Giúp các em học sinh lớp 3 giải tốt bài toán liên quan đến rút về đơn vị - Pdf 44

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRIỆU SƠN

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

GIÚP CÁC EM HỌC SINH LỚP 3 GIẢI TỐT
BÀI TOÁN CÓ LIÊN QUAN ĐẾN RÚT VỀ ĐƠN VỊ

Người thực hiện: Hà Thị Thủy
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Hợp Thắng
SKKN thuộc môn: Toán

THANH HÓA NĂM 2016

1


MỤC LỤC
Mục
I
1
2
3
4
II
1
2

-


3.4
4
1
III

Nội dung
Mở đầu
Lí do chọn đề tài
Mục đích nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh
nghiệm
Thực trạng chung
Thực trạng của lớp
Kết quả của thực trạng ban đầu
Các sáng kiến kinh nghiệm các giải pháp đã sử dụng
để giải quyết vấn đề
Hướng dẫn học sinh các bước giải toán

Trang
1

2
3

4


giải toán tốt, kĩ năng ứng dụng thực tế trong hàng ngày. Sau khi dạy giải toán ở
lớp 3 hai năm liền, tôi thấy các em nắm được kĩ năng giải toán của giáo viên
truyền đạt tới như là một văn bản của lí thuyết, còn nó có ứng dụng vào thực tế
như thế nào đó thì chưa cần biết. Đó là điều băn khoăn, suy nghĩ cho chúng ta.
Có những bài toán các em làm xong, không cần thử lại, không cần xem thực tế
áp dụng trong thực tế như thế nào, cứ để kết quả như vậy mặc dù có thể sai. Đó
là những tác hại lớn khi học toán. Xuất phát từ tình hình thực tế học sinh như
vậy, tôi mong muốn có những sáng kiến về phương pháp giúp các em giải toán
dạng toán có liên quan đến rút về đơn vị ở lớp 3. đến thời điểm này, tôi đã
nghiên cứu xong, sau đây tôi sẽ trình bày để các đồng chí đóng góp ý kiến với
đề tài: “Giúp các em học sinh lớp 3 giải tốt bài toán liên quan đến rút về đơn
vị”.
2. Mục đích nghiên cứu:
Dựa trên thực trạng dạy và học môn Toán ở lớp 3 nói chung, dạy học sinh
giải bài toán liên quan đến rút về đơn vị, tôi muốn đưa ra một số ý kiến đổi mới
để giúp các em nắm chắc được cách giải dạng toán này một cách sâu sắc, tránh
không còn bị nhầm lẫn, giúp các em nắm vững bài và yêu thích môn Toán hơn.
Từ đó các em có vốn kĩ năng tính toán chính xác ở những lúc cần thiết trong
cuộc sống, tránh được những sai sót có thể xảy ra. Tạo cho các em có tác phong
học tập và làm việc có suy nghĩ, có kế hoạch, có kiểm tra, có tinh thần hợp tác,
độc lập và sáng tạo, có ý chí vượt khó khăn, cẩn thận, kiên trì, tự tin.
3. Đối tượng nghiên cứu:
Trong thực tế việc giúp các em học sinh lớp 3 giải tốt bài toán liên quan đến
rút về đơn vị là nâng cao kỹ năng làm toán là nền tảng để các em lên lớp 4 học
3


được tốt hơn. Cụ thể là giúp các em học sinh không còn lo lắng khi giải bài toán
có liên quan đến rút về đơn vị.
Vì vậy tôi đã đưa các dạng toán rút về đơn vị ở lớp 3. Áp dụng để hướng


4


Ta thấy rằng, giải toán ở tiểu học trước hết là giúp các em luyện tập, vận dụng
kiến thức, các thao tác thực hành vào thực tiễn. Qua đó, từng bước giúp học sinh
phát triển năng lực tư duy, rèn luyện phương pháp suy luận lôgíc . Thông qua
giải toán mà học sinh rèn luyện được phong cách của người lao động mới: Làm
việc có ý thức, có kế hoạch, sáng tạo và hăng say, miệt mài trong công việc.
2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:
a. Thực trạng chung:
Thực tế qua nhiều năm trực tiếp giảng dạy ở khối lớp 3, tôi nhận thấy học
sinh khi giải các bài toán liên quan đến rút về đơn vị thường rất chậm so với các
dạng bài tập khác. Các em thường lúng túng khi đặt câu lời giải cho phép tính,
có nhiều em làm phép tính chính xác và nhanh chóng nhưng không làm sao tìm
được lời giải đúng hoặc đặt lời giải không phù hợp với đề toán đặt ra. Chính vì
thế nhiều khi dạy học sinh đặt câu lời giải còn vất vả hơn nhiều so với dạy trẻ
thực hiện các phép tính ấy để tìm ra đáp số.
Việc khó khăn lớn đối với một số em học sinh là các em không biết cách rút
bài toán về đơn vị. Các em mới chỉ đọc được đề toán chứ chưa hiểu được đề,
chưa trả lời các câu hỏi thầy nêu: Bài toán cho biết gì ?... Đến khi giải toán thì
đặt câu lời giải chưa đúng, chưa biết cách rút bài toán về đon vị…Những nguyên
nhân trên không thể đổ lỗi về phía học sinh 100% được mà một phần lớn đó
chính là các phương pháp, cách áp dụng, truyền đạt của những người thầy.
Đây cũng là lý do mà tôi chọn đề tài này, mong tìm ra những giải pháp
nhằm góp phần nâng cao kĩ năng giải bài toán liên quan đến rút về đơn vị cho
học sinh lớp 3 nói riêng và trong môn toán 3 nói chung. Để từ đó, các em có thể
thành thạo hơn với những bài toán liên quan đến rút về đơn vị khó và phức tạp ở
các lớp trên.
b. Thực trạng của lớp.

