ĐỀ CƯƠNG THI TỐT NGHIỆP TRUNG CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ MÔN LỊCH SỬ ĐẢNG - Pdf 44

ĐỀ CƯƠNG THI TỐT NGHIỆP MÔN LỊCH SỬ ĐẢNG
Ghi chú

Nội dung
Câu 1: Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam
Bài làm:
1. Đảng ra đời là tất yếu lịch sử
a. Hoàn cảnh thế giới và trong nước tác động đến xã hội Việt Nam những năm cuối

thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20
Những tác động của tình hình thế giới:
Cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ XX sau khi chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh phát
triển thành chủ nghĩa đế quốc đã chiếm hầu hết các vùng đất trên thế giới biến các
nước nhỏ yếu thành những nước thuộc địa và phụ thuộc các dân tộc phải đứng lên
đấu tranh tự giải phóng khỏi ách chủ nghĩa đế quốc thực dân trở thành phong trào
giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ nhất là ở Châu Á
Cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất 1914 1918 phản ánh mâu thuẫn giữa các
nước đế quốc trên nhiều vấn đề trong đó có tranh chấp các thuộc địa các cuộc chiến
tranh càng làm sâu sắc thêm mâu thuẫn giữa vô sản và tư sản ở chính quốc và mâu
thuẫn giữa các dân tộc bị áp bức với Chủ nghĩa đế quốc chủ nghĩa thực dân
Năm 1917 Cách mạng tháng 10 Nga Thắng Lợi đã mở ra thời đại mới trong lịch
sử loài người thời đại quá độ lên Chủ nghĩa xã hội thắng lợi của Cách mạng Tháng
Mười Nga không chỉ có ý nghĩa to lớn đối với cách mạng vô sản ở các nước tư bản
mà còn có bố soi đường cho phong trào dân tộc thuộc địa tìm thấy con đường đấu
tranh đúng đắn Cách mạng tháng 10 Nga là tấm gương chỉ dẫn các dân tộc bị áp bức
con đường đấu tranh giành độc lập hoàn toàn và phát triển theo con đường xã hội
chủ nghĩa
Tại Đại hội 2 của Quốc tế Cộng sản năm 1920 Sơ thảo lần thứ nhất những luận
cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin được công bố Luận cương đã
chỉ ra phương hướng đấu tranh giải phóng các dân tộc bị áp bức những tư tưởng của
Lênin được những người mác xít chân chính trên thế giới thừa nhận và góp phần

chiếm đoạt ruộng đất để lập đồn điền của dân Pháp đẩy mạnh sưu cao thuế nặng
của nhà nước phong kiến thực dân bởi địa tô và cho vay nặng lãi của địa chủ phong
kiến đời sống nông dân Việt Nam Vì thế ngày thêm điêu đứng bị áp bức bóc lột nặng
nề đây là giai cấp có tinh thần đấu tranh kiên cường bất khuất cho nền độc lập tự do
của dân tộc và khát khao giành lại ruộng đất cho dân cày khi có lực lượng tiên phong
lãnh đạo giai cấp nông dân sẵn sàng bùng Dạy làm cách mạng lật đổ chính quyền
thực dân và phong kiến
Tư sản Việt Nam hình thành và phát triển trong quá trình khai thác thuộc địa
của thực dân Pháp một bộ phận gắn lợi ích với tư bản Pháp tham gia vào đời sống
chính trị kinh tế của chính quyền thực dân trở thành tầng lớp tư sản mại bản một bộ
phận là giai cấp tư sản dân tộc mâu thuẫn với tư bản Pháp nhưng thế lực kinh tế yếu
ớt phụ thuộc do vậy tư sản dân tộc tui có tinh thần yêu nước chống đế quốc và


phong kiến Nhưng họ không có khả năng lãnh đạo cách mạng
Tầng lớp tiểu tư sản Việt Nam gồm nhiều tầng lớp khác nhau từ những người
thợ thủ công tiểu thương tiểu chủ đến viên chức trí thức sinh viên học sinh bị đế
quốc tư bản chèn ép khinh miệt do đó có tinh thần dân tộc yêu nước và rất nhạy cảm
về chính trị và thời cuộc Tuy nhiên do địa vị kinh tế bấp bênh thái độ hai dao động
thiếu kiên định khi phong trào gặp khó khăn nhưng nếu được tổ chức cùng với công
nông thì đây là lực lượng đông đảo tích cực chống đế quốc và là bạn đồng minh của
giai cấp công nhân có vai trò quan trọng trong phong trào đấu tranh của nhân dân
nhất là ở đô thị
Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời cùng với quá trình thực dân Pháp thực hiện
cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất trái với ý muốn của thực dân pháp giai cấp vô
sản công nghiệp Việt Nam bắt đầu hình thành từ đầu thế kỷ XX khi tư bản Pháp thực
hiện kế hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng và thiết bị kinh tế phục vụ cho chương trình
khai thác ở Đông Dương ngoài những đặc điểm của giai cấp công nhân quốc tế đại
diện cho lực lượng sản xuất tiến bộ nhất không có tư liệu sản xuất bị bóc lột nên là
giai cấp kiên quyết cách mạng nhất có ý thức tổ chức kỷ luật cao giai cấp công nhân

