SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC TIẾNG ANH - Pdf 44

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƢ DUY TRONG GIẢNG DẠY TIẾNG ANH
PHẦN I: MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn sáng kiến:
Tiếng Anh ngày càng trở nên phổ biến, nó đƣợc xem là cầu nối con ngƣời từ
những nƣớc khác nhau trên thế giới xích lại gần nhau hơn. Hơn thế nữa nhờ có
tiếng Anh mà con ngƣời đã có đƣợc những bƣớc tiến đáng kể trong nhiều lĩnh vực.
Việc học Tiếng Anh là quan trọng và cần thiết hơn bao giờ hết.
Nhận thức rõ tầm quan trọng của việc học tiếng Anh, đã nhiều năm nay Bộ
giáo dục và đào tạo quyết định môn tiếng Anh là một trong những môn học chính
khoá ở tất cả các bậc học trong hệ thống giáo dục và là môn thi tốt nghiệp trung
học phổ thông. Tiếng Anh ngày càng đƣợc đông đảo các tầng lớp trong xã hội
quan tâm, càng có nhiều học sinh có hứng thú, có nhu cầu nghiên cứu chuyên sâu
với môn học.
Theo sự phát triển không ngừng của xã hội, giáo dục không ngừng thay đổi
để đáp ứng với sự phát triển đó. Mục tiêu giáo dục hiện nay đang tập trung hƣớng
vào việc phát triển tính năng động, sáng tạo và tích cực của học sinh nhằm tạo khả
năng nhận biết và giải quyết vấn đề cho các em. Để đạt đƣợc mục tiêu này, việc
thay đổi phƣơng pháp dạy học theo hƣớng coi trọng ngƣời học - coi học sinh là chủ
thể của hoạt động, khuyến khích các hoạt động học tập tích cực, chủ động, sáng tạo
của các em trong quá trình dạy học là rất cần thiết.
Tuy nhiên bộ môn tiếng Anh là một bộ môn khó và tƣơng đối khô khan đối
với học sinh trong việc tiếp thu kiến thức mới, hiểu và nắm đƣợc nội dung chủ đề
của bài đọc, từ vựng, cấu trúc mới,…Vì thế đa số học sinh không nắm đƣợc bài trở
nên chán nản, thụ động trong giờ học.
Trƣớc tình hình đó, là giáo viên tiếng Anh tôi luôn suy nghĩ làm thế nào để
mang lại cho học trò những bài học thật thú vị, mới mẻ, kích thích sự ham học,
tính chủ động của các em từ khá giỏi đến yếu kém, làm sao sau mỗi bài học không
chỉ học sinh khắc sâu kiến thức, ấn tƣợng, nhớ mãi mà còn giúp các em tự tin, chủ
động dần lên. Có nhiều phƣơng pháp dạy học đƣợc triển khai hàng năm nhằm nâng
cao chất lƣợng bộ môn nhƣng có lẽ phƣơng pháp dạy học tích cực bằng cách sử

