BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
Dương Thị Hồng Ánh
NGHIÊN CỨU BÀO CHẾ
HỆ TIỂU PHÂN NANO NHẰM TĂNG
SINH KHẢ DỤNG CỦA CURCUMIN
DÙNG THEO ĐƯỜNG UỐNG
Chuyên ngành: Công nghệ dược phẩm và bào chế thuốc
Mã số: 62720402
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ DƯỢC HỌC
Hà Nội, năm 2017
Công trình được hoàn thành tại
- Bộ môn Bào chế, Trường Đại học Dược Hà Nội
- Bộ môn Công nghiệp Dược, Trường Đại học Dược Hà Nội
- Trung tâm Tương đương sinh học, Viện Kiểm nghiệm thuốc
Trung ương
- Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương
- Khoa hóa học, trường Đại học Khoa học tự nhiên, Đại học
Quốc gia Hà Nội
- Viện tiên tiến Khoa học và công nghệ, Đại học Bách khoa
Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học:
TS. Nguyễn Trần Linh
DC
: Dược chất
EMA
: European Medicines Agency
(Cơ quan quản lý thuốc Châu Âu)
FDA
: Food and Drug Administration
(Cơ quan quản lý thuốc thực phẩm)
GBC
: Glibenclamid
GTTB
: Giá trị trung bình
HPLC
: High Performance Liquid Chromatography
(Sắc ký lỏng hiệu năng cao)
HQC
: High quality control (Mẫu kiểm tra nồng độ cao)
IS
: Internal standard (Chất chuẩn nội)
KTTP
: Kích thước tiểu phân
KTTPTB
: Kích thước tiểu phân trung bình
kl/kl
: Khối lượng/khối lượng
kl/tt
: Khối lượng/thể tích
LC-MS
: Liquid chromatography-Mass spectrometry
(Sắc ký lỏng khối phổ)
SEM
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
SKD
SQC
TBME
THC
Tmax
:
:
:
:
:
TPGS
tt/tt
Standard error (Sai số chuẩn)
Scanning Electron Microscope
(Kính hiển vi điện tử quét)
Sinh khả dụng
Supplement quality control (Mẫu kiểm tra bổ sung)
Tert-butyl methylether
Tetrahydrocurcumin
Time of maximum plasma drug concentration
(Thời gian đạt nồng độ thuốc tối đa)
D-alpha-tocopheryl poly (ethylen glycol) succinat 1000
Thể tích/thể tích
Thời gian bán thải
Thời gian lưu
Tween
Upper Limit of Quantification
(Giới hạn định lượng trên)
The United States-Food and Drug Administration
(Cơ quan quản lý thực phẩm và thuốc Mỹ)
MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của luận án
Curcumin là một thành phần hoạt tính có trong thân rễ một số loài
nghệ, đặc biệt là Nghệ vàng (Curcuma longa L.). Hợp chất này có
nhiều tác dụng dược lý nhưng ít tan và bị chuyển hóa, thải trừ nhanh
khi dùng đường uống.
Nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới đã đề cập đến một số
biện pháp cải thiện sinh khả dụng của curcumin dùng đường uống
theo nhiều hướng: tăng độ tan và độ hòa tan của curcumin hoặc làm
giảm chuyển hóa, thải trừ của curcumin. Để đạt được những mục tiêu
chứa hệ tiểu phân nano curcumin dùng đường uống trên chuột thí
nghiệm. Mô hình đánh giá này khả thi và có thể áp dụng cho các
nghiên cứu đánh giá SKD đường uống của hệ tiểu phân nano. Phương
pháp đánh giá SKD dựa trên việc định lượng đồng thời chất gốc
curcumin và chất chuyển hóa tetrahydrocurcumin trong huyết tương
chuột bằng kỹ thuật LC-MS/MS lần đầu tiên được xây dựng và thẩm
định tại Việt Nam. Kết quả của phương pháp phân tích có thể ứng
dụng trong các nghiên cứu dược động học của curcumin trên động vật
thí nghiệm, tạo tiền đề cho các nghiên cứu dược động học của
curcumin trên người. Dựa trên kết quả thực nghiệm của mô hình này,
có thể kết luận hệ tiểu phân nano bào chế được đã cải thiện sinh khả
dụng đường uống của curcumin do làm tăng độ tan, tốc độ hòa tan và
tính thấm của curcumin. Đồng thời, nghiên cứu đã xác định được
hằng số tốc độ chuyển hóa của chất gốc curcumin sang chất chuyển
hóa tetrahydrocurcumin trên chuột thí nghiệm dựa trên mô hình dược
động học quần thể một ngăn có chuyển hóa.