Việt Nam một giai đoạn phát triển mới giai đoạn gắn phong trào cách mạng Việt Nam
với phong trào công nhân quốc tế đưa nhân dân Việt Nam đi theo con đường mà
chính người đã trải qua từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác Lênin
Từ đây người tiếp tục học tập để bổ sung hoàn thiện Tư tưởng cứu nước Đồng
thời tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác Lênin về Việt Nam nhằm chuẩn bị các bước
tiền đề về tư tưởng chính trị và tổ chức cho sự ra đời của chính Đảng tiên phong ở
Việt Nam
Về tư tưởng năm 1921 Nguyễn Ái Quốc cùng với một số nhà cách mạng của các
nước thuộc địa khác thành lập Hội Liên hiệp Thuộc địa năm 1922 ra báo Người Cùng
Khổ người viết nhiều bài trên các báo Nhân Dân đời sống công nhân Tạp chí Cộng Sản
tạp chí thư tín quốc tế Nguyễn Ái Quốc đã tích cực tố cáo lên án bản chất bóc lột của
Chủ Nghĩa Thực dân đối với nhân dân các nước thuộc địa và kêu gọi thức tỉnh nhân
dân bị áp bức đấu tranh giải phóng người đã góp phần quan trọng vào việc tố cáo tội
ác của chủ nghĩa thực dân Pháp ở các thuộc địa chỉ rõ bản chất của chủ nghĩa thực
dân xác định chủ nghĩa thực dân là kẻ thù chung của các dân tộc thuộc địa của giai
cấp công nhân và nhân dân lao động thế giới
Về chính trị lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã hình thành một hệ thống luận điểm
chính trị sau này phát triển thành nội dung cơ bản trong cương lĩnh chính trị của
Đảng
Một là từ thực tiễn lịch sử phong trào cách mạng thế giới Nguyễn Ái Quốc
khẳng định con đường cách mạng của các dân tộc bị áp bức là chỉ có giải phóng giai
cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự
nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và của cách mạng thế giới
Hai là xác định cách mạng giải phóng dân tộc là một bộ phận của cách mạng vô
sản thế giới cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và cách mạng chính
quốc có quan hệ chặt chẽ với nhau hỗ trợ cho nhau nhưng không phụ thuộc vào
nhau cách mạng giải phóng dân tộc có thể thành công trước cách mạng chính quốc


góp phần thúc đẩy cách mạng chính quốc

Như vậy Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên chưa phải là chính đảng cộng sản
nhưng chương trình hành động đã thể hiện quan điểm lập trường của giai cấp công
nhân là tổ chức tiền thân dẫn tới sự ra đời các tổ chức cộng sản ở Việt Nam gọi là tổ


chức trực tiếp truyền bá chủ nghĩa Mác Lênin vào trong nước và cũng là sự chuẩn bị
quan trọng về tổ chức để tiến tới thành lập chính Đảng của giai cấp vô sản ở Việt
Nam những hoạt động của hội có ảnh hưởng và thúc đẩy mạnh mẽ đến sự chuyển
biến của phong trào công nhân phong trào yêu nước trong những năm 1928 1929
theo khuynh hướng cách mạng vô sản
Năm 1928 Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên tổ chức phong trào vô sản hóa
hội viên đã thúc đẩy phong trào yêu nước Việt Nam theo khuynh hướng cách mạng
vô sản nâng cao ý thức giác ngộ và lập trường cách mạng của giai cấp công nhân vì
vậy phong trào công nhân đã nổ ra mạnh mẽ sôi nổi đều khắp 3 Kỳ
2. Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
a. Những chuyển biến trong phong trào yêu nước Việt Nam và sự ra đời 3 tổ chức

cộng sản
Sự chuyển biến mạnh mẽ của các phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân
dân ngày càng lên cao nhu cầu thành lập một chính Đảng cách mạng có đủ khả năng
tập hợp lực lượng toàn dân tộc và đảm nhiệm vai trò lãnh đạo sự nghiệp giải phóng
dân tộc ngày càng trở nên bức thiết đối với cách mạng Việt Nam
Tháng 5 năm 1929 tại đại hội lần thứ nhất của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh
niên đoàn đại biểu bắc kỳ đề nghị thành lập Đảng cộng sản nhưng không được chấp
nhận sau đó đoàn đại biểu bắc kỳ đã bỏ về nước tháng 6 năm 1929 thành lập Đông
Dương Cộng Sản Đảng ra báo Búa Liềm là cơ quan ngôn luận. Tháng 11 năm 1929 kỳ
bộ Nam Kỳ Quyết định thành lập An Nam Cộng Sản Đảng xuất bản báo đỏ làm cơ
quan ngôn luận tại Trung Kỳ Tân Việt cách mạng Đảng chịu tác động của Hội Việt Nam
Cách mạng Thanh niên đã thành lập Đông Dương Cộng sản Liên Đoàn
Ba tổ chức Cộng sản ra đời đã khẳng định bước phát triển quan trọng của

nghĩa Mác Lênin và phong trào công nhân Việt Nam mà khi giai cấp công nhân lúc đó
chỉ chiếm 1% dân số
Công lao to lớn của Nguyễn Ái Quốc là đã tập hợp được các lực lượng cộng sản
phân tán thành một khối Nhờ đó mà đưa lại cho những người lao động Đông Dương
một đội Tiên Phong chiến đấu và kiên quyết cách mạng
Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập đã khẳng định dứt khoát nội dung xu hướng
phát triển của xã hội Việt Nam là gắn liền độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội sự lựa
chọn con đường cách mạng vô sản phù hợp với nội dung và xu thế của thời đại mới
được mở ra từ Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời trở
thành một bộ phận khăng khít của cách mạng vô sản thế giới
Sự kiện thành lập Đảng cộng sản Việt Nam là một bước ngoặt quyết định trong
sự phát triển của dân tộc tạo ra những tiền đề và nhân tố hàng đầu quyết định đưa
cách mạng Việt Nam đi Từ thắng lợi này đến thắng lợi khác
3. Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh năm 1930:
a. Nội dung cơ bản của cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng

Chính cương vắn tắt của Đảng sách lược vắn tắt của Đảng được thông qua tại


Hội nghị thành lập Đảng đã phản ánh về đường hướng phát triển của những vấn đề
cơ bản về chiến lược và Sách lược của Cách mạng Việt Nam vì vậy Có thể khẳng định
rằng Chính cương vắn tắt của Đảng sách lược vắn tắt của Đảng là cương lĩnh chính trị
đầu tiên của Đảng cộng sản Việt Nam
Chính cương vắn tắt của Đảng phân tích đánh giá khái quát đặc điểm cơ bản
nhất của kinh tế xã hội Việt Nam dưới chế độ thuộc địa nửa phong kiến đặc biệt
phân tích tính chất độc quyền khai thác thuộc địa của tư bản pháp gây nên hậu quả
kiềm hãm sự phát triển kinh tế của Việt Nam xuất phát từ Phân tích thực trạng và
mâu thuẫn trong xã hội Việt Nam một xã hội thuộc địa nửa phong kiến mâu thuẫn
giữa dân tộc Việt Nam trong đó có công nhân nông dân với đế quốc ngày càng gay
gắt cần phải giải quyết từ đó chính cương xác định đường lối chiến lược của Cách

hiệp
Phát huy tinh thần tự lực tự cường đồng thời tranh thủ sự đoàn kết ủng hộ của
các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản thế giới nhất là vô sản Pháp cương lĩnh nêu rõ
cách mạng Việt Nam liên lạc mật thiết và là một bộ phận của cách mạng vô sản thế
giới như vậy ngay từ khi thành lập Đảng cộng sản Việt Nam đã nêu cao chủ nghĩa
quốc tế và mang bản chất quốc tế của giai cấp công nhân
Về vai trò lãnh đạo của Đảng Với tư cách là đội Tiên Phong của giai cấp vô sản
sách lược vắn tắt của Đảng ghi rõ Đảng là đội tiên phong của vô sản giai cấp phải thu
phục cho được đại bộ phận giai cấp mình phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được
dân chúng Đảng là đội tiên phong của đạo quân vô sản gồm một số lớn của giai cấp
công nhân và làm cho họ có đủ năng lực lãnh đạo quần chúng
b. Ý nghĩa lịch sử của cương lĩnh chính trị đầu tiên đối với tiến trình cách mạng Việt

Nam
cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng đã phản ánh một cách súc tích các luận
điểm cơ bản về đường lối chiến lược và Sách lược của Cách mạng Việt Nam trong đó
thể hiện bản lĩnh chính trị độc lập tự chủ sáng tạo trong việc đánh giá đặc điểm tính
chất xã hội thuộc địa nửa phong kiến Việt Nam trong những năm 20 của thế kỷ 20 chỉ
rõ những mâu thuẫn cơ bản chủ yếu của dân tộc Việt Nam lúc đó đặc biệt là việc
đánh giá đúng đắn sát thực thái độ của các Giai tầng xã hội đối với nhiệm vụ giải
phóng dân tộc từ đó các văn kiện đã xác định chiến lược và Sách lược của Cách mạng
Việt Nam đồng thời xác định phương pháp cách mạng nhiệm vụ cách mạng và lực
lượng của cách mạng để thực hiện đường lối chiến lược và Sách lược đã đề ra
Cương lĩnh chính trị phản ứng được quy luật khách quan của xã hội Việt Nam
đáp ứng những nhu cầu cơ bản và cấp bách của xã hội Việt Nam phù hợp với xu thế
của thời đại định hướng chiến lược đúng đắn cho tiến trình phát triển của Cách mạng
Việt Nam
Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng là sự vận dụng đúng đắn sáng tạo chủ
nghĩa Mác Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của một nước thuộc địa nửa phong kiến đó
chính là giải quyết đúng đắn các mối quan hệ cốt lõi trong cách mạng Việt Nam kết

Bài làm:
a/ Luận cương chính trị tháng 10-1930
* Hoàn cảnh:
- Tháng 4-1930, Trần Phú về nước hoạt động, được bổ sung vào Ban Chấp hành Trung ương lâm thời,
cùng Ban Thượng vụ chuẩn bị cho Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương.
- Từ ngày 14 đến 31-10-1930, Ban Chấp hành Trung ương họp Hội nghị lần thứ nhất tại Hương Cảng,
Trung Quốc do Trần Phú chủ trì. Hội nghị thống nhất:
+ Đổi tên Đảng Cộng sản Việt Nam thành Đảng Cộng sản Đông Dương.
+ Thông qua Luận cương chính trị của Đảng Cộng sản Đông Dương do Trần Phú soạn thảo.
+ Cử Trần Phú làm Tổng Bí thư.
* Nội dung Luận cương chính trị:


- Phương hướng chiến lược của cách mạng Đông Dương: lúc đầu là cuộc “cách mạng tư sản dân
quyền”, có “tính chất thổ địa và phản đế”. Sau khi cách mạng tư sản dân quyền thắng lợi sẽ tiếp tục
phát triển bỏ qua thời kỳ tư bản mà đấu tranh thẳng lên con đường xã hội chủ nghĩa.
- Nhiệm vụ cách mạng:
Xoá bỏ tàn tích phong kiến và đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc
lập. Hai nhiệm vụ đó có quan hệ khăng khít với nhau. Trong đó “vấn đề thổ địa cách mạng là cái cốt
của cách mạng tư sản dân quyền”.
- Lực lượng cách mạng: Vô sản và nông dân là lực lượng chính, trong đó vô sản lãnh đạo cách mạng.
Bỏ qua, phủ nhận vai trò của tư sản, tiểu tư sản, địa chủ và phú nông.
- Vai trò của Đảng: “điều kiện cốt yếu cho sự thắng lợi của cuộc cách mạng ở Đông Dương là cần phải
có một Đảng Cộng sản”. Đảng phải có kỷ luật tập trung, mật thiết liên lạc với quần chúng và được vũ
trang bởi chủ nghĩa Mác-Lênin.
- Phương pháp cách mạng: Võ trang bạo động, theo khuôn phép nhà binh.
- Quan hệ quốc tế: Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới vì thế giai cấp vô sản
Đông Dương phải gắn bó với giai cấp vô sản thế giới, trước hết là vô sản Pháp. Liên hệ với phong trào
cách mạng ở các nước thuộc địa, nửa thuộc địa.
* Ý nghĩa của Luận cương :

là hiện tượng ngẫu nhiên, mà là kết quả tất yếu của các điều kiện khách quan và chủ quan trong đời
sống xã hội của nước ta lúc đó. Cuộc khủng hoảng kinh tế 1929-1933 đã thúc đẩy thực dân Pháp
tăng cường cấu kết với thế lực phong kiến thuộc địa ra sức bóc lột nhân dân Việt Nam và đẩy đời
sống của toàn thể nhân dân lâm vào tình trạng cùng cực; buộc nhân dân ta vùng dậy đấu tranh
chống bọn thực dân đế quốc và phong kiến thuộc địa. Đảng ra đời là nhân tố quyết định và là nguyên
nhân trực tiếp dẫn đến cao trào cách mạng 1930-1931 mà đỉnh cao là Xô Viết Nghệ Tĩnh. Cao trào
cách mạng 1930-1931 là cuộc tổng diễn tập đầu tiên của cách mạng Việt Nam để tiến tới giành chính
quyền trên cả nước.
Thứ hai, Đảng lãnh đạo cao trào dân chủ Đông Dương 1936-1939. Tháng 7-1936, Hội nghị Ban Chấp
hành Trung ương Đảng đã họp ở Thượng Hải (Trung Quốc) do đồng chí Lê Hồng Phong chủ trì, và
nhận định: Nhiệm vụ cơ bản của cách mạng tư sản dân quyền (chống đế quốc, chống phong kiến để
dành độc lập cho dân tộc và ruộng đất cho nông dân) không thay đổi, nhưng lúc này chưa phải là
nhiệm vụ trực tiếp. Yêu cầu cấp thiết trước mắt của nhân dân lúc này là tự do, dân chủ, cải thiện đời
sống. Do đó, Đảng phải lãnh đạo thành lập mặt trận dân chủ công khai và rộng rãi, bao gồm các giai
cấp, các tôn giáo, các đảng phái, các đoàn thể chính trị,… nhằm tập trung chống kẻ thù cụ thể, trực
tiếp trước mắt là chủ nghĩa phát xít và bọn phản động ở thuộc địa Việt Nam để bảo vệ hoà bình, đòi
thực hiện tự do, dân chủ, cải thiện đời sống cho nhân dân.
Thứ ba, Đảng lãnh đạo cao trào giải phóng dân tộc 1939-1945. Ngay khi chiến tranh thế giới thứ hai
bùng nổ (tháng 9-1939), Trung ương Đảng đã họp Hội nghị lần thứ 6 (tháng 11-1939) để điều chỉnh
chiến lược cách mạng với nội dung: Đặt nhiệm vụ chống đế quốc và tay sai, giành độc lập dân tộc lên
hàng đầu. Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương, nhằm
thu hút tất cả các dân tộc, giai cấp, đảng phái, tôn giáo và các cá nhân yêu nước để đánh đổ đế quốc
và tay sai, dành độc lập hoàn toàn cho các dân tộc ở Đông Dương. Trung ương Đảng đã kịp thời chỉ
đạo các tổ chức đảng và quần chúng nhanh chóng rút vào hoạt động bí mật, chuyển hướng hoạt
động về nông thôn, tránh sự đàn áp khủng bố của kẻ thù. Tháng 11-1940, Hội nghị Trung ương Đảng
lần thứ 7 họp ở Đình Bảng (Từ Sơn, Bắc Ninh), khẳng định chủ trương của Hội nghị Trung ương Đảng
lần thứ 6 là đúng, và cử đồng chí Trường Chinh làm Bí thư Trung ương Đảng lâm thời. Tháng 02-1941
lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam. Tháng
5-1941, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 đã họp tại Pắc Bó (Cao Bằng), do lãnh tụ Nguyễn Ái


nghĩa nhanh chóng chín muồi. Kẻ thù chính, cụ thể trước mắt của nhân dân Đông Dương lúc này là
phát xít Nhật; phải nhanh chóng phát động cao trào chống Nhật, cứu nước, đồng thời thực hiện khởi
nghĩa từng phần, giành chính quyền từng bộ phận, chuẩn bị mọi điều kiện để tiến tới tổng khởi nghĩa.
Trước tình hình phát xít Nhật thẳng tay vơ vét, bóc lột, gây ra một nạn đói khủng khiếp và làm chết
gần hai triệu người, Đảng kịp thời đề ra khẩu hiệu “Phá kho thóc của Nhật để cứu đói”. Khẩu hiệu đó
đã lôi cuốn hàng triệu quần chúng, nhất là nông dân, đứng lên chống Nhật, giành chính quyền về tay
nhân dân. Từ giữa tháng 3-1945, cách mạng Việt Nam đã nhanh chóng trở thành cao trào. Đến giữa
tháng 8-1945, lực lượng cách mạng, bao gồm cả lực lượng chính trị và vũ trang, đã phát triển rộng rãi
khắp nông thôn và đô thị. Ngày 13-8-1945, Chính phủ Nhật đã đầu hàng Liên Xô và các nước Đồng
minh vô điều kiện. Quân Nhật ở Đông Dương lâm vào tình thế bị tê liệt. Chính phủ tay sai Trần Trọng
Kim hoang mang cực độ. Trước tình hình đó, Đại hội quốc dân đã họp ở Tân Trào (Tuyên Quang) từ
ngày 13 đến ngày 15-8-1945 dưới sự chủ trì của Hồ Chí Minh, thống nhất với chủ trương của Đảng


Cộng sản Đông Dương là nhanh chóng phát động toàn dân kịp thời đứng lên tổng khởi nghĩa, quyết
tâm giành chính quyền từ tay phát xít Nhật. Đại hội đã cử ra Ủy ban dân tộc giải phóng do Hồ Chí
Minh làm chủ tịch để lãnh đạo tổng khởi nghĩa. Mệnh lệnh khởi nghĩa của Uỷ ban dân tộc giải phóng
và lời kêu gọi cả nước đứng lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền của Hồ Chủ tịch được các địa
phương nhiệt liệt hưởng ứng. Từ ngày 14 đến 28-8-1945, cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền đã
thắng lợi hoàn toàn trên cả nước. Chính quyền từ trung ương đến các địa phương đã thuộc về nhân
dân Việt Nam. Ngày 02-9-1945, tại Quảng Trường Ba Đình lịch sử, Hồ Chủ tịch đã đọc Bản Tuyên ngôn
độc lập, long trọng tuyên bố với nhân dân trong cả nước và các quốc gia trên thế giới: Nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà đã ra đời, có chủ quyền độc lập như mọi quốc gia khác trên toàn thế giới.

Ghi chú

Nội dung
Câu 3: Đảng lãnh đạo Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân (1945 – 1975)
Bài làm:


- Từ Tuyên ngôn độc lập đến Chỉ thị kháng chiến kiến quốc (25/11/1945), Công
việc khẩn cấp bây giờ (10/1946), Chỉ thị toàn dân kháng chiến (12/12/1946) và
lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/12/1946), những quan điểm cơ bản
của đường lối kháng chiến đã được hình thành. Giữa năm 1947, Tổng Bí thư
Trường Chinh đã viết một loạt bài báo tập hợp thành cuốn sách Kháng chiến
nhất định thắng lợi.
- Đường lối của cuộc kháng chiến tập trung ở một số nội dung sau:
+ Mục đích của cuộc kháng chiến là giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ
quốc, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân, góp phần bảo vệ hoà bình thế giới.
+ Tính chất kháng chiến lúc này vẫn là “cuộc cách mạng giải phóng.
Cuộc cách mạng ấy đang tiếp diễn, nó chưa hoàn thành, vì nước chưa hoàn toàn
được độc lập”.
+ Nhiệm vụ của cuốc kháng chiến được xác định ngay từ đầu là “vừa
kháng chiến, vừa kiến quốc”. Hai nhiệm vụ đó bổ sung, hỗ trợ cho nhau đưa sự
nghiệp cách mạng đến thắng lợi.
+ Lực lượng kháng chiến: Huy động sức mạnh toàn dân tộc, các tầng lớp
nhân dân tập hợp trong Mặt trận Việt Minh, Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam
và các tổ chức quần chúng khác.
+ Phương châm của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp được khái
quát: toàn dân, toàn diện, lâu dài và dựa vào sức mình là chính để đưa cuộc
kháng chiến đi đến thắng lợi.
 Toàn dân kháng chiến: Đảng chủ trương động viên sức mạnh
toàn dân tộc bằng những hình thức, biện pháp phong phú, phù hợp để tổ chức cả
nước thành một mặt trận, tạo nên thế trận cả nước đánh giặc.
 Kháng chiến toàn diện nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của
cuộc kháng chiến chống lại cuộc chiến tranh xâm lược trên tất cả các lĩnh vực:
chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá, ngoại giao, tạo thành sức mạnh tổng hợp.
Về chính trị, phải đoàn kết toàn dân chống Pháp xâm lược, phải thống
nhất toàn dân, làm cho mặt trận dân tộc thống nhất mỗi ngày một vững, mỗi
ngày một rộng. Phải củng cố chế độ cộng hoà dân chủ, xây dựng bộ máy kháng

- Khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp chưa chấm dứt, Đảng ta đã nhận
rõ âm mưu của Mỹ. Tại Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương khoá II
Từ ngày 15/07 đến ngày 17/07/1954, Đảng đã nhận định: “Hiện nay đế quốc
Mỹ là kẻ thù chính của nhân dân thế giới và nó đang trở thành kẻ thù chính là
trực tiếp của nhân dân Đông dương, cho nên mọ việc của ta đều nhằm chống đế
quốc Mỹ”.
- Ngày 06/09/1954, Bộ Chính trị ra Chỉ thị về tình hình mới và nhiệm vụ công
tác mới của miền Nam nêu lên các nhiệm vụ của cách mạng miền Nam:
+ Đấu trang đòi thi hành Hiệp định Genève.
+ Chuyển hướng công tác cho thích hợp với điều kiện hoà bình, vừa che
giấu lực lượng, vừa lợi dụng những điều kiện mới để tiếp tục hoạt động.
+ đoàn kết, tập hợp mọi lực lượng đấu tranh đòi tự do dân chủ, đánh đổ
tập đoàn Ngô Đình Diệm, thống nhất Tổ quốc bằng tổng tuyển cử.
Như vậy, cách mạng miền Nam đã chuyển từ đấu tranh vũ trang sang đấu
tranh chính trị đòi thi hành Hiệp định Genève.
- Tháng 10/1954, Xứ uỷ Nam Bộ được thành lập do đồng chí Lê Duẩn làm Bí
thư. Tháng 06/1956, đồng chí Lê Duẩn – Uỷ viên Bộ chính trị, Bí thư Xứ uỷ
Nam Bộ đã dự thảo bản “Đề cương cách mạng Việt Nam ở miền Nam”. Bản đề
cương đã làm sáng tỏ một số vấn đề về lý luận và thực tiễn cách mạng miền
Nam. Nhưng do điều kiện thực tế, chưa đề ra được những biện pháp cụ thể thúc
đẩy tình hình cách mạng miền Nam.
- Tháng 12/1957, tại Hội nghị lần thứ 13 Ban chấp hành Trung ương khoá II,


Đảng ta nhận định: “Ta đồng thời chấp hành hai chiến lược cách mạng: cách
mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa”.
- Tháng 01/1959, Ban chấp hành Trung ương họp Hội nghị lần thứ 15 đã ra
Nghị quyết về cách mạng miền Nam. Nghị quyết xác định nhiệm vụ trước mắt
là: đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược và gây
chiến, đánh đổ tập đoàn thống trị độc tài Ngô Đình Diệm tay sai, thực hiện độc

nếu địch gây ra”.
- Tháng 12/1965, Hội nghị lần thứ 12 Ban Chấp hành Trung ương khoá III nhận
định: Mỹ đưa quân vào miền Nam, nhưng lực lượng so sánh giữa ta và địchvẫn
không thay đổi lớn. Vì thế, cuộc kháng chiến vẫn giữ vững và phát triển thế


chiến lược tiến công. Hội nghị lần thứ 12 Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã
quyết định những vấn đề chiến lược cơ bản của cuộc kháng chiến chống Mỹ.
Nghị quyết Hội nghị là sự kết tinh ý chí kiên cường, trí tuệ và tài năng sáng tạo
của Đảng.
- Kết hợp với những thắng lợi về quân sự và chính trị, ngày 28/01/1967, Hội
nghị lần thứ 13 Ban Chấp hành Trung ương khoá III đã quyết định mở mặt trận
ngoại giao nhằm tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế, phát huy sức mạnh tổng hợp
để đánh Mỹ.
- Tháng 11/1968, trong chỉ thị gởi đảng bộ miền Nam, Bộ Chính trị vạch rõ
phương hướng của năm 1969 là “công kích và khởi nghĩa” mùa xuân và mùa
hè. Tháng 04/1969, Bộ Chính trị ra Nghị quyết về “tình hình và nhiệm vụ trước
mắt” là: tiếp tục đẩy mạnh tổng công kích, tổng khởi nghĩa, phát triển chiến
lược tiến công một cách toàn diện, liên tục và mạnh mẽ.
- Tháng 01/1970, Hội nghị lần thứ 18 Ban Chấp hành Trung ương khoá III đề ra
nhiệm vụ trước mắt là: đẩy mạnh cuộc kháng chiến trên tất cả các mặt, vừa tấn
công, vừa xây dựng lực lượng, giành thắng lợi từng bước đi lên giành thắng lợi
quyết định.Tháng 06/1970, Bộ Chính trị ra Nghị quyết về tình hình mới trên
bán đảo Đông Dương và nhiệm vụ mới của chúng ta. Nghị quyết Bộ Chính trị
đã nêu rõ: huy động sức mạnh cả nước tiến hành tiến công và phản công đánh
Mỹ và tay sai trên toàn Đông Dương.
- Tháng 07/1973, Hội nghị lần thứ 21 Ban Chấp hành Trung ương khoá III đã ra
Nghị quyết “Thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và
nhiệm vụ của cách mạng miền Nam Việt Nam trong giai đoạn mới”.
- Hội nghị đề ra nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miền Nam là: hoàn thành cách

động đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”
- Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ
quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa luôn gắn bó
chặt chẽ, mật thiết với nhau; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để phát
triển đất nước là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, của cả
hệ thống chính trị toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân, Công an nhân dân là
nòng cốt.
Mục tiêu trọng yếu của quốc phòng, an ninh là: Phát huy mạnh mẽ sức mạnh
tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, tranh thủ tối đa sự đồng
tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững
chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ
Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ công cuộc đổi
mới, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc;
bảo vệ nền văn hoá dân tộc; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định chính trị, an
ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.
- Tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh; xây dựng thế trận quốc phòng
toàn dân, thế trận an ninh nhân dân vững chắc. Chủ động đấu tranh làm thất bại
mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; ngăn chặn, phản
bác những thông tin và luận điệu sai trái, đẩy lùi các loại tội phạm và tệ nạn xã
hội; sẵn sàng ứng phó với các mối đe doạ an ninh truyền thống và phi truyền
thống, bảo đảm an ninh, an toàn thông tin, an ninh mạng.
Kết hợp chặt chẽ kinh tế, văn hoá, xã hội với quốc phòng, an ninh và quốc
phòng, an ninh với kinh tế, văn hoá, xã hội trong từng chiến lược, quy hoạch, kế
hoạch phát triển kinh tế - xã hội, chú trọng vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển,
đảo. Kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại; tăng cường hợp
tác quốc tế về quốc phòng, an ninh. Xây dựng “thế trận lòng dân”, tạo nền tảng
vững chắc xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân,... Xây dựng
Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng




đất nước của đảng ta 1986 đến nay

Bài làm:
1. Đường lối đổi mới đất nước của đảng
- Hội nghị trung ương 6 năm 1979: Hội nghị Trung ương 6 khóa IV (81979), với chủ trương bằng mọi cách "làm cho sản xuất bung ra", là bước
đột phá đầu tiên của quá trình tìm tòi và thử nghiệm đó. Hội nghị chủ
trương ổn định nghĩa vụ lương thực trong 5 năm, phần dôi ra được bán cho
Nhà nước hoặc trao đổi tự do; khuyến khích mọi người tận dụng ao hồ,
ruộng đất hoang hóa; đẩy mạnh chăn nuôi gia súc dưới mọi hình thức; sửa
lại thuế lương thực và giá lương thực để khuyến khích sản xuất; sửa lại chế
độ phân phối nội bộ hợp tác xã nông nghiệp, bỏ lối phân phối theo định


suất, định lượng, v.v...Tư tưởng cốt lõi của Hội nghị là: Phải tận dụng các
thành phần kinh tế: quốc doanh, công tư hợp doanh, tập thể, cá thể (kể cả tư
sản được kinh doanh hợp pháp); kết hợp với quy mô lớn: vừa, nhỏ, kỹ
thuật, thủ công, nửa cơ giới và cơ giới; kết hợp trung ương, địa phương
(tỉnh thành, huyện) và cơ sở. Tận dụng mọi khả năng về lao động, tài
nguyên và năng lực sản xuất của các ngành kinh tế, quốc phòng, văn hoá để
sản xuất hàng tiêu dùng.
-

Hội nghị Trung ương 8 khóa V (6-1985) lại là bước đột phá thứ hai với
chủ trương dứt khoát xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, thực hiện
cơ chế một giá; xóa bỏ chế độ cung cấp hiện vật theo giá thấp; chuyển mọi
hoạt động sản xuất kinh doanh sang cơ chế hạch toán kinh doanh xã hội chủ
nghĩa... Tháng 9 năm 1985, cuộc tổng điều chỉnh giá lương - tiền được bắt
đầu bằng việc đổi tiền, xóa bỏ hoàn toàn chế độ tem phiếu. Do tư tưởng
nóng vội, cuộc tổng điều chỉnh này đã dẫn tới tình trạng giá cả thị trường có

Đổi mới về cơ chế quản lý kinh tế: cơ chế kế hoạch hóa theo phương thức
hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa.