chung của học sinh chúng ta là rất ngại nói tiếng Anh vì sợ sai. Điều này có lẽ do
bản tính ngƣời Việt dễ xấu hổ, nên sợ nếu nói sai thì bị mọi ngƣời cƣời chê, và tốt
nhất là giấu dốt.
b. Đa dạng về trình độ học sinh trong lớp.
Thật là thách thức cho giáo viên tiếng Anh khi phải giảng dạy ở một lớp học
mà trình độ học sinh quá chênh lệch nhau, vì giáo viên sẽ cảm thấy rất khó để có
thể tìm đƣợc một hoạt động chung cho cả lớp. Điều này đôi khi bất khả thi vì một
trò chơi hay bài tập có thể là quá khó nhóm này nhƣng lại là quá nhàm chán đối
với nhóm khác. Do đó, làm cách nào để có thể giúp cho học sinh dễ dàng nắm bắt
kiến thức, nhất là đối với học sinh yếu. Ở các em có sự khác biệt về: khả năng tiếp
thu bài, phong cách nhận thức,… so với những học sinh khác. Có lẽ đây là vấn đề
không chỉ của riêng ngành giáo dục mà hiện nay cả xã hội cũng đang quan tâm và
tìm giải pháp để khắc phục tình trạng này. Để đƣa nền giáo dục nƣớc nhà phát triển
toàn diện thì ngƣời giáo viên không những chỉ biết dạy mà còn phải biết tìm tòi
phƣơng pháp nhằm phát huy tính tích cực của học sinh, giúp giảm dần khoảng
cách về trình độ trong lớp học. Vấn đề nêu trên là khó khăn với không ít giáo viên
nhƣng ngƣợc lại, giải quyết đƣợc điều này là góp phần xây dựng trong bản thân
mỗi giáo viên một phong cách và phƣơng pháp dạy học hiện đại, giúp cho học sinh
có hƣớng tƣ duy mới trong việc lĩnh hội kiến thức.
c. Học sinh không ghi nhớ lâu những điều đã học.
Có rất nhiều ý kiến xung quanh việc học thuộc lòng trong quá trình học
ngoại ngữ là xấu hay tốt. Nhƣng theo kinh nghiệm và quan sát của rất nhiều giáo
viên tiếng Anh, ghi nhớ là một trong những phƣơng pháp học tập rất có hiệu quả,
giúp cho học sinh có thể học và sử dụng tiếng Anh một cách nhuần nhuyễn và
chính xác. Sự ghi nhớ đƣợc vận dụng một cách hợp lý có thể giúp học sinh hệ
thống hóa những gì mà họ đã đƣợc học để áp dụng vào việc giao tiếp thực sự. Bản
chất của quá trình học tiếng Anh là học thuộc lòng các luật ngữ pháp, các cấu trúc
câu, các từ vựng và nghĩa của chúng. Nhƣ thế đủ thấy việc ghi nhớ, khắc sâu kiến
thức trong quá trình học ngoại ngữ là quan trọng đến nhƣ thế nào. Tuy nhiên trí
nhớ con ngƣời cũng có giới hạn việc phải ghi nhớ quá nhiều thứ là điều rất khó

bão. Chính vì vậy đã có rất nhiều phƣơng pháp dạy học tích cực ra đời, trong đó
ngƣời học - đối tƣợng của hoạt động "dạy", đồng thời là chủ thể của hoạt động
"học" - đƣợc cuốn hút vào các hoạt động học tập do giáo viên tổ chức và chỉ đạo,
thông qua đó tự lực khám phá những điều mình chƣa rõ chứ không phải thụ động
tiếp thu những tri thức đã đƣợc giáo viên sắp đặt.
f. Học sinh không thích phát biểu trong giờ học.
Theo quan điểm của một nhà giáo cho rằng: Không có trò dốt mà chỉ có trò
chƣa giỏi và nhiệm vụ là của ngƣời thầy. Đối với những ngƣời thầy giỏi luôn biết
cách tạo ra sự sôi nổi cho lớp học, còn những thầy mà yếu kém và kiến thức chƣa
sâu thì dạy sẽ nhàm chán ngay. Giảng dạy giống nhƣ hoạt động nghệ thuật của một
nghệ sĩ đòi hỏi ngƣời thầy phải tìm tòi và sáng tạo. Đặc biệt với thời đại Internet,
nghĩa là kiến thức toàn cầu cho nên giáo viên đừng có nghĩ chỉ cần một số quyển
sách là đáp ứng đƣợc giảng dạy. Ngƣời thầy cần phải luôn tìm hiểu cập nhật những
kiến thức mới để tạo ra sự hứng thú đối với học sinh. Chính vì vậy để một tiết học
sôi nổi thì phƣơng pháp và khả năng xây dựng bài giảng của giáo viên đóng vai trò
rất quan trọng, một môn học không làm các em hứng thú thì đƣơng nhiên là các em
sẽ không muốn phát biểu.
1.2. Thực trạng dạy của giáo viên:
a. Chƣa có phƣơng pháp dạy học phù hợp:
Xét trên một phƣơng diện nào đó có thể thấy rằng mọi phƣơng pháp dạy học
đều có chung mục đích là làm sao cho ngƣời thầy và ngƣời học thấy đƣợc ngôi
trƣờng mình đang học và giảng dạy chính là ngôi nhà thứ hai của mình, thấy đƣợc
sự ấm áp trong quan hệ thầy trò, không có sự áp đặt và là nơi để học sinh phát huy
đƣợc khả năng sáng tạo, tƣ duy của mình. Ở đó học sinh thấy đƣợc sự hứng khởi
4