Cấu trúc của luận án
Luận án gồm 150 trang không kể tài liệu tham khảo và phụ lục,
66 bảng, 36 hình, 115 tài liệu tham khảo. Bố cục gồm: Đặt vấn đề (1
2
trang); Tổng quan (29 trang); Nguyên liệu, trang thiết bị, nội dung và
phương pháp nghiên cứu (25 trang); Kết quả nghiên cứu (66 trang);
Bàn luận (28 trang); Kết luận và đề xuất (1 trang); Danh mục các
công trình đã công bố liên quan đến luận án (1 trang); Tài liệu tham
khảo (13 trang); Phụ lục (56 trang).
Chương 1. TỔNG QUAN
1.1. CURCUMIN
1.1.1. Nguồn gốc
bị phân hủy trong môi trường sinh lý của hệ thống dạ dày ruột, tốc
độ chuyển hóa và thải trừ nhanh. Sản phẩm của quá trình chuyển hóa
có thể là tetrahydrocurcumin và một số dạng liên hợp glucuronid,
sulfat của curcumin và tetrahydrocurrumin.
1.2. MỘT SỐ BIỆN PHÁP CẢI THIỆN SINH KHẢ DỤNG CỦA
CURCUMIN DÙNG ĐƯỜNG UỐNG
1.2.1. Biện pháp làm tăng độ tan và tốc độ hòa tan của curcumin
Để cải thiện độ tan và tốc độ hòa tan của curcumin, các công trình
nghiên cứu đã đề cập đến các biện pháp bào chế hệ nano tinh thể, hệ
phân tán rắn, hệ micel, hệ vi nhũ tương, nhũ tương nano, hệ tự nhũ
hóa hoặc dạng liên hợp.
1.2.2. Biện pháp làm giảm chuyển hóa và thải trừ của curcumin
Với mục đích làm giảm chuyển hóa và thải trừ của curcumin có
thể bào chế hệ nano chứa chất mang nhằm cải thiện độ ổn định, kéo
dài thời gian lưu trong đường tiêu hóa và giảm sự thải trừ nhanh khỏi
cơ thể. Một số hệ nano chứa chất mang được nghiên cứu để cải thiện
SKD của curcumin như hệ nano polyme, hệ nano lipid, phức hợp
phospholipid, liposome, hệ tiểu phân nano cubosome. Ngoài ra, việc
phối hợp curcumin với các chất ức chế chuyển hóa như piperin,
quercetin hoặc silibinin cũng là một giải pháp làm giảm chuyển hóa
4
curcumin. Nguyên nhân do các chất này ức chế không hoạt tính quá
trình glucuronid ở gan và ruột.
1.3. MỘT SỐ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU SINH KHẢ DỤNG
CỦA CURCUMIN
Để đánh giá SKD in vitro của curcumin, có thể sử dụng phương
pháp đánh giá giải phóng trực tiếp trong môi trường, đánh giá giải
Nội dung nghiên cứu của luận án bao gồm: Thẩm định phương
pháp định lượng; Nghiên cứu tiền công thức; Nghiên cứu bào chế và
đánh giá một số đặc tính của hệ tiểu phân nano curcumin; Nghiên
cứu ảnh hưởng khi nâng quy mô bào chế đến đặc tính của hệ tiểu
phân nano curcumin; Dự thảo tiêu chuẩn cơ sở và theo dõi độ ổn
định của hệ tiểu phân nano curcumin; Đánh giá SKD của hệ tiểu
phân nano curcumin trên chuột thí nghiệm.
2.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1. Thẩm định phương pháp định lượng
2.3.1.1. Thẩm định phương pháp định lượng curcumin bằng
quang phổ hấp thụ UV-Vis: Xác định bước sóng cực đại hấp thụ,
xây dựng đường chuẩn biểu diễn mối tương quan giữa độ hấp thụ và
nồng độ curcumin.