chưa chính xác.
10 em = 40 %

8 em = 32 %

7em =28 %

Từ thực trạng trên, để giúp học sinh giải thành thạo dạng toán rút về đơn vị,
tôi đã tìm tòi nghiên cứu và áp dụng một số biện pháp giúp học sinh giải dạng
toán này tốt hơn. Cụ thể áp dụng ở lớp 3C năm học 2015 – 2016.
3. Các sáng kiến kinh nghiệm các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
Muốn cho học sinh giải tốt bài toán liên quan đến rút về đơn vị, trước tiên
chúng ta phải hướng dẫn các em nắm chắc được những bước cần thực hiện khi
giải toán nói .
3.1. Hướng dẫn học sinh các bước giải toán :
Mỗi bài toán các em có làm tốt được hay không đều phụ thuộc vào các phương
pháp giải toán được vận dụng ở mỗi bước giải bài toán đó. Cho nên, chúng ta
cần hướng dẫn học sinh nắm được các bước giải bài toán như sau:
* Bước 1: Đọc kĩ đề toán.
* Bước 2: Tóm tắt đề toán.
* Bước 3: Phân tích bài toán.
* Bước 4: Viết bài giải.
* Bước 5: Kiểm tra lời giải và đánh giá cách giải.
Cụ thể yêu cầu đối với học sinh như sau:
Bước 1: Đọc kĩ đề toán: Học sinh đọc ít nhất 3 lần mục đích để giúp các em
nắm được ba yếu tố cơ bản. Những “ dữ kiện” là những cái đã cho, đã biết trong
đầu bài, “những ẩn số” là những cái chưa biết và cần tìm và những “điều kiện”
là quan hệ giữa các dữ kiện với ẩn số.

6

- Cái này biết chưa?
- Còn cái này thì sao?
- Muốn tìm cái chưa biết ta cần dựa vào đâu? Làm như thế nào?
Hướng dẫn học sinh phân tích xuôi rồi tổng hợp ngược lên, từ đó các em nắm
bài kĩ hơn, tự các em giải được bài toán.
Bước 4: Viết bài giải: Dựa vào sơ đồ phân tích, quá trình tìm hiểu bài, các em
sẽ dễ dàng viết được bài giải một cách đầy đủ, chính xác. Giáo viên chỉ việc yêu

7


cầu học sinh trình bày đúng, đẹp, cân đối ở vở là được, chú ý câu trả lời ở các
bước phải đầy đủ, không viết tắt, chữ và số phải đẹp.
Bước 5: Kiểm tra lời giải và đánh giá cách giải:
Qua quá trình quan sát học sinh giải toán, chúng ta dễ dàng thấy rằng học sinh
thường coi bài toán đã giải xong khi tính ra đáp số hay tìm được câu trả lời. Khi
giáo viên hỏi: “ Em có tin chắc kết quả là đúng không?” thì nhiều em lúng túng.
Vì vậy việc kiểm tra , đánh giá kết quả là không thể thiếu khi giải toán và phải
trở thành thói quen đối với học sinh. Cho nên khi dạy giải toán, chúng ta cần
hướng dẫn các em thông qua các bước:
- Đọc lại lời giải.
- Kiểm tra các bước giải xem đã hợp lí yêu cầu của bài chưa, các câu văn diễn
đạt trong lời giải đúng chưa.
- Thử lại các kết quả vừa tính từ bước đầu tiên.
- Thử lại kết quả đáp số xem đã phù hợp với yêu cầu của đề bài chưa.
Đối với học sinh giỏi, giáo viên có thể hướng các em nhìn lại toàn bộ bài giải,
tập phân tích cách giải, động viên các em tìm các cách giải khác, tạo điều kiện
phát triển tư duy linh hoạt, sáng tạo, suy nghĩ độc lập của học sinh.
3.2. Hướng dẫn học sinh nắm vững cách giải bài toán liên quan đến rút về
đơn vị ( kiểu bài 1) thông qua bài dạy cụ thể :