để tìm tòi cái mới, nhận đƣợc sự đồng thuận và khuyến khích nơi giáo viên cũng
nhƣ tập thể nhà trƣờng. Trong giai đoạn hiện nay, mỗi trƣờng đều có những
phƣơng pháp dạy học riêng để đạt đƣợc hiệu quả trong công tác giảng dạy. Tuy

TTT15A1
Tỉ lệ
TCN14A
Tỉ lệ

40
48
26

Giỏi
8.0 -10
10
25,0
12
25,0
9
34,6

Khá
Tb
Yếu
6.5 - 7.9 5.0 - 6.4 2.1 - 4.9
12
11
7
30,0
27,5
17,5
17
14

MÔ TẢ SƠ ĐỒ TƢ DUY

Vấn đề
liên quan

Vấn đề
liên quan

Chủ đề

Vấn đề
liên quan

Vấn đề
liên quan
Vấn đề
liên quan
22

2.2. Cách tiến hành vẽ sơ đồ tƣ duy:
- Viết chủ đề ở phần trung tâm, hoặc có thể dùng một hình ảnh để thể hiện chủ
đề.
- Từ chủ đề trung tâm vẽ các nhánh chính thể hiện các chủ đề nhỏ liên
quan.Trên mỗi nhánh chính viết một khái niệm, phản ánh một nội dung lớn của
chủ đề. Nhánh và chữ viết phải cùng một màu và sử dụng các thuật ngữ quan
trọng, ngắn gọn để viết trên các nhánh.
- Từ mỗi chủ đề nhỏ lại tìm ra những yếu tố/nội dung liên quan.
- Sự phân nhánh cứ tiếp tục và các yếu tố/nội dung luôn đƣợc kết nối với nhau.
Sự liên kết này sẽ tạo ra một “bức tranh tổng thể” mô tả về chủ đề lớn một cách
đầy đủ và rõ ràng


. Nhánh cấp 5:

Playing soccer

. Nhánh cấp 3:

Travelling

. Nhánh cấp 6:

Surf the net

HOBBIES

- Sau đó các em tiếp tục vẽ các nhánh nhỏ tiếp theo để hoàn chỉnh nội dung
sơ đồ.
- Giáo viên yêu cầu học sinh treo sản phẩm của đội mình lên bảng và cử một đại
diện lên thuyết trình.
- Giáo viên đƣa ra nhận xét và chỉnh sửa sơ đồ của học sinh. Sau đó các em sẽ nhìn
vào sơ đồ và bắt đầu thực hành viết đoạn văn về sở thích của bản thân.
Mô tả sơ đồ hoàn chỉnh

HOBBIES

12


Các dạng bài tập viết dƣờng nhƣ là nỗi ám ánh của học sinh. Phần lớn các
em hầu nhƣ không thể viết chính xác một câu. Vì vậy yêu cầu các em cầm bút viết


IN

.Nhánh cấp 2:

AT

.Nhánh cấp 2:

ON

13


- Sau đó các em tiếp tục vẽ các nhánh nhỏ tiếp theo để hoàn chỉnh nội dung sơ đồ
- Giáo viên yêu cầu học sinh treo sản phẩm của đội mình lên bảng rồi cùng đƣa ra
nhận xét và chỉnh sửa sơ đồ của học sinh.
Mô tả sơ đồ hoàn chỉnh