2.3.1.2. Thẩm định phương pháp định lượng curcumin bằng sắc
ký lỏng hiệu năng cao
Phương pháp HPLC được lựa chọn với các điều kiện sắc ký: cột
sắc ký AQ – C18 250 x 4,6 mm, hạt nhồi 5 µm. Pha động:
acetonitril: dung dịch acid acetic 2% (kl/tt) (58:42), lọc qua màng lọc
kích thước lỗ lọc 0,45 µm. Tốc độ dòng: 1,5 ml/phút. Thể tích tiêm
mẫu: 20 µl. Detector UV-Vis phát hiện ở bước sóng 430 nm.
Thẩm định phương pháp định lượng curcumin dựa trên các chỉ
tiêu: tính thích hợp, tính chọn lọc-độ đặc hiệu, khoảng tuyến tính, độ
đúng và độ chính xác.
6
2.3.1.3. Thẩm định phương pháp định lượng đồng thời curcumin
và chất chuyển hóa tetrahydrocurcumin trong huyết tương chuột
Xử lý mẫu: Thêm 10 l dung dịch chuẩn nội (glibenclamid) vào
ống nghiệm chứa 100 l huyết tương. Chiết bằng dung môi tert-butyl
µm, ly tâm 10 phút với tốc độ 12000 vòng/phút, lấy phần dịch trong,
lọc 2 lần qua màng lọc cellulose acetat kích thước lỗ lọc 0,2 µm.
Định lượng curcumin bằng phương pháp LC-MS/MS.
i. Phương pháp đánh giá độ hòa tan của curcumin
Sử dụng thiết bị cánh khuấy với tốc độ quay 100 vòng/phút, môi
trường hòa tan 900 ml nước chứa 0,2% Tween 80, nhiệt độ 37 ±
0,5oC, khối lượng mẫu thử tương ứng với 5,0 mg curcumin.
Sau các khoảng thời gian 10, 20, 30, 40, 50 và 60 phút, lấy
khoảng 10 ml dung dịch thử, ly tâm 5 phút với tốc độ 12000
vòng/phút. Phần dịch trong được định lượng curcumin bằng phương
pháp quang phổ hấp thụ UV-Vis ở bước sóng 427 nm. Sau khi đo
quang, rót toàn bộ phần cắn và phần dịch ly tâm vào cốc thử độ hòa
tan.
2.3.2.2. Nghiên cứu độ ổn định hóa học của curcumin ở trạng thái
rắn
Các mẫu nguyên liệu curcumin được đóng trong lọ thủy tinh ở
trạng thái lọ mở hoặc đóng nắp và theo dõi ở các điều kiện khắc
nhiệt: điều kiện ẩm và nhiệt trong 14 ngày (độ ẩm 75 ± 5%, nhiệt độ
40 ± 2oC); điều kiện độ ẩm cao 90%, nhiệt độ phòng trong 7 ngày;
điều kiện nhiệt khô 60oC trong 7 ngày và tác động cơ học bằng cách
nghiền bi inox 6 giờ. Đánh giá thay đổi hình thức bên ngoài bằng
cảm quan và xác định lại hàm lượng curcumin bằng phương pháp
HPLC.
8
2.3.2.3. Nghiên cứu tương tác dược chất-tá dược
Phối hợp dược chất và một trong các tá dược Tween 80, Tween
60, Cremophor RH40, Poloxame 188, PVP, PVA, manitol,
nhờ lực phân cắt lớn với tốc độ 18000 vòng/phút trong thời gian 60
phút tạo hỗn dịch nano.
Bào chế hệ tiểu phân nano curcumin dạng bột phun sấy
Đối với mẻ 1 g, tiến hành phun sấy hỗn dịch nano. Đối với mẻ 5
g, hòa tan chất mang thân nước vào 15 ml nước còn lại, phối hợp với
hỗn dịch nano và tiến hành phun sấy với các thông số: nhiệt độ đầu
vào 96oC, tốc độ cấp dịch 2 ml/phút và tỷ lệ thông gió 99%.
2.3.3.2. Kiểm soát các thông số trong quá trình bào chế
Nghiên cứu được tiến hành với 3 mẻ liên tiếp ở quy mô 5 g/mẻ,
khảo sát ảnh hưởng của các thông số kỹ thuật trọng yếu như thời
gian và tần số nghiền trong giai đoạn nghiền khô và nghiền ướt, tốc
độ và thời gian khuấy trong giai đoạn đồng nhất hóa.