- Giáo viên đưa bài giải đối chiếu.
Bài giải
Số lít dầu có trong mỗi can là:
32 : 8 = 4 (lít)
Đáp số: 4 lít dầu.
- Giáo viên củng cố cách giải: Để tìm 1 can chứa bao nhiêu lít dầu ta làm phép
tính gì? ( phép tính chia).
- Giáo viên giới thiệu. Bài toán cho ta biết số lít dầu có trong 8 can, yêu cầu
chúng ta tìm số lít dầu trong 1 can, để tìm được số lít dầu trong 1 can, chúng ta
thực hiện phép chia. Bước này gọi là rút về đơn vị, tức là tìm giá trị của một
phần trong các phần.
- Giáo viên cho học sinh nêu miệng kết quả một số bài toán đơn giản để áp
dụng, củng cố như:
6 bao: 300kg hoặc 5 túi : 20kg
1 bao? kg

1 túi : ? kg

*Hoạt động 2: Hướng dẫn học sinh giải bài toán 2:
Bài toán: Có 42 lít mật ong chia đều vào 6 can. Hỏi 2can có mấy lít mật ong?
- Giáo viên yêu cầu học sinh đọc kĩ đầu bài ( 3 lần).
- Yêu cầu học sinh nêu tóm tắt bài toán – Giáo viên ghi bảng( Phương pháp hỏi
đáp).
6 can : 42 lít
2 can : ? lít.
- Hướng dẫn học sinh phân tích bài toán: ( Phương pháp hỏi đáp)

9



9 túi : ? kg.

7 thùng : ? gói

Sau khi học sinh nắm chắc cách giải bài toán ở kiểu bài này, chúng ta cần tiến
hành hướng dẫn học sinh luyện tập.
* Hoạt động 3: Luyện tập:
Khi tiến hành hướng dẫn học sinh luyện tập qua từng bài, giáo viên cần thay đổi
hình thức luyện tập.

10


Bài 1: - Hướng dẫn học sinh thảo luận chung cả lớp, sau đó 1 học sinh tóm tắt
và giải bài toán trên bảng, cả lớp làm vào vở.
- Củng cố bước rút về đơn vị.
- Củng cố các bước giải bài toán này.
Bài 2: - Học sinh thảo luận và làm việc theo nhóm đôi.
- Yêu cầu 1 cặp học sinh trình bày bảng – Giáo viên kiểm tra các kết quả của cả
lớp.
- Yêu cầu học sinh nêu bước rút về đơn vị.
- Củng cố cách thực hiện 2 bước giải bài toán.
Bài 3: Hướng dẫn học sinh chơi trò chơi ghép hình.
* Hoạt động 4: Hoạt động nối tiếp
- Học sinh tự nêu các bước, cách thực hiện giải bài toán có liên quan đến rút về
đơn vị ( kiểu bài 1)
- Giao thêm bài về nhà dạng tương tự để hôm sau kiểm tra.
- Qua mỗi lần luyện tập xen kẽ, giáo viên đều củng cố cách làm ở kiểu bài 1 là:
+ Bài giải được thực hiện qua 2 bước:
Bước 1: ( Bước rút về đơn vị) Tìm giá trị 1 đơn vị ( Giá trị 1 phần). ( phép chia).

42 l : 6 can.

42 l : 6 can

10 l : 2 can ( đúng)

10 l : 50can ( vô lí).

Từ đó các em nắm chắc phương pháp giải kiểu bài 2 tốt hơn, có kĩ năng , kĩ xảo
tốt khi giải toán.
3.4. Hướng dẫn học sinh luyện tập so sánh phương pháp giải 2 kiểu bài :
. Để học sinh luyện tập tốt 2 kiểu bài này, tôi đã hướng dẫn các em so sánh các
bước giải và đặc điểm của mỗi kiểu bài.
Các
bước

Kiểu bài 1

Bước - Tìm giá trị của các phần
1
- Tìm giá trị của 1 phần: ( phép
chia) (Đây là bước rút về đơn vị)
Bước
2