14


PhầnIII: Kết luận
1. Ý nghĩa, phạm vi áp dụng của sáng kiến:
a. Ý nghĩa:
Việc học và sử dụng tiếng Anh đòi hỏi cả một quá trình luyện tập cần cù
sáng tạo của cả ngƣời học lẫn ngƣời dạy, đặc biệt trong tình hình cải cách giáo dục
nhƣ hiện nay. Việc dạy theo phƣơng pháp đổi mới chú trọng nhiều đến tính tự tin,
sáng tạo của học sinh, tạo điều kiện để các em tƣ duy, chủ động thực hành tiếng
Anh, nắm bắt nhanh và khắc sâu đƣợc lƣợng kiến thức đã học. Dĩ nhiên để cho ra

Tỉ lệ
TCN14A
Tỉ lệ

40
48
26

Giỏi
8.0 -10
13
32,5
13
27,1
10
38,5

Khá
Tb
Yếu
6.5 - 7.9 5.0 - 6.4 2.1 - 4.9
17
7
3
42,5
17,5
7,5
24
10
1

thân đã kiểm nghiệm qua thực tế giảng dạy.
a. Giúp cân bằng não, tăng khả năng ghi nhớ:
Chúng ta có hai bán cầu não: bán cầu não trái và bán cầu não phải. Bán cầu
não trái thiên về các chức năng logic, ngôn ngữ, phân tích, sắp xếp... Bán cầu não
phải thiên về các chức năng nghệ thuật, sáng tạo, tƣởng tƣợng, cảm nhận.... Các
nghiên cứu đã cho thấy: nếu chỉ sử dụng bán cầu não trái, hiệu suất tƣ duy của
chúng ta chỉ đạt từ 5 so với khi chúng ta kết hợp và phát triển cân bằng cả
hai. Vì vậy khi sử dụng sơ đồ tƣ duy, chúng ta không chỉ cần sự logic, hệ thống mà
khả năng tƣởng tƣợng, sáng tạo, làm việc với màu sắc, hình ảnh… cũng đƣợc huy
động. Điều đó có nghĩa là cả bán cầu não của chúng ta đều đƣợc kích hoạt. Kết
quả sẽ tạo đƣợc sự cân bằng, giúp khả năng tƣ duy, sáng tạo, ghi nhớ của chúng ta
tăng lên đáng kể.
b.Tăng sự hứng thú trong học tập:
Thực tế cho thấy chúng ta sẽ không làm tốt những những gì mà chúng ta
không thích. Chỉ khi nào chúng ta có hứng thú hoặc tạo ra đƣợc hứng thú trong học
tập, công việc thì chúng ta mới có thể học tập, làm việc đạt hiệu quả cao.
Với sơ đồ tƣ duy, việc tạo ra và học tập với những trang giấy đầy màu sắc, hình
ảnh, đƣợc hệ thống và dễ nhớ sẽ giúp học sinh có đƣợc sự hứng thú đó để gia tăng
hiệu quả trong học tập.
c. Phát huy khả năng sáng tạo:
Bộ não của chúng ta tƣ duy theo cơ chế bùng nổ, từ ý tƣởng ban đầu bạn
có thể bùng nổ ra hàng trăm ý tƣởng có liên quan khác. Bán cầu não phải là thiên
về chức năng sáng tạo, chính là vùng đƣợc kích thích hoạt động khi chúng ta làm
việc với sơ đồ tƣ duy. Hơn nữa, khác với khuôn khổ của những trang giấy viết bình
thƣờng khiến tƣ duy chúng ta bị giới hạn, sơ đồ tƣ duy với việc phát triển các
nhánh một cách tự do cũng là cơ sở để phát huy khả năng sáng tạo của ngƣời sử
dụng.
Tận dụng lợi thế này tôi đã thƣờng xuyên sử dụng sơ đồ tƣ duy và học sinh
của tôi trở nên sáng tạo lên rất nhiều.
d. Phát huy sức mạnh tập thể:

