i
LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được hoàn thành tại Trường Đại học Lâm nghiệp theo chương trình
đào tạo Cao học Lâm nghiệp, chuyên ngành lâm học, khoá 18, giai đoạn 2009 – 2012.
Trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn, tác giả đã nhận được sự quan
tâm, giúp đỡ của Khoa Đào tạo Sau đại học, của các thầy cô giáo Trường Đại học
Lâm nghiệp, bạn bè đồng nghiệp,UBND, cán bộ và người dân địa phương xã
Chiềng Mung, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Nhân dịp này tác giả xin chân thành
cảm ơn về sự giúp đỡ quí báu đó.
Trước hết, tác giả xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS Phạm Xuân Hoàn người thầy trực tiếp hướng dẫn, tận tình giúp đỡ, truyền đạt những kiến thức quí báu cho
tác giả trong suốt thời gian công tác, học tập cũng như thực hiện luận văn.
Xin bày tỏ lòng cảm ơn đến Ban giám hiệu nhà Trường, Khoa Đào tạo Sau
đại học đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tác giả học tập và hoàn thành luận văn.
Xin chân thành cảm ơn các cán bộ, người dân xã Chiềng Mung, huyện Mai
Sơn, tỉnh Sơn La đã tạo điều kiện giúp đỡ tác giả suốt quá trình thực tập và thực
hiện luận văn.
Cuối cùng tác giả xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè và người
thân trong gia đình đã giúp đỡ, động viên tác giả trong suốt thời gian học tập và
hoàn thành luận văn này.
Mặc dù bản thân đã có nhiều tâm huyết, cố gắng và lỗ lực, song do trình độ
hạn chế nên đề tài này không tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Tôi kính mong
nhận được lời chỉ giáo, phê bình của các nhà khoa học, các thầy giáo cô giáo và
bạn bè đồng nghiệp để đề tài được hoàn thiện hơn.
Tôi xin cam đoan, đây là công trình của cá nhân tôi, các số liệu, kết quả
trong bản luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng công bố ở bất kỳ
công trình nào khác.
Hà Nội, tháng 10 năm 20012
Tác giả
2.4.3. Xử lý, tổng hợp và phân tích số liệu .......................................................18
iii
2.4.4. Phương pháp kế thừa các kết quả nghiên cứu và các số liệu đã có về
các vấn đề liên quan. ...........................................................................................22
Chương 3. ĐẶC ĐIỂM VỀ CÁC ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN KHU VỰC
NGHIÊN CỨU ................................................................................................ 23
3.1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên ................................................................ 23
3.1.1. Vị trí địa lý.................................................................................................23
3.1.2. Địa hình, địa mạo......................................................................................23
3.1.3. Khí hậu.......................................................................................................24
3.1.4. Thuỷ văn ....................................................................................................24
3.2. Các nguồn tài nguyên ........................................................................... 25
3.2.1. Tài nguyên đất...........................................................................................25
3.2.2. Tài nguyên nước .......................................................................................25
3.2.3. Tài nguyên rừng, thảm thực vật ..............................................................26
3.2.4. Tài nguyên khoáng sản ............................................................................27
3.2.5. Tài nguyên nhân văn ................................................................................27
3.3. Thực trạng môi trường ......................................................................... 28
Chương 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ........................... 29
4.1. Phân loại và lựa chọn các HTCT tại địa bàn nghiên cứu..................... 29
4.2. Phân tích cơ cấu cây trồng vật nuôi trong các HTCT. ........................ 29
4.2.1. Kết quả phân tích lịch mùa vụ các loài cây trồng ..................................29