2.3.3.3. Phương pháp đánh giá một số đặc tính của tiểu phân nano
curcumin
Hệ tiểu phân nano curcumin được đánh giá hình thái, diện tích bề
mặt, độ xốp, phổ nhiễu xạ tia X, quét nhiệt vi sai, phổ hồng ngoại,
hàm lượng curcumin, độ tan và độ hòa tan tương tự như đối với
nguyên liệu curcumin. Kích thước tiểu phân trung bình, hệ số đa
phân tán, thế Zeta được xác định bằng thiết bị Zetasizer ZS90
Malvern. Mất khối lượng do làm khô được xác định bằng cân xác
định mất khối lượng do làm khô. Xác định khối lượng riêng biểu
kiến và hiệu suất của quá trình bào chế.
2.3.3.4. Phương pháp thiết kế thí nghiệm, đánh giá ảnh hưởng của
thành phần công thức, thông số quy trình và tối ưu hóa
Sử dụng phần mềm MODDE 8.0, FormRules 2.0 và INForm 3.1.
10
2.3.3.5. Phương pháp phân tích thống kê
Phoenix NLME 7.0.
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. KẾT QUẢ THẨM ĐỊNH PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH LƯỢNG
3.1.1. Kết quả khảo sát phương pháp định lượng curcumin bằng
quang phổ hấp thụ UV-Vis
Kết quả khảo sát cho thấy: có sự phụ thuộc tuyến tính giữa mật độ
quang và nồng độ curcumin tại bước sóng 427 nm trong khoảng
nồng độ đã khảo sát với hệ số tương quan r ≈ 1. Như vậy, trong
trường hợp nhằm sơ bộ xác định độ hòa tan, có thể sử dụng phương
pháp quang phổ hấp thụ UV-Vis để định lượng curcumin trong mẫu
nghiên cứu.
3.1.2. Kết quả khảo sát thẩm định phương pháp định lượng
curcumin bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao
Kết quả thẩm định phương pháp định lượng curcumin bằng
HPLC cho thấy phương pháp có tính thích hợp và độ đặc hiệu đối
với curcumin. Trong khoảng nồng độ khảo sát có tương quan tuyến
tính giữa diện tích pic và nồng độ curcumin. Kết quả khảo sát cho
thấy phương pháp có độ đúng cao với phần trăm tìm lại nằm trong
khoảng 98,0-102,0%, RSD nhỏ hơn 2%. Đồng thời, độ chính xác với
RSD nhỏ hơn 2%. Như vậy, có thể sử dụng phương pháp HPLC
trong phân tích hàm lượng curcumin và nghiên cứu độ ổn định của
chế phẩm chứa curcumin.
3.1.3. Kết quả thẩm định phương pháp định lượng đồng thời
curcumin và chất chuyển hóa tetrahydrocurcumin trong huyết
tương chuột
Trong huyết tương chuột, phương pháp định lượng đồng thời
curcumin và chất chuyển hóa tetrahydrocurcumin bằng LC-MS/MS
12
diện hoạt/curcumin là 10%. Hỗn dịch nano sử dụng Tween 80 với tỷ
lệ khối lượng Tween 80/curcumin là 10% được chọn vì có có
KTTPTB nhỏ nhất (269,0 ± 34,57 nm), PDI 0,34 ± 0,09. Kết quả
khảo sát các mẫu hỗn dịch nano bào chế với tỷ lệ Tween
80/curcumin khác nhau cho thấy, tỷ lệ Tween 80/curcumin được
khảo sát trong khoảng từ 5-15%. Hỗn dịch nano curcumin được tiến
hành bào chế phối hợp với các polyme thân nước khác nhau như
PVP, Na CMC hoặc PVA. Kết quả đánh giá KTTPTB cho thấy: hỗn
dịch nano sử dụng Na CMC có KTTPTB cao hơn so với hai mẫu sử
dụng PVP và PVA. Nghiên cứu đã lựa chọn PVP trong thành phần
hỗn dịch với tỷ lệ khối lượng PVP được khảo sát trong khoảng từ 10100% so với khối lượng curcumin.
3.3.2. Xác định một số thông số trong quy trình bào chế hỗn dịch
nano
Kết quả khảo sát đã lựa chọn tốc độ đồng nhất hóa 18000
vòng/phút trong thời gian 15 phút.