quả thật có “phép màu”. Với sơ đồ tƣ duy chúng ta có thể sử dụng ở bất kì đâu,
trong bất kì hoàn cảnh không có bất kì một giới hạn nào về không gian và thời gian
vì nó không đòi hỏi phải có những điều kiện cần và đủ nào để tiến hành thực hiện
và đạt đƣợc mục đích. Chính vì vậy mà ở khắp nơi trên trái đất mọi ngƣời đều biết
đến “công cụ vạn năng cho bộ não’ này. Và không chỉ riêng ngành giáo dục mà rất
nhiều những lĩnh vực khác cũng sử dụng và cảm thấy lợi ích vô cùng, đặc biệt là
trong hoạt động kinh doanh. Nếu chúng ta tiếp tục nhân rộng mô hình dạy và học
này, tôi tin chắc rằng trong một tƣơng lai không xa nữa, những ngƣời thầy giáo, cô
giáo sẽ cho ra đời những “sản phẩm” thật hoàn hảo, những con ngƣời đƣợc trang bị
những tƣ chất tuyệt vời: một trí nhớ siêu đẳng, khả năng phân tích, tổng hợp logic
cùng sự liên tƣởng, tƣ duy, sáng tạo siêu phàm.
2.1.3. Tác động xã hội tích cực, cải thiện môi trƣờng, điều kiện lao động.
Có thể thấy việc áp dụng phƣơng pháp dạy học sử dụng “ SƠ ĐỒ TƢ DUY’
nhƣ trên, không chỉ mang lại kết quả mỹ mãn cho ngƣời dạy lẫn ngƣời học, mà nó
còn tác động rất lớn đến môi trƣờng học tập. Tôi nhận thấy những giờ học áp dụng
phƣơng pháp này, không khí lớp học trở nên nóng hẳn lên. Các em học sinh sôi
nổi, hăng say hoạt động, làm việc tích cực hơn, đôi khi các em hồi hộp, bồn chồn
17


khi chờ đợi kiểm nghiệm thành quả, rồi vỡ òa ra trong sự vui sƣớng khi thấy những
kết quả mình đạt đƣợc. Hòa trong không khí đó, giáo viên chúng ta cũng sẽ cảm
thấy yêu nghề hơn, tự thấy mình phải có trách nhiệm hơn, nghiêm túc hơn, nhiệt
tình hơn trƣớc ánh mắt khát khao kiến thức mới của lớp lớp đàn em thân yêu.
* Những điều kiện, kinh nghiệm áp dụng, sử dụng giải pháp:
Mỗi giáo viên đều có suy nghĩ và phong cách giảng dạy khác nhau. Song đều
có chung một mục đích là truyền thụ cho các em học sinh đúng, đủ kiến thức giúp
các em hiểu bài và khắc sâu kiến thức một cách nhanh nhất. Tuy nhiên để thành
công trong giờ dạy tiếng Anh thì đòi hỏi ngƣời giáo viên phải có một phƣơng pháp
dạy học thật phù hợp nhằm lôi kéo hết mọi đối tƣợng học sinh cùng tham gia với

“môi trƣờng tiếng” thực sự để phát triển khả năng giao tiếp, ứng xử với các bài học
nghe và nói đầy hấp dẫn và mang lại nhiều hiệu quả. Nhƣ vậy sự thành công của
mỗi giáo viên cũng chính là sự thành công của nền giáo dục Việt Nam với mong
18


muốn đổi mới phƣơng pháp dạy ngoại ngữ- dạy ngoại ngữ theo đƣờng hƣớng giao
tiếp.
Những vấn đề đƣợc trình bày trên đây chỉ là ý kiến chủ quan của riêng tôi và
tôi tiếp tục học hỏi, trao đổi với đồng nghiệp để đƣa giờ dạy đạt hiệu quả cao nhất
có thể.
3. Kiến nghị, đề xuất:

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bài viết Hiệu Quả Đa Năng Của Sơ Đồ Tư Duy – Nguyễn Thị Phƣơng (chủ
biên) – xuất bản 2012.
2. Giáo trình bài giảng Anh Văn Không Chuyên – Nguyễn Thị Mỹ Thanh (chủ
biên) – xuất bản 2014.
3. Các bài viết, trang thông tin về học tiếng Anh trên mạng.

Châu Phú, ngày 20 tháng 02 năm 2017
Xác nhận của cơ quan đơn vị áp
dụng sáng kiến

Ngƣời đăng ký sáng kiến
(Ký và ghi rõ họ tên)

( Ký tên và đóng dấu)

Dƣơng Thị Thúy Vân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status