4.2.2. Kết quả điều tra hiện trạng và đặc điểm các HTCT tại địa phương. ...31
4.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của HTCT .... 34
4.3.1. Tác động của yếu tố tự nhiên...................................................................36
4.3.2. Tác động của các yếu tố kinh tế ..............................................................37
4.3.3. Tác động của các yếu tố chính sách, xã hội ...........................................39
Effective Indicator Farming system
IRR
Internal Rate of Return
FAO
Food and Agriculture Organization
KHKT
Khoa học kỹ thuật
KNKL
Khuyến nông khuyến lâm
LN
Lợi nhuận
HGĐ
Hộ gia đình
HTCT
Hệ thống canh tác
Simple Agro – Livestock Technology
SALT3
Agro-Forest Land Technology
SALT4
Samll Agro-Fruit Livelihood Technology
SPSS
Stalistical Package for Social Science
và cs
và cộng sự
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng
Tên bảng
Trang
4.6
Tổng hợp các chỉ tiêu kinh tế của nhóm cây cây trồng dài ngày
49
4.7
Hiệu quả kinh tế của các PTCT cây ngắn ngày cho 1 ha/năm
50
4.8
Tổng hợp và đánh giá hiệu quả xã hội của các PTCT
53
4.9
Tổng hợp và đánh giá hiệu quả môi trường của các PTCT
55
4.10
Hiệu quả tổng hợp của các PTCT cây trồng dài ngày
57
ĐẶT VẤN ĐỀ
Phát triển kinh tế đang là vấn đề được đặt ra hàng đầu của cả nước nói chung và
của mỗi tỉnh nói riêng. Điều tra nghiên cứu hệ thống canh tác có tác dụng lớn trong
thống kê và lập kế hoạch nông lâm nghiệp, dự báo kinh tế, cải tiến cơ cấu sản xuất,
nhằm tăng hiệu suất sử dụng tài nguyên thiên nhiên, phát triển nông lâm nghiệp
thâm canh và ổn định lâu dài của mỗi địa phương.Vì mục tiêu của việc nghiên cứu
HTCT là tăng hiệu quả sử dụng tài nguyên, đầu tư tài nguyên kinh tế nhất định, để
tăng sản lượng nông lâm nghiệp và đem lại lợi nhuận cao nhất cho người sản xuất.
Hệ thống canh tác là hệ thống hoạt động của con người, cụ thể ở đây là người
nông dân, họ sử dụng tài nguyên như điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội trong một
phạm vi nhất định để tạo ra sản phẩm nông nghiệp để thỏa mãn nhu cầu ăn, mặc của
con người.
Xã Chiềng Mung, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La là một xã miền núi. Người dân
địa phương chủ yếu là dân tộc Thái và Kinh họ thường sống tập trung thành các
bản. Nơi đây, có nhiều tiềm năng cho sự phát triển như: Diện tích đất tự nhiên bình
quân trên đầu người lớn, khí hậu mưa ẩm lại có đường quốc lộ 6 chạy qua nên rất
thuận lợi cho giao thông và phát triển kinh tế. Tuy nhiên, đồng bào dân tộc với
HTCT cũ làm xói mòn đất, đất đai bị suy thoái một cách nhanh chóng, cuộc sống
người dân vẫn còn trong tình trạng đói nghèo và lạc hậu, làm cho họ trở thành
những người tác động nhiều nhất vào tài nguyên thiên nhiên, nhưng cũng là những
người có cuộc sống khó khăn nhất, được hưởng lợi ít nhất từ những nguồn tài
nguyên này .
Diện tích đất đai được đồng bào sử dụng làm nương rẫy cho năng suất thấp, nên
mặc dù diện tích canh tác tương đối lớn người dân vẫn không đủ lương thực cho
cuộc sống hàng ngày. Các HTCT mang đặc trưng điều kiện khí hậu đất đai địa hình
được hình thành chủ yếu dựa vào kinh nghiệm của người dân và ảnh hưởng trực
tiếp đến diện mạo sử dụng đất của địa phương. Nhưng để duy trì sự sống bền vững
2
nhất định để tạo ra sản phẩm thỏa mãn nhu cầu ăn, mặc của con người.
b, Các yếu tố trong HTCT
Con người là yếu tố trung tâm, trực tiếp tạo ra sản phẩm, tác động lớn đến các
yếu tố sinh học, tự nhiên, kinh tế, xã hội nhằm tạo ra hiệu quả của HTCT.
- Yếu tố sinh học: bao gồm các cây trồng, vật nuôi được nuôi trồng để thoả
mãn mục tiêu của con người. Yếu tố sinh học gồm các hệ thống phụ của HTCT:
+ Hệ phụ trồng trọt: là một phần chủ yếu của HTCT, trong đó hệ thống cây
trồng lại là bộ phận quan trọng, là trung tâm của hệ phụ trồng trọt. Để có một hệ
thống cây trồng hợp lý, phải tiến hành nghiên cứu mô hình cây trồng thích nghi với
điều kiện tự nhiên đồng thời xem xét đến sự tương tác giữa các loài cây trồng với
nhau, giữa cây trồng với chăn nuôi trong hệ thống. Điều quan trọng nữa cần phải
tính đến là khả năng của nông hộ và tình hình kinh tế, xã hội của địa phương nơi bố
trí hệ thống cây trồng.