3.3.3. Xác định một số thông số trong quy trình bào chế bột phun
sấy chứa nano
Nhiệt độ khí vào được khảo sát trong khoảng 70-100oC và tốc độ
phun dịch được khảo sát trong khoảng 1-5 ml/phút.
3.3.4. Đánh giá ảnh hưởng của một số yếu tố thuộc về công thức
và thông số trong quy trình bào chế đến đặc tính của tiểu phân
nano
3.3.4.1. Thiết kế thí nghiệm
Sử dụng phần mềm MODDE 8.0 để thiết kế thí nghiệm theo thiết
kế hợp tử tại tâm, với 4 biến đầu vào (tỷ lệ Tween 80/curcumin 515%, tỷ lệ PVP/curcumin 10-100%, tốc độ phun dịch 1-5 ml/phút,
nhiệt độ khí vào 70-100oC) và các biến đầu ra bao gồm: hiệu suất,
14
Hệ tiểu phân nano curcumin bào chế theo công thức tối ưu có
KTTPTB 223,1 ± 3,5 nm và PDI 0,326 ± 0,045. Hiệu suất 62,75%,
mất khối lượng do làm khô 11,43%. Bột phun sấy chứa nano
curcumin có độ hòa tan được cải thiện rõ rệt so với nguyên liệu ban
đầu.
3.4. NGHIÊN CỨU NÂNG QUY MÔ BÀO CHẾ VÀ DỰ KIẾN
TIÊU CHUẨN CHẤT LƯỢNG
3.4.1. Xây dựng công thức bào chế tiểu phân nano curcumin ở
quy mô 5 gam/mẻ
Hỗn dịch nano được bào chế với tỷ lệ các thành phần tương tự mẻ
1 g nhưng bổ sung thêm chất mang manitol với tỷ lệ 50% về khối
lượng so với curcumin.
3.4.2. Khảo sát các thông số trọng yếu, giai đoạn trọng yếu trong
quy trình bào chế hệ tiểu phân nano curcumin quy mô 5 g/mẻ
Bào chế hệ tiểu phân nano curcumin, khảo sát ảnh hưởng của các
thông số trọng yếu. Kết quả nghiên cứu lựa chọn được tần số nghiền
khô của thiết bị nghiền bi là 30Hz và thời gian nghiền 6 giờ
(KTTPTB 8,79 ± 0,22 µm, Span 2,6 ± 0,2) trong buồng nghiền bi
inox; quá trình nghiền ướt với bi zirconi oxyd kích thước 0,8 mm,
thời gian 4 giờ ở tần số 30 Hz (KTTPTB 0,96 ± 0,11 µm, Span 2,67
± 0,26) và giai đoạn đồng nhất hóa được tiến hành với tốc độ đồng
nhất hóa 18000 vòng/phút trong 60 phút (KTTPTB 381,3 ± 22,4 nm,
PDI 0,437 ± 0,033).
3.4.3. Đánh giá một số đặc tính của hệ tiểu phân nano curcumin
quy mô 5 g/mẻ
3.4.3.1. Hình thái học tiểu phân nano
Các tinh thể curcumin phân tán vào trong cấu trúc hình cầu của
PVP, tinh thể manitol tồn tại hỗn độn hoặc bám dính trên bề mặt tiểu
16
80 0
70 0
60 0
Mẫu trắng
50 0
40 0
Dòng nhiệt (mW)
12 00
30 0
Bột PS chứa nano
20 0
10 0
0
2
10
3.4.3.5. Phổ hồng ngoại của hệ tiểu phân nano
Phổ hồng ngoại của hệ tiểu phân nano cho thấy có sự thay đổi về
dao động hóa trị O-H tại số sóng 3502,73 cm-1, có thể do tương tác
bởi liên kết hydro nội phân tử giữa curcumin và PVP.
3.4.3.6. Hiệu suất, mất khối lượng do làm khô và khối lượng riêng
biểu kiến
Ba mẻ bột phun sấy chứa nano curcumin có hiệu suất đạt trên
60,0%; khối lượng riêng biểu kiến lần lượt là 0,329 ± 0,024, 0,350 ±
0,017 và 0,345 ± 0,009 g/ml; mất khối lượng do làm làm khô của 3
mẻ lần lượt là 9,35, 8,87 và 9,67%.
