VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM THỊ QUỲNH NGA
CHỦ THỂ CỦA TỘI PHẠM LÀ PHÁP NHÂN
THƢƠNG MẠI TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60.38.01.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Trần Văn Độ
HÀ NỘI - 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.Các số liệu
ghi trong luận văn là trung thực.Những kết luận khoa học của luận văn chưa
từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
PHẠM THỊ QUỲNH NGA
MỤC LỤC
công cụ hữu hiệu để nhà nước quản lý xã hội, có vai trò đặc biệt trong việc
bảo đảm sự ổn định và phát triển của mỗi quốc gia.
Hiến pháp năm 2013 được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua
ngày 28 tháng 11 năm 2013 đang ngày càng phát huy hiệu quả trong thực tế
đời sống, với những quy định nền tảng, đáp ứng được yêu cầu của công cuộc
hiện đại hóa, công nghiệp hóa, diễn ra trong tất cả các ngành, các lĩnh vực
khác nhau. Để đáp ứng được các đòi hỏi của xã hội hiện đại, thì việc hoàn
thiện pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng là một trong những
yêu cầu bức thiết của việc hoàn thiện bộ máy Nhà nước, phục vụ tốt nhất cho
công cuộc đổi mới đất nước. Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự nhằm
đáp ứng yêu cầu của quá trình cải cách tư pháp ở Việt Nam và hội nhập quốc
tế. Nội dung này đã được Đảng và Nhà nước ta khẳng định cụ thể tại Nghị
quyết số 48/NQ-TW Ngày 24-5-2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây
dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng
đến năm 2020.
Ngày 02-6-2005, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 49/NQ-TW về
Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020, theo đó, cải cách tư pháp phải kế
thừa truyền thống pháp lý dân tộc, các thành tựu đã đạt được của nền tư pháp
xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của nước
ngoài phù hợp với hoàn cảnh nước ta và yêu cầu chủ động hội nhập quốc tế
đáp ứng được xu thế phát triển của xã hội trong tương lai[4,tr 53].
1
Trong nền kinