Điều kiện có hiệu lực về hình thức của giao dịch dân sự theo bộ luật dân sự 2015 (tt) - Pdf 45

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ VIỆT HÀ

ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC VỀ HÌNH THỨC
CỦA GIAO DỊCH DÂN SỰ THEO BỘ LUẬT
DÂN SỰ 2015

Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 60.38.01.07

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, 2017


Công trình được hoàn thành tại:
Học viện Khoa học Xã hội

Người hướng dẫn khoa học:
TS. LÊ ĐÌNH NGHỊ
Phản biện 1: TS. NGUYỄN AM HIỂU
Phản biện 2: PGS.TS HÀ MAI HIÊN

Luận văn được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ
họp tại: Học Viện Khoa học Xã hội vào lúc: 10 giờ, ngày.25
tháng.10. năm 2017

Có thể tìm hiểu luận văn tại:


giao kết, người thực hiện cũng như hậu quả để lại cho xã hội là quá
lớn. Hậu quả đó mang tính diện rộng, ảnh hưởng đến nhiều người,
nhiều mối quan hệ xã hội khác, nhiều đối tượng khác; gây tâm lý
hoang mang, nhiều gia đình điêu đứng, đẩy nhiều người đến bước
đường cùng.
Từ những phân tích và lý do nêu trên, tác giả đã lựa chọn đề
tài “Điều kiện có hiệu lực về hình thức của giao dịch dân sự theo
bộ luật dân sự 2015” để làm luận văn thạc sỹ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Phạm Thị Minh Trang (2014), Hình thức GDDS theo pháp
luật Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc
gia Hà Nội. Đề tài đã làm sáng tỏ những vấn đề lý luận chung về hình
thức GDDS. Nguyễn Ngọc Tú Loan (2009), Điều kiện có hiệu lực
của hợp đồng dân sự, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật, Đại học
Quốc gia Hà Nội.
Ngoài ra, tác giả đã tìm đọc các tài liệu liên quan như: Tác
giả Nguyễn Văn Cường (2002) với bài viết về “GDDS vô hiệu do
không tuân thủ các quy định về hình thức”; Tác giả Trần Thị Thu Hà
(2014), với bài viết “Về hợp đồng mua bán nhà ở vô hiệu do vi phạm
điều kiện về hình thức”; Tác giả Tưởng Duy Lượng (2015) với bài
viết “Bảo vệ người thứ ba ngay tình khi GDDS vô hiệu” hay tác giả
Nguyễn Thị Minh Phượng (2013) với bài viết “Hợp đồng mua bán
nhà ở vô hiệu do vi phạm về hình thức theo quy định của BLDS Việt
Nam 2005 và hướng hoàn thiện”…

2


Bởi vậy, việc lựa chọn đề tài “Điều kiện có hiệu lực về hình

tích các quy định về điều kiện có hiệu lực về hình thức GDDS trong
BLDS 2015.
Về thời gian: Đề tài nghiên cứu một phần các quy định liên
quan đến điều kiện có hiệu lực về hình thức GDDS trong pháp luật
của Việt Nam qua các thời kỳ.
Về không gian: Đề nghiên cứu thực tiễn một số vụ án liên
quan đến điều kiện có hiệu lực về hình thức GDDS trên địa bàn thành
phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật
biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh; các quan điểm của Đảng và Nhà nước về pháp luật
liên quan đến hình thức GDDS nói chung, pháp luật liên quan đến
điều kiện có hiệu lực về hình thức GDDS nói riêng.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu phân tích, tổng
hợp, thống kê, so sánh, diễn dịch và quy nạp. Phương pháp phân tích,
tổng hợp. Phương pháp thống kê, so sánh được sử dụng chủ yếu ở
chương 2, nhằm đánh giá đúng và đầy đủ thực trạng thực hiện pháp
luật liên quan đến điều kiện có hiệu lực về hình thức GDDS cả về

4


những kết quả đạt được, những hạn chế, yếu kém và nguyên nhân
trong hoạt động này.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn nghiên cứu lý luận một cách toàn diện về điều kiện

MỘT SỐ VẦN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐIỀU KIỆN
CÓ HIỆU LỰC VỀ HÌNH THỨC CỦA GIAO DỊCH DÂN SỰ
1.1. Khái niệm điều kiện có hiệu lực về hình thức của giao dịch
dân sự
1.1.1. Giao dịch dân sự
1.1.1.1. Khái niệm
Khái niệm “Giao dịch” theo từ điển Tiếng Việt được hiểu
một cách đơn giản nhất là sự đổi chác, mua bán [29, tr20]. Giao dịch
hình thành từ hình thức đơn giản nhất như con người trao đổi sản
phẩm do mình làm ra, cho đến ngày nay khi giao dịch được sử dụng
với nhiều hình thức biểu đạt và là một công cụ hữu hiệu để cá nhân,
tổ chức thỏa mãn nhu cầu về vật chất, tinh thần của mình.
Chiếm một vị trí quan trọng trong hệ thống luật pháp của các
quốc gia nên GDDS cũng có nhiều cách hiểu, định nghĩa khác nhau.
Trong nghiên cứu của luận văn, đề tài sử dụng khái niệm GDDS theo
Điều 116, BLDS 2015 như sau: “GDDS là giao dịch hoặc hành vi
pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền,
nghĩa vụ dân sự” [7, tr33].
6


1.1.1.2. Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự
Điều kiện có hiệu lực của GDDS là điều kiện mà các bên khi
ký kết các giao dịch phải tuân thủ thì giao dịch mới có hiệu lực, nếu
không tuân thủ thì giao dịch sẽ vô hiệu.
(1) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi
dân sự phù hợp với GDDS được xác lập.
Chủ thể của GDDS là những người tham gia xác lập, thực
hiện giao dịch hoặc một hành vi pháp lý đơn phương, có quyền và
nghĩa vụ phát sinh từ GDDS và phải chịu trách nhiệm về thực hiện

cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
(4) Hình thức của GDDS là điều kiện có hiệu lực của GDDS
trong trường hợp luật có quy định.
Tóm lại, điều kiện có hiệu lực của GDDS là tổng hợp những
yêu cầu pháp lý nhằm đảm bảo cho GDDS được lập đúng bản chất
đích thực của nó.
1.1.2. Hình thức giao dịch dân sự
Theo nghĩa thông thường, hình thức là “toàn thể nói chung
những gì làm thành mặt bề ngoài của sự vật, cái chứa đựng biểu hiện
nội dung”.
Tóm lại, theo tác giả thì khái niệm hình thức GDDS được
hiểu như sau: “Hình thức GDDS là sự biểu hiện ra bên ngoài của nội
dung GDDS”.
1.1.3. Điều kiện có hiệu lực về hình thức của giao dịch dân sự
8


Có nhiều cách hiểu khác nhau về “Điều kiện có hiệu lực về
hình thức của giao dịch dân sự”
Điều kiện có hiệu lực về hình thức của GDDS là khi pháp
luật đã quy định hình thức của giao dịch là một điều kiện bắt buộc thì
khi các bên vi phạm điều kiện về hình thức thì giao dịch sẽ vô hiệu.
Như vậy, có một số loại giao dịch đơn thuần, chủ thể tham
gia giao dịch có thể lựa chọn bất kỳ hình thức giao dịch nào. Nhưng
đối với những GDDS đặc biệt thì nhà nước đã quy định giao dịch đó
phải tuân thủ theo một hình thức nhất định.
1.2. Quy định của pháp luật Việt Nam liên quan đến điều kiện có
hiệu lực về hình thức của giao dịch dân sự qua các thời kỳ
1.2.1. Điều kiện có hiệu lực về hình thức của giao dịch dân sự
trong các đạo luật thời phong kiến

luật trong thời kỳ Pháp thuộc cũng chưa đề cập đến khái niệm
GDDS. Định nghĩa khế ước vẫn được sử dụng rộng rãi trong văn bản
pháp luật và trong nhân dân.
Khế ước sinh thời tặng dữ được quy định tại Điều 951 của
Bộ Hoàng Việt Trung Kỳ: “sinh thời tặng dữ là một khế ước do bên
tặng chủ bỏ đứt ngay một tài sản gì để cho bên người thụ tặng nhận
lấy” [1]. Đồng thời cũng thể hiện sự quản lý của nhà nước đối với tài
nguyên bất động sản của nước ta.
Pháp luật về thừa kế được quy định trong các bộ dân luật Bắc
Kỳ và Hoàng Việt Trung Kỳ. Theo quy định tại Hoàng Việt Trung kỳ
10


thì hình thức của chúc thư được quy định như sau: “Việc lập chúc thư
phải bằng văn bản hoặc do viên quản lý văn khế làm ra hoặc có công
chứng thị thực.
1.2.3. Điều kiện có hiệu lực về hình thức của giao dịch dân sự từ
1945 đến khi Bộ luật dân sự 2005 ra đời
1.2.3.1. Quy định liên quan đến điều kiện có hiệu lực về hình thức
của giao dịch dân sự từ thời kỳ 1945 đến trước năm 2005
Năm 1945 đất nước ta giành được độc lập và ngày 2 tháng 9
năm 1945 tại Hà Nội, chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố thành lập nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa độc lập và thống nhất từ miền Bắc tới
miền Nam. Trong lúc đất nước còn bộn bề rối ren và khó khăn, chưa
có điều kiện để ban hành tất cả các luật mới thay thế những bộ luật
cũ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 90/SL cho phép tạm thời
sử dụng một số luật lệ đã ban hành ở Bắc Trung Nam với điều kiện
những luật lệ ấy không trái với nguyên tắc độc lập của nước Việt
Nam. Do vậy và văn bản pháp luật dân sự từ thời Pháp thuộc vẫn
được tiếp tục sử dụng.

2. Hình thức GDDS là điều kiện có hiệu lực của giao dịch
trong trường hợp pháp luật có quy định” [6].
1.3. Pháp luật của một số quốc gia trên thế giới quy định về điều
kiện có hiệu lực về hình thức của giao dịch dân sự

12


Thứ nhất, một số nước quy định hình thức nhất định cho một
số loại GDDS, nếu vi phạm các điều kiện này thì GDDS sẽ vô hiệu.
Tiêu biểu cho xu hướng này là: Đức, Thái Lan… .
Thứ hai, một số quốc gia có quy định về hình thức của
GDDS nhưng yếu tố về hình thức không được coi là một điều kiện để
xác định hiệu lực của GDDS. Đại diện có khuynh hướng này là:
Pháp, Nhật Bản…
Như vậy chúng ta thấy đã có sự khác biệt về điều kiện để hợp
đồng có hiệu lực so với hệ thống pháp luật của Việt Nam. Từ những
quy định của pháp luật các nước trên thế giới về điều kiện có hiệu lực
về hình thức của GDDS cho chúng ta một kinh nghiệm quý trong
việc sửa đổi, bổ sung các quy định tương ứng trong pháp luật Việt
Nam.
Chương 2
NỘI DUNG ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC VỀ HÌNH THỨC
CỦA GIAO DỊCH DÂN SỰ THEO QUY ĐỊNH
CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015
2.1. Các hình thức giao dịch dân sự theo quy định của Bộ luật
dân sự 2015
Theo quy định tại Điều 119 BLDS 2015, thì hình thức của
GDDS theo quy định được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc
bằng hành vi cụ thể. Trường hợp GDDS thông qua phương tiện điện

là do các bên tham gia giao dịch quyết định trên cơ sở nguyên tắc tự
14


do giao dịch. Tuy vậy, pháp luật có quy định về những hình thức bắt
buộc đối với một số loại giao dịch chuyên biệt mà khi không tuân thủ
theo các hình thức giao dịch quy định thì các giao dịch này không có
hiệu lực pháp luật.
2.1.2.2. Những giao dịch dân sự bắt buộc phải được lập thành văn
bản có công chứng, chứng thực, đăng ký hoặc xin phép
BLDS 2015 đã có quy định một số GDDS phải tuân theo
hình thức, thủ tục đặc biệt: “Trường hợp luật quy định GDDS phải
được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký thì
phải tuân theo quy định đó” [7] (khoản 2, Điều 119). Sau khi giao
dịch tuân theo thủ tục công chứng hoặc chứng thực, đăng ký… thì
cũng được coi như đang thực hiện những hình thức văn bản đặc biệt.
2.1.3. Hình thức giao dịch dân sự bằng hành vi cụ thể
Với ý nghĩa là phương tiện công bố ý chí của các bên GDDS,
hình thức của GDDS còn bao gồm cả việc biểu hiện ý chí của chủ thể
ra bên ngoài bằng một hành vi cụ thể - đó là hành động, là xử sự có ý
thức của các bên.
Thông thường, hình thức GDDS bằng hành vi cụ thể được sử
dụng khi bên thực hiện hành vi giao dịch đã biết rõ nội dung của giao
dịch và chấp nhận tất cả các điều kiện mà bên kia đưa ra, và bên kia
không loại trừ việc trả lời bằng hành vi, hoặc không đưa ra một yêu
cầu rõ ràng về hình thức của sự trả lời chấp nhận.
Hình thức giao dịch bằng hành vi cụ thể được thể hiện ra bên
ngoài khá đa dạng. Hành vi cụ thể thường được sử dụng để xác lập
các giao dịch thông dụng, được thực hiện ngay, và trở thành thói
15

ý nghĩa, sự ảnh hưởng của hình thức GDDS trong khoa học pháp lý
hiện nay, các tác giả cũng có nhiều ý kiến khác nhau. Đề tài cho rằng
hình thức GDDS có hai chức năng: điều kiện có hiệu lực của GDDS
và là bằng chứng giao kết GDDS.
2.2.1. Hình thức là yếu tố quyết định hiệu lực của giao dịch dân sự,
nếu pháp luật có quy định
Một trong những ảnh hưởng quan trọng của hình thức đối với
hiệu lực của GDDS là việc xem hình thức GDDS là một trong các
điều kiện có hiệu lực của giao dịch, nếu pháp luật có qui định (khoản
2 Điều 117 BLDS 2015). giao lưu dân sự, bảo vệ quyền và lợi ích
chính đáng của các bên đương sự.
Tuy nhiên, hình thức cũng không phải là điều kiện có hiệu
lực đương nhiên của GDDS mà chỉ trong trường hợp pháp luật quy
định hình thức mới là yếu tố quyết định hiệu lực của giao dịch.
Đôi khi pháp luật cũng quy định hình thức bắt buộc của giao
dịch phải đi kèm với những điều kiện nhất định để giao dịch đó có
hiệu lực. Thiếu một trong hai yếu tố trên giao dịch sẽ vô hiệu. .
2.2.2. Hình thức giao dịch dân sự là cơ sở để xác định thời điểm có
hiệu lực của giao dịch dân sự
Theo BLDS 2015, thời điểm giao kết của GDDS được pháp
luật quy định chủ yếu dựa vào hình thức giao dịch:
- Giao dich dân sự được giao kết vào thời điểm bên đề nghị
nhận được chấp nhận giao kết.

17


- Trường hợp các bên có thỏa thuận im lặng là sự trả lời chấp
nhận giao kết của giao dịch trong một thời hạn thì thời điểm giao kết
của GDDS là thời điểm cuối cùng của thời hạn đó.

công chứng, chứng thực” [7].
2.3.1. Hậu quả pháp lý đối với các bên tham gia giao dịch dân sự
“1. GDDS vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt
quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được
xác lập.
2. Khi GDDS vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban
đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.
Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá
thành tiền để hoàn trả.
3. Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải
hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó.
4. Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường.
5. Việc giải quyết hậu quả của GDDS vô hiệu liên quan đến
quyền nhân thân do Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định” [7].
Thứ nhất, hậu quả pháp lý phát sinh. Theo Khoản 2, Điều
131, thì “Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình
trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận”.
Thứ hai, về hậu quả bồi thường thiệt hại: Khi GDDS vô hiệu,
nếu các bên có yêu cầu giải quyết bồi thường thì Tòa án có trách
nhiệm xác định thiệt hại. Về nguyên tắc, một bên chỉ phải bồi thường
19


cho bên kia khi có thiệt hại xảy ra, không có thiệt hại thì không có
trách nhiệm bồi thường.
2.3.2. Hậu quả pháp lý đối với người thứ ba liên quan đến giao
dịch dân sự vô hiệu do vi phạm hình thức
Thứ nhất, BLDS 2015 quy định rộng hơn về đối tượng giao
dịch, đã thay thế cụm từ “động sản không phải đăng ký” bằng cụm từ
“tài sản không phải đăng ký”.

không minh bạch của một số người khi tham gia GDDS mà cố tình
giao kết những GDDS không tuân thủ quy định về hình thức để trốn
tránh sự kiểm soát của cơ quan nhà nước, nhằm trục lợi (như hợp
đồng mua bán bán đất không chứng thực, trốn sự kiểm soát của Nhà
nước nhằm trốn thuế) … Thứ năm, cách hiểu, cách áp dụng quy định
pháp luật, hay còn gọi là năng lực chuyên môn của từng Thẩm phán
khác nhau dẫn đến cách xử lý hậu quả pháp lý của loại án liên quan
đến GDDS vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức cũng
khác nhau. Tuy nhiên, một thực tế là những GDDS như trên vẫn cứ
xảy ra.
Có quan điểm cho rằng, các quy định như thế này thể hiện sự
thông thoáng hơn của BLDS năm 2015 trong bối cảnh nền kinh tế thị
trường, nhằm giảm tải công việc cho Tòa án, khắc phục hậu quả do
tình trạng ngày càng nhiều GDDS không tuân thủ quy định về hình
thức được xác lập, giảm thiểu thiệt hại cho các bên đương sự;
21


3.1.2. Thực tiễn xét xử các trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu do
không tuân thủ quy định về hình thức
3.1.2.1. Thực tiễn công tác xét xử các vụ án tranh chấp về giao dịch
dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức
Thực tế là số lượng các vụ án tranh chấp dân sự liên quan
đến vi phạm về hình thức của GDDS tại nước ta là rất nhiều, nhưng
công tác thống kê thường khó khăn.
3.1.2.2. Các trường hợp điển hình về tranh chấp giao dịch
dân sự do vi phạm về hinh thức
Quyết định của các cơ quan quản lý nhà nước
Cách giải quyết của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Nhận xét vụ án

quy định về hình thức nhằm hợp thức hóa hay trốn tránh nghĩa vụ đối
với Nhà nước.
KẾT LUẬN
BLDS 2015 bắt đầu có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/1/2017.
Đây là văn bản pháp luật có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh
các quan hệ xã hội phát sinh trong cuộc sống hàng ngày của con
người như quan hệ mua bán, trao đổi, thừa kế... Các nội dung về
GDDS, cụ thể là điều kiện có hiệu lực về hình thức của GDDS đã có
sự thay đổi đáng kể so với BLDS 2005. Những quy định về GDDS
đã có nhiều sửa đổi, bổ sung theo hướng bảo đảm tốt hơn quyền tự do
thể hiện ý chí, sự an toàn pháp lý, sự ổn định của giao dịch, quyền,
23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status