3.4.3.7. Hàm lượng curcumin
Hàm lượng curcumin trong 3 mẻ bột phun sấy chứa nano
curcumin xác định bằng phương pháp quang phổ hấp thụ UV-Vis lần
lượt là 42,29 ± 0,36, 41,49 ± 0,42, 41,62 ± 0,19%. Hàm lượng
curcumin của 3 mẻ bột phun sấy chứa nano curcumin được xác định
bằng phương pháp HPLC lần lượt là 42,36 ± 0,24, 42,24 ± 0,13 và
41,82 ± 0,27%.
3.4.3.8. Độ tan
Độ tan của curcumin từ 3 mẻ bột phun sấy chứa nano curcumin
lần lượt là 1,96 ± 0,08, 1,91 ± 0,12 và 1,98 ± 0,10 µg/ml.
3.4.3.9. Độ hòa tan
Độ hòa tan của curcumin từ 3 mẻ bột phun sấy chứa nano
curcumin lần lượt: mẻ 1 (10 phút: 63,8 ± 2,4%, 20 phút: 78,8 ± 2,6%,
30 phút: 83,2 ± 1,7%, 40 phút: 93,5 ± 1,9%, 50 phút: 97,1 ± 0,8% và
18
60 phút: 100,7 ± 1,0%), mẻ 2 (10 phút: 66,4 ± 1,8%, 20 phút: 76,9 ±
1,5%, 30 phút: 82,4 ± 0,9%, 40 phút: 89,6 ± 1,5%, 50 phút: 98,1 ±
1,3% và 60 phút: 100,2 ± 2,2%), mẻ 3 (10 phút: 68,1 ± 1,7%, 20
Hỗn dịch quy ước
Hỗn dịch nano
Nồng độ CUR trong
huyết tương (ng/ml)
40
30
20
10
0
0
100
200
300
400
500
Thời gian (phút)
Hình 3.26. Đường cong nồng độ curcumin-thời gian của nhóm chuột
uống hỗn dịch quy ước và hỗn dịch nano
Bảng 3.52. Một số thông số dược động học trên chuột uống hỗn dịch
quy ước và hỗn dịch nano tính toán không dựa trên mô hình ngăn
Kết quả thu được ở bảng 3.52 cho thấy: dạng hỗn dịch nano có
giá trị Cmax cao gấp 14,5 lần, AUC0240 phút cao gấp 8,8 lần so với hỗn
dịch quy ước. Như vậy, hỗn dịch nano bào chế từ hệ tiểu phân nano
cải thiện SKD của curcumin so với hỗn dịch quy ước.
20
3.6.2. Xác định các thông số dược động học của chất gốc
curcumin và chất chuyển hóa tetrahydrocurcumin trên chuột
sau khi uống hỗn dịch nano curcumin
Đối với nhóm chuột uống hỗn dịch quy ước, nồng độ chất chuyển
hóa THC rất thấp và hầu hết đều dưới nồng độ LLOQ (0,5 ng/ml). Vì
vậy, nghiên cứu chỉ xác định các thông số dược động học của CUR
và chất chuyển hóa THC trên nhóm chuột uống hỗn dịch nano. Các
thông số dược động học được tính toán và xử lý thống kê dựa trên
mô hình một ngăn có chuyển hóa với hiệp biến khối lượng chuột ảnh
hưởng đến thể tích phân bố, hằng số tốc độ hấp thu và hằng số tốc độ
thải trừ. Kết quả đánh giá một số thông số dược động học cho thấy:
hằng số tốc độ hấp thu của chất gốc (Ka) 65,2 phút-1, thể tích phân bố
của chất gốc (V) 49885,4 ml, hằng số tốc độ chuyển hóa từ chất gốc
sang chất chuyển hóa (Km) 0,00007 phút-1, hằng số tốc độ thải trừ
của chất gốc (Ke) 0,003 phút-1, thể tích phân bố của chất chuyển hóa
(Vm) 42,3 ml và hằng số tốc độ thải trừ của chất chuyển hóa (Kem)
36,3 phút-1.
Chương 4. BÀN LUẬN
4.1. VỀ HỆ TIỂU PHÂN NANO CHỨA CURCUMIN
Curcumin là một DC ít tan thuộc nhóm IV trong hệ thống phân
loại sinh dược học, có SKD thấp do ít tan và bị chuyển hóa, thải trừ
nhanh. Trong nghiên cứu này, hệ tiểu phân nano bào chế được bằng