+ Hệ phụ chăn nuôi: bao gồm tổng hợp các khâu kỹ thuật từ chọn giống vật
nuôi đến thức ăn, thú y, chế biến sản phẩm... Hệ phụ này có quan hệ chặt chẽ đến
trồng trọt, chúng tác động qua lại với nhau nhằm thoả mãn mục tiêu và nhu cầu của
nông hộ sao cho sự đem lại hiệu quả về mọi mặt là cao nhất.
- Yếu tố tự nhiên: gồm các yếu tố quan trọng là khí hậu, đất và nước, các yếu
tố này có ý nghĩa quyết định đến việc hình thành vùng sinh thái nông nghiệp, từ đó
là cơ sở bố trí cây trồng, vật nuôi phù hợp.
4
- Yếu tố kinh tế, xã hội: gồm những yếu tố như tín dụng, thị trường, các phong
tục tập quán trong đời sống cũng như trong canh tác, các yếu tố này ảnh hưởng rất
lớn đến hoạt động của các HTCT.
Tất cả các yếu tố của HTCT mang những thuộc tính nhất định và có mối quan
hệ chặt chẽ với nhau, thay đổi của yếu tố này sẽ tác động đến yếu tố khác và dẫn
đến sự thay đổi của toàn hệ thống.
kiểm soát của nông hộ nhằm hướng tới mục tiêu: bố trí canh tác hợp lý, biện pháp
kỹ thuật thích hợp, hiệu quả kinh tế và phát triển bền vững.
1.2. Kết quả nghiên cứu về HTCT
1.2.1. Trên thế giới
Trên thế giới, việc phát triển nông nghiệp hầu hết dựa vào các cơ sở sản xuất
tư nhân, chủ yếu là các trang trại, cung cấp sản phẩm nông lâm nghiệp phục vụ cho
cuộc sống người dân. Nhà nước, các tổ chức rất quan tâm đến sự tồn tại và phát
triển của các trang trại nên đã dành ngân sách không nhỏ để đầu tư cho kỹ thuật,
vốn với lãi suất ưu đãi. Việc nghiên cứu về HTCT đã được nhiều tác giả tiến hành
và theo nhiều hướng khác nhau.
Theo John Dixon và Aidan Gulliver (2001) [34], để các HGĐ nông dân nghèo
cải thiện cuộc sống, Chính phủ, Tổ chức phi chính phủ và các cơ quan quốc tế cần
phải tìm hiểu rõ hơn vấn đề nông sinh thái, thể chất, kinh tế, môi trường văn hóa mà
nông hộ sinh sống – hay chính là cần tìm hiểu hệ thông canh tác của họ. Chỉ bằng
cách này thì các chính sách, đầu tư, chương trình hỗ trợ mới có thể phát triển, triển
khai khả thi. Thông qua nhiều thử nghiệm cho thấy cách tiếp cận hệ thống canh tác
có thể được sử dụng để xác định các ưu tiên chính của địa phương, khu vực và quốc
tế để giảm đói nghèo.
Cũng theo các tác giả trên, thách thức cho các nước đang phát triển là xác định
nhu cầu cụ thể phát triển nông nghiệp nông thôn và các cơ hội để tập trung đầu tư
vào các khu vực mà tác động lớn nhất về an ninh lương thực và giảm nghèo sẽ đạt
được. Điều này có thể giải quyết bằng cách phân tích hệ thống canh tác để phát triển
sự hiểu biết về các yếu tố địa phương và các mối liên kết. Quá trình phân tích này
cũng rất hữu ích để có thể đến các điểm tổng hợp với những hạn chế sự phát triển
tương tự và cơ hội đầu tư thông qua việc áp dụng một khuôn khổ hệ thống canh tác.
6
7
thiểu góp phần phát triển nông lâm nghiệp ổn định trên đất dốc dưới 20 0. Những kết
quả nghiên cứu ở Kanđihult Bắc Thái Lan trồng cây ăn quả, cây cà phê theo băng
kết hợp với bón phân đã cho hiệu quả kinh tế cao và có tác dụng cải tạo nâng cao độ
phì của đất (dẫn theoThái Phiên, Nguyễn Tử Siêm, 1999) [17].