Đổi mới về nội dung và cách thức công nghiệp hóa, thực hiện 3 chủ trương
kinh tế:
+Sản xuất lương thực, thực phẩm
+ Sản xuất hàng tiêu dùng
+ Sản xuất hàng xuất khẩu.
Đổi mới về chính trị

Đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng, đổi mới quản lý và điều
hành của nhà nước cho phù hợp với cô cấu và cơ chế kinh tế mới.

Đổi mới về quan hệ hợp tác quốc tế theo hướng mở, kêu gọi hợp tác và đầu
tư nước ngoài.
2. Quátrình bổ sung, phát triển đường lối:
a. Đại hội 7 năm 1991:
Đại hội đã tổng kết đánh giá việc thực hiện đường lối đổi mới của đại
hội VI, đề ra chủ trương, nhiệm vụ nhằm kế thừa, phát huy những thành
tựu, ưu điểm đã đạt được, khắc phục khó khăn, yếu kém mắc phải trong
bước đầu đổi mới; ngăn ngừa những lệch lạc phát sinh trong quá trình
đó; điều chỉnh bổ sung, phát triển đường lối đổi mới để tiếp tục đưa sự
nghiệp đổi mới của đất nước tiến lên.
Đại hội VII đề ra Kế hoạch 5 năm 1991-1995 và quyết định phương hướng, nhiệm
vụ, mục tiêu kinh tế xã hội của Kế hoạch là:






Đại hội đã tổng kết đánh giá, kiểm điểm 15 năm thực hiện đừơng lối đổi mới của đại
hội VI và 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội 8, đề ra chủ trương, nhiệm vụ nhằm kế
thừa, phát huy những thành tựu, ưu điểm đã đạt được; điều chỉnh bổ sung, phát
triển đường lối đổi mới để tiếp tục đưa sự nghiệp đổi mới của đất nước tiến lên
trong thời đại mới[2]. Xuất phát từ đặc điểm tình hình đất nước và quốc tế, Đại hội
khẳng định tiếp tục nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đại hội cũng đã
đề ra chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm (2001-2010).
Kế hoạch 5 năm 2001-2005
Xuất phát từ đặc điểm tình hình trong và ngoài nước Đại hội IX đề ra Kế hoạch 5 năm
2001-2005 và quyết định phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu kinh tế xã hội của Kế
hoạch là:

Đưa đất nước thoát khỏi tình trạng kém phát triển.

Nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần nhân dân

Tạo nền tảng để đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành một nước công
nghiệp theo hướng hiện đại.
d. Đại hội 10
Đại hội X chủ trương tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn
với phát triển kinh tế tri thức; giải quyết tốt các vấn đề xã hội, văn hoá,
giáo dục, khoa học và công nghệ; tăng cường quốc phòng và an ninh,
mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc
tế; phát huy dân chủ và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, hoàn thiện
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; đổi mới, chính đốn Đảng, nâng
cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, bổ sung, sửa đổi Điều
lệ Đảng.


phát triển; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế;
6. Sáu là, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn
dân tộc, củng cố và mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất;
7. Bảy là, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do
nhân dân, vì nhân dân;
8. Tám là, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh
f. Đại hội 12
Nội dung: tăng cường xâ dựng đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao
năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của đảng, xây dựng hệ thống chính
trị vững mạnh. Phát huy sức mạnh toàn dân tộc và dân chủ xã hội chủ
nghĩa. Đẩy mạnh toàn diện , đồng bộ công cuộc đổi mới, phát triển kinh
tế nhanh, bền vững, phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước
công nghiệp theo hướng hiện đại. nâng cao đời sống vật chất và tinh
thần của nhân dân. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc
lập chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc, bảo vệ đảng,
nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Giữ gìn hòa bình, ổn
định chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, nâng cao vị thế và uy tín


của việt nam trong khu vực và trên thế giới.
3. Liên hệ đại hội đảng bộ thành phố
a. Mục tiêu chung

Xây dựng Đảng bộ thành phố thật trong sạch, vững mạnh; tăng cường hiệu lực, hiệu
quả quản lý Nhà nước; không ngừng đổi mới, năng động, sáng tạo, giữ vững ổn định
chính trị - xã hội; nâng cao chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh của kinh tế
thành phố, gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, xây dựng con người, thực
hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường; nâng cao phúc lợi xã hội và chất
lượng cuộc sống của Nhân dân. Xây dựng thành phố Hồ Chí Minh có chất lượng sống
tốt, văn minh, hiện đại, nghĩa tình; có vai trò động lực trong sự nghiệp công nghiệp



Trích đoạn thực hiện thắng lợi mục tiêu tổng quát nêu trên, cần tập trung lãnh đạo thực hiện tốt những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu sau đây:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status