Kiểu bài 2
- Tìm số phần
- Tìm giá trị của 1 phần: ( phép
chia) (Đây cũng là bước rút về
đơn vị)

khác học sinh dễ dàng nhìn nhận ra lỗi sai của mình, nếu như nhầm phép tính
( Bài toán 2 là bài toán ngược của bài toán 1)
Lần 2:
Bài toán 1: Có 6 cái áo đơm hết 30 cái cúc áo. Hỏi có 1235 cúc áo thì đơm
được bao nhiêu cái áo như thế?
Bài toán 2: Bốn thùng như nhau đựng được 28 lít mật ong. Hỏi 7 thùng như thế
đựng được bao nhiêu kg mật ong?
* Đổi thứ tự bài để học sinh củng cố được cách nhận dạng 2 kiểu bài và phương
pháp giải.
Tóm lại: Trên đây là phương pháp hướng dẫn các em học sinh lớp 3 giải tốt
dạng toán: Bài toán liên quan đến rút về đơn vị, tôi tin rằng nếu chúng ta làm
được như vậy thì các em nắm được phương pháp giải dạng toán này tốt hơn,
chắc chắn hơn, tránh được những sai sót có thể xảy ra. Các em sẽ có được tinh
thần phấn khởi, tự tin khi giải toán.
4. Hiệu quả của các sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với
bản thân, đồng nghiệp và nhà trường
1. Kết quả đạt được:
Trong suốt quá trình nghiên cứu, quan sát học sinh giải toán, tôi thấy các em
rất thích giải toán khi các em đã có đủ vốn kiến thức, phương pháp giải toán.
Các em giải toán đúng, chính xác hơn khi các em được thầy cô nhiệt tình hướng
dẫn với phương pháp dễ hiểu nhất, dễ nhớ nhất. Với phương pháp này tôi đã
trang thiết bị cho các em vốn kiến thức phương pháp cơ bản để các em giải
dạng toán này không nhầm lẫn, sai sót đến chất lượng học của các em được nâng
lên rõ rệt. Dạy xong kiểu bài 1, so với năm học 2014-2015, năm nay các em làm
bài tốt hơn nhiều, chất lượng tăng 20%. Dạy xong kiểu bài 2, chất lượng càng
tăng hơn 15% so với thời điểm năm ngoái. Nhìn chung, các em được giải toán,
so sánh cách giải của 2 kiểu bài này, cho nên các em làm bài chính xác cao, chất
lượng khả quan. Qua khảo sát chất lượng học sinh lớp 3 năm học này, tôi thu
được kết quả như sau:
Năm học 2015 – 2016 này tôi được phân công trực tiếp chủ nhiệm và giảng

thì kết quả trên thật là một điều đáng mừng. Điều đó cho thấy những cố gắng
trong đổi mới phương pháp dạy học của tôi đã có kết quả khả quan. Những thầy
cô giáo trường bạn trong lần thanh tra trường khi dự giờ lớp tôi cũng đã công
nhận lớp học sôi nổi, nắm kiến thức vững chắc. Đó chính là động lực để tôi tiếp
tục theo đuổi ý tưởng của mình.
Với kết quả này, chắc chắn khi các em học lên các lớp trên, các em sẽ vẫn tiếp
tục phát huy hơn nữa với những bài toán lien quan đến việc rut về đơn vị yêu
cầu ở mức độ cao hơn.
III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
* Kết luận:
Dạy toán ở Tiểu học nói chung, ở lớp 3 nói riêng là cả một quá trình kiên trì,
đầy sự sáng tạo, nhất là đối với dạng toán liên quan đến rút về đơn vị, cho nên
khi hướng dẫ học sinh giải toán nói chung, giải dạng toán liên quan đến rút về
đơn vị nói riêng chúng ta cần phải:
- Tạo niềm hứng thú, sự say mê giải toán, bởi các em có thích học toán thì các
em mới có sự suy nghĩ, tìm tòi các phương pháp giải bài toán một cách thích
hợp.
- Hướng dẫn học sinh nắm đầy đủ các kĩ năng cần thiết khi giải toán bằng
phương pháp phù hợp, nhẹ nhàng, không gò bó.
- Kích thích tư duy sáng tạo, khả năng phân tích, tổng hợp trong khi tìm tòi, phát
hiện đường lối trong giải toán.
- Thường xuyên thay đổi hình thức dạy học ở mỗi bài để tránh sự nhàm chán.
- Tập cho học sinh có kĩ năng tự phân tích bài toán, tự kiểm tra đánh giá kết quả
của bài toán, tập đặt các câu hỏi gợi mở cho các bước giải trong bài toán.

14


- Phải coi việc giải toán là cả một quá trình, không nóng vội mà phải kiên trì tìm
và phát hiện ra “ chỗ hổng” sau mỗi lần hướng dẫn để khắc phục, rèn luyện.

Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác.

Người viết

Hà Thị Thủy

15


TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.

Sách giáo khoa Toán lớp 3

2.

Sách giáo viên Toán lớp 3

3.

Vở bài tập Toán lớp 3

4.

Tạp chí Giáo Dục tiểu học

16


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status