Khi phân tích các HTCT theo mô hình nông lâm kết hợp, chăn thả… Agbool.
A, 1990 đã cho rằng hệ thống đa dạng hoá cây trồng là tốt nhất. Việc sử dụng đất
dốc để trồng các loài cây nào còn tuỳ thuộc vào các yếu tố khác như mưa gây xói
mòn, tính chất của đất và nhất là phụ thuộc vào các biện pháp canh tác được sử
dụng để chống xói mòn vào điều kiện cụ thể của từng địa phương. Trên các vùng
đất dốc thường người ta không gieo trồng độc canh một loại cây liên tục mà trồng
gối, trồng xen, luân canh (dẫn theo Phạm Xuân Hoàn, 1996) [9].
Nghiên cứu về trồng xen theo băng: Kỹ thuật canh tác NLKH này được
nghiên cứu tại viện nông nghiệp nhiệt đới quốc tế Ibanda ( Wilson và Kang, 1980
trong đó cây họ đậu cố định đạm mọc nhanh được trồng thành hàng theo đường
đồng mức, giữa hai hàng cây này là cây nông nghiệp nhằm cung cấp gỗ, củi, thức
ăn gia súc và phân xanh để nâng cao độ phì và năng suất cây trồng.
Một trong những nghiên cứu thành công là: đã tìm ra hệ thống canh tác kỹ
thuật trên đất dốc (SALT) nhằm sử dụng đất dốc bền vững đã được Trung tâm đời sống
nông thôn ở Baptis Mindanao (Philippines) tổng kết, hoàn thiện và phát triển từ những
năm 1970 đến nay. Cho đến năm 1992, đã có bốn mô hình tổng hợp về kỹ thuật canh tác
nông nghiệp bền vững trên đất dốc được các tổ chức quốc tế ghi nhận đó là:
- Mô hình SALT1 (Slopping Agriculture Land Technology) đây là mô hình
tổng hợp trên cơ sở các biện pháp bảo vệ đất với sản xuất lương thực. Kỹ thuật này
với cơ cấu cây trồng gồm: 25% cây lâm nghiệp + 25% cây lưu niên + 50% cây nông
nghiệp hàng năm.
- Mô hình SALT2 (Simple Agro- Livestock Technology ) đây là mô hình kinh
tế nông súc kết hợp đơn giản với cơ cấu sử dụng đất là 40% dành cho sản xuất nông
nghiệp địa phương đã đưa ra các mô hình HTCT phù hợp với điều kiện tự nhiên,
kinh tế, xã hội của từng vùng, từng địa phương và từng nông hộ.
Phạm Chí Thành, Đoàn Văn Điểm, Phạm Tiến Dũng, Trần Đức Viên (1996)
[27], khi nghiên cứu về phương pháp luận trong nghiên cứu xây dựng hệ thống canh
9
tác ở miền Bắc Việt Nam đã chỉ ra việc xây dựng hệ thống canh tác phải được tiến
hành ở từng biến sinh thái và cân đối trong phạm vi các nhóm biến sinh thái, nếu
làm đúng và có phương pháp chuyển giao tốt sẽ trở thành lượng vật chất thực sự
góp phần tăng năng suất cây trồng.
Nghiên cứu về chuyển đổi HTCT trên đồi sinh thái vùng núi dốc tỉnh Sơn La
của Nguyễn Tiến Mạnh -Lê Thế Hoàng đã nhấn mạnh cần đưa HTCT tiến bộ và sử
dụng hợp lý đầy đủ đất đồi núi dốc dưới góc độ bảo vệ, bồi dưỡng đất và môi
trường sinh thái gắn liền với hệ thống nông nghiệp bền vững đồng thời phải xem xét
dưới góc độ xã hội.
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Đậu và các cộng sự về HTCT nông lâm
nghiệp ở vùng trung du miền núi phía Bắc Việt Nam cho thấy hiệu quả của các mô
hình canh tác trên đất dốc như sau: Mô hình canh tác cây lương thực sắn xen đậu
đỗ, lạc với các cây phân xanh chống xói mòn trên các loại đất phát triển trên sa
thạch, phiến thạch sét và phù sa cổ là biện pháp giải quyết phân bón tại chỗ có hiệu
quả cao để thâm canh tăng năng suất sắn trên đất dốc.
Theo Nguyễn Tử Siêm và Thái Phiên (1999) [17], đối với vùng cao, dân cư
thưa, trình độ dân trí thấp, sản xuất còn ở mức thô sơ, cơ sở hạ tầng thấp, an toàn
lương thực là vấn đề cấp bách vì vậy các mô hình canh tác có triển vọng là trồng
cây đặc sản, cây ăn quả, cây dược liệu phối hợp với bảo vệ rừng đầu nguồn, cây
trồng dưới tán rừng lâu năm, hạn chế du canh, chuyển đổi du canh thành nương
định canh với các loài cây họ đậu cải tạo đất. Theo Nguyễn Tử Siêm và Thái Phiên
[18] trên nhiều vùng đồi đất ở miền Bắc. Nhìn chung các nghiên cứu trên đã khẳng
đất thung lũng và đất phiến bãi); các hạn chế khi canh tác trên hệ thống canh tác này
là hệ số quay vòng sử dụng đất và tỷ trọng của hệ canh tác cải tiến thấp, các tác giả
cũng đưa ra một số mô hình chuyển dịch cơ cấu cây trồng.
Nhóm tác giả YNguyên Mlô, Phạm Văn Hiền, Nguyễn Văn Quý (1996) đã lựa
chọn mô hình phù hợp với 3 cấp độ dốc khác nhau: cấp 1 (00 – 50): lúa rẫy xen cây
phân xanh, cấp 2 (60 – 150): lúa rẫy xen đậu đỏ và cấp 3 (> 150): canh tác nông lâm
kết hợp; đồng thời cũng phân tích được ảnh hưởng của các mô hình canh tác môi
trường và kinh tế hộ, trong nghiên cứu về HTCT trên đất dốc bạc màu góp phần
định canh cho đồng bào dân tộc ở Đăklak.
11
Nhóm tác giả: Ngô Đình Quế, Đinh Văn Quang, Đinh Thanh Giang ( 2005) đã
nghiên cứu xây dựng mô hình luân canh nương rẫy nhằm rút ngắn thời gian bỏ hoá
ở Tây Bắc. Các mô hình thí nghiệm được xây dựng trên HTCT nương rẫy của một
số dân tộc vùng Tây Bắc chủ yếu của người Dao và người H, Mông, tiến hành từ
năm 1997 – 1999. Các tác giả đã nghiên cứu đưa ra một số giải pháp trồng xen cây
họ đậu trên đất nương rẫy ở Hoà Bình và Sơn La. Kết quả nghiên cứu cho thấy các
loài cây họ đậu trồng xen như: Đậu triều Ấn Độ, Cốt khí, Keo dậu, đều phát huy
được tác dụng bảo vệ và cải tạo đất, độ phì của đất tăng lên, năng suất các loại cây
trồng như Lúa, Ngô cao hơn rất nhiều so với nơi không trồng xen. Những nơi trồng
cây họ đậu phủ kín sau 3 năm năng cao độ phì đất, hạn chế xói mòn, thời gian bỏ
hoá rút ngắn 2 – 3 năm so với bỏ hoá tự nhiên.
Vương Văn Quỳnh (2002) [22], khi nghiên cứu luận cứ phát triển kinh tế - xã
hội vùng xung yếu hồ thủy điện Hòa Bình đã chỉ ra được các chính sách kinh tế xã
hội đã được triển khai tại khu vực và tác động của các chính sách đó đến đời sống
người dân và sự phát triển của khu vực. Nghiên cứu tác động của từng hệ canh tác
đến các yếu tố chính của môi trường vật lý và kinh tế - xã hội cho thấy mô hình
canh tác ruộng nước, nông lâm kết hợp, rừng trồng là có hiệu quả tác động dương
năng suất cây trồng nông nghiệp.
Điểm lại các công trình nghiên cứu về HTCT trên thế giới và ở Việt Nam
trong thời gian qua đã đề cập đến nhiều khía cạnh, kết quả nghiên cứu được ứng
dụng vào thực tiễn góp phần nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống của người dân.
