) trong năm ước 2016 đạt 123,55 tỷ USD, tăng 11,8% so
với cùng kỳ 2015 và chiếm 70,2% kim ngạch xuất khẩu. Như vậy, chúng ta có thể
thấy xuất khẩu của khu vực FDI ở nước ta luôn chiếm một tỷ trọng lớn trong kim
ngạch xuất khẩu của tất cả các khu vực, và giá trị xuất khẩu liên tục tăng từ qua
các năm.
Chuyển giao công nghệ qua các dự án FDI luôn đi kèm với hoạt động đào
tạo nhân lực vận hành, quản lý, nhờ đó đã hình thành được đội ngũ công nhân,
cán bộ, đội ngũ quản lý với trình độ, tay nghề cao. Hầu hết những đội ngũ công
nhân, cán bộ quản lý có trình độ, tay nghề cao đều tập trung ở các doanh nghiệp
hay khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Thứ ba, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đóng góp trực tiếp vào tổng thu nhập
nội địa (GDP).
Khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đóng góp đáng kể vào tổng thu
nhập quốc nội (GDP) của Việt nam. Cụ thể, đóng góp vào ngân sách nhà nước
của khu vực FDI (không kể dầu thô) năm 2014 đạt 5,58 tỷ USD, tăng 11,6% so
với năm 2013, chiếm 21,25% tổng thu nhập quốc nội. Góp phần quan trọng vào
việc tạo ra giá trị thặng dư từ tài khoản vốn, tăng ngân sách, giảm bội chi Nhà
nước, và ổn định kinh tế vĩ mô.
21 | P a g e


Thứ năm, tạo ra sự cạnh tranh giữa các thành phần kinh tế, thúc đẩy sự
phát triển của thị trường.
Khi các doanh nghiệp thuộc khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ồ

USD (chiếm 49,8%) đến năm 2016 (Lũy kế các dự án còn hiệu lực đến ngày
20/12/2016), công nghiệp chế biến, chế tạo có 11703 dự án, tổng số vốn đầu tư
đăng ký là 172,399.578 triệu USD (chiếm 58,8%). Ngành công nghiệp chế biến
chế tạo luôn đi đầu trong số vốn đăng ký đầu tư và liên tục tăng mạnh dẫn đến sự
phát triển mạnh mẽ của ngành này. Tuy nhiên ở chiều ngược lại, một ngành từng
là thế mạnh của Việt Nam trước đây lại phai mờ dần đi. Ngành nông, lâm nghiệp;
thủy sản ở Việt Nam vào năm 2012 có 497 dự án, tổng số vốn đầu tư là 3,343.971
triệu USD (chiếm 1,6%) đến năm 2016 có 518 dự án, tổng số vốn đầu tư là
3,551.989 (chiếm 1,2%). Số dự án và số vốn đăng ký vẫn tăng, tuy nhiên tỷ trọng
của ngành nông, lâm nghiệp; thủy sản lại giảm từ 1,6% năm 2012 xuống còn
1,2% vào năm 2016. Cho thấy sự mai một, nhạt nhòa dần của nhóm ngành này.
Hình 1:

Trong những năm qua, cụ thể là qua 3 thời điểm là năm 2005, 2010, 2013
cơ cấu GDP theo nhóm ngành kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng công nghiệp
hóa, hiện đại hóa. Tỷ trọng của nhóm ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ
tăng lên và xu hướng giảm của khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản. Xu hướng
chuyển dịch đã đúng hướng về mục tiêu đề ra đến năm 2020 nước ta cơ bản trở
thành nước công nghiệp hiện đại, tuy nhiên tốc độ chuyển dịch còn chậm và cần

23 | P a g e


phải đẩy nhanh hơn nữa để có thể hoàn thành mục tiêu đề ra vào năm 2020 hoặc
không quá trễ.
Thứ bảy, tạo động lực cho ổn định kinh tế vĩ mô.
Vốn FDI còn kích thích nước ta phải luôn theo sát thực tiễn, đánh giá kết
quả một cách sát sao, luôn đổi mới chính sách và pháp luật để tạo điều kiện thu
hút các nhà đầu tư cũng như sử dụng hiệu quả nguồn vốn này; với sự ra đời của
Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp vào năm 2014, đã tạo ra nhiều cơ hội thu hút

chóng. Năm 2013, lao động của nước ta trong khu vực FDI khoảng 3,2 triệu
người (theo bộ kế hoạch và đầu tư) gấp 8 lần năm 2000. Năm 2016, Bộ trưởng Bộ
Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh khẳng định, FDI vẫn là thành phần kinh tế
quan trọng của Việt Nam. Bộ trưởng dẫn chứng, “Chúng ta thấy rằng, chỉ cần 1
dự án như Samsung Thái Nguyên đã thu hút hơn 200.000 lao động, đây là con số
khổng lồ. Thu hút FDI đang tạo ra hàng triệu lao động, để ổn định xã hội, tăng
trưởng kinh tế cho nên chúng ta vẫn phải ủng hộ doanh nghiệp FDI.”
Khu vực FDI giải quyết việc làm không chỉ ở mặt lượng mà thông qua quá
trình đào tạo, chuyển giao, lao động của Việt Nam còn được nâng cao về mặt
chất, thông qua đó phát huy nguồn nội lực của lao động nước nhà.
Thứ ba, tạo điều kiện cho Đảng và Nhà nước thực hiện tốt các chính sách
về xã hội.
Nguồn vốn FDI đổ vào lĩnh vực giáo dục và đào tạo, y tế và các hoạt động
trợ giúp xã hội đã đóng góp đáng kể vào nguồn ngân sách để Nhà nước có thể
tăng chi tiêu ngân sách cho các lĩnh vực xã hội, cho các dịch vụ xã hội căn bản
như y tế, giáo dục, góp phần xóa đói giảm nghèo.
Thứ tư, thúc đẩy đô thị hóa, hình thành các vùng kinh tế trọng điểm cho
đất nước.
Việt Nam hiện có 3 thành phố lớn đại điện cho vùng kinh tế trọng điểm
Bắc bộ, Trung bộ, Nam bộ lần lượt là Hà Nội, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh.

25 | P a g e



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status