Tuy nhiên, những kết quả này phần lớn là tổng kết và đánh giá các mô hình hiện có
ở một vùng nông thôn không có biến động nhiều trong đời sống, chưa phân tích
được đặc điểm các HTCT và ảnh hưởng của nó đến kinh tế HGĐ. Tại xã Chiềng
Mung là một xã miền núi kinh tế còn gặp nhiều khó khăn với địa hình hiểm trở, đất
canh tác độ dốc lớn bức tranh sinh thái, kinh tế xã hội đặc trưng cho không gian
nông nghiệp, lâm nghiệp và chăn nuôi rất phức tạp, càng làm tăng thêm tính đa
dạng của các HTCT. Trong bối cảnh đó không thể áp dụng mô hình phát triển nông
nghiệp nông thôn đồng nhất mà cần tìm hiểu đặc điểm các HTCT để đưa ra đề xuất
phù hợp. Chính vì vậy vấn đề nghiên cứu đặt ra là thực sự cần thiết.
13
Chương 2
MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1.Mục tiêu tổng quát
Xác định và đánh giá được đặc điểm một số hệ thống canh tác, đề xuất giải
pháp phát triển HTCT tại xã Chiềng Mung- Huyện Mai Sơn- Tỉnh Sơn La.
2.1.2.Mục tiêu cụ thể
Phân tích, đánh giá được hiệu quả kinh tế một số HTCT tại xã Chiềng Mung Huyện Mai Sơn - Tỉnh Sơn La, từ đó làm cơ sở đề xuất các giải pháp phát triển
HTCT theo hướng bền vững.
2.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những hệ thống canh tác tại xã Chiềng
- Sự tác động của người dân địa phương đến HTCT là hoạt động trong hệ
thống kinh tế, bởi hình thức và mức độ tác động gắn liền với các hoạt động kinh tế
như: sử dụng đất canh tác, khai thác lâm sản, chăn thả gia súc… Sự tác động này
cũng phụ thuộc vào sinh kế, mức sống, nhu cầu thị trường, khả năng đầu tư, lợi
nhuận trước mắt, hiệu quả kinh tế và thường quyết định tới việc lựa chọn HTCT.
Ngược lại, các HTCT cũng tác động mạnh mẽ tới tổng thu nhập, đời sống kinh tế
của các HGĐ. Liên hệ chặt chẽ đó là cơ sở để đề tài nghiên cứu mối quan hệ giữa
các yếu tố kinh tế của nông hộ với các HTCT, tác động của các nguyên nhân kinh tế
đến các HTCT và nghiên cứu giải pháp kinh tế nhằm phát triển các HTCT theo
hướng bền vững.
- Sự tác động của người dân địa phương đến HTCT là hoạt động xã hội vì các
hoạt động này là của con người, nhằm thỏa mãn nhu cầu, mục đích của con người
và chịu chi phối bởi nhiều yếu tố xã hội như: nhận thức của người dân về tầm quan
trọng của HTCT, trình độ học vấn, giới tính, trách nhiệm của cộng đồng, thể chế
chính sách,... Ngược lại, sự hình thành và phát triển các HTCT có tác động trở lại đến
đời sống, tập quán, văn hóa,... của cộng đồng. Dựa trên mối quan hệ đó, đề tài tiến
15
hành nghiên cứu các nguyên nhân xã hội chi phối sự tác động đến HTCT và nghiên
cứu đề xuất giải pháp xã hội nhằm phát triển các HTCT theo hướng bền vững.
Tóm lại, tiếp cận theo quan điểm hệ thống là xem xét HTCT như một hệ thống
tự nhiên mở, tồn tại khách quan và vận động theo những quy luật tự nhiên, các
thành phần có mối quan hệ tương tác chặt chẽ. Bất kỳ một tác động nào từ bên
ngoài tới HTCT cũng dẫn đến sự thay đổi các thành phần và chức năng của hệ
thống. Vì vậy, để phát triển các HTCT theo hướng bền vững thì những tác động của
con người phải phù hợp với quy luật tự nhiên, xã hội.
2.4.1.2. Quan điểm sinh thái – nhân văn
Sinh thái nhân văn là khoa học nghiên cứu về mối quan hệ tương hỗ giữa con
Trong nghiên cứu này, phương pháp tiếp cận cùng tham gia được áp dụng.
Trong đó người dân địa phương tham gia ở mức độ 3, tức là tham gia qua hình thức
tư vấn, cung cấp thông tin. Các phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA Rapid Rural Appraisal) và phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA Participatory Rural Appraisal) được sử dụng để thu thập thông tin cho nghiên cứu.
Các phương pháp này giúp thu thập được các thông tin từ chính người dân địa
phương, là cơ sở để phân tích đặc điểm kinh tế, xã hội của nông hộ và ảnh hưởng
của các yếu tố này đến các HTCT.
Tóm lại, vận dụng lý thuyết hệ thống, quan điểm sinh thái nhân văn và quan
điểm tiếp cận có sự tham gia để nghiên cứu là phương pháp nghiên cứu và phát
triển nông thôn nhìn toàn bộ HTCT là một tổng thể hệ thống, trong đó người nông
dân là trung tâm; tập trung vào những mối liên hệ tương hỗ, phụ thuộc giữa môi
trường tự nhiên và con người, giữa thành phần cấu tạo hệ thống trong tầm kiểm soát
của nông hộ và cách thức các thành phần này tác động qua lại với các yếu tố vật lý,
sinh học, kinh tế và xã hội ngoài tầm kiểm soát của nông hộ.
2.4.2. Phương pháp và công cụ thu thập số liệu
2.4.2.1. Chọn điểm nghiên cứu
Chọn điểm nghiên cứu là công việc được thực hiện trước khi điều tra thu thập
số liệu. Nguyên tắc của chọn điểm nghiên cứu là đại diện tương đối cho khu vực
nghiên cứu. Vì vậy, các tài liệu thứ cấp liên quan đến khu vực được nghiên cứu
nhằm tìm hiểu chung về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội khu vực và một đợt
17
khảo sát nhanh được tiến hành tại các địa điểm thuộc khu vực nghiên cứu nhằm tìm
hiểu những đặc trưng về địa hình và điều kiện kinh tế - xã hội của từng địa điểm.
2.4.1.2. Thu thập thông tin và số liệu điều tra hiện trường
Sử dụng các công cụ PRA sau đây để thu thập các thông tin và số liệu:
- Phỏng vấn bán định hướng: nhằm thu thập thông tin điều tra từ các cá nhân,
HGĐ trong sản xuất nông lâm nghiệp ở điểm nghiên cứu
+ Phỏng vấn cán bộ xã/ thôn: phỏng vấn cán bộ của 1 xã, 2 thôn nhằm tìm
liệu, so sánh giữa các nhóm hộ. Các tiêu chí phân loại được người dân đưa ra và giải
thích tại sao lại đưa ra các tiêu chí như vậy, danh sách các hộ trong thôn được ghi lên
các phiếu và để cho người dân tự đánh giá và xếp loại theo các tiêu chí đã đặt ra.
- Thảo luận nhóm về các chủ đề: lược sử tình hình sử dụng đất, hình thành và
phát triển các HTCT; các yếu tố và mức độ ảnh hưởng đến các HTCT; giải pháp
phát triển các HTCT theo hướng bền vững. Các cuộc thảo luận được tiến hành dựa
trên khung thảo luận chuẩn bị sẵn. Nhóm thảo luận gồm 5 - 7 người nhằm bổ sung
và thống nhất về các vấn đề liên quan đến sản xuất nông lâm nghiệp của gia đình và
địa phương, cụ thể là các HTCT.
- Phương pháp phân tích SWOT: nhằm xác định bối cảnh hiện tại và triển
vọng trong tương lai về mặt kinh tế xã hội và sản xuất nông lâm nghiệp của điểm
nghiên cứu.
- Phương pháp “5 tại sao”: áp dụng phương pháp này để tìm ra hệ thống các
nguyên nhân của vấn đề để giải quyết vấn đề cụ thể đặt ra. Đây là phương pháp đi
từ 5 nguyên nhân chính sau đó phát hiện các nguyên nhân thứ cấp. Từ các nguyên
nhân này sẽ làm cơ sở cho việc xem xét đề xuất các giải pháp khả thi cho việc phát
triển các hệ thống canh tác theo hướng bền vững.
2.4.3. Xử lý, tổng hợp và phân tích số liệu
2.4.3.1. Phương pháp tính các chỉ tiêu kinh tế
* Phương pháp động (đối với PTCT trồng cây lâu năm)
Phương pháp này coi các yếu tố chi phí, kết quả là có mối quan hệ động với
mục tiêu đầu tư và chịu tác động mạnh của nhân tố thời gian. Sở dĩ đề tài sử dụng
phương pháp này để đánh giá hiệu quả kinh tế vì chu kỳ của cây lâu năm phụ thuộc
vào các nhân tố thời gian, điều kiện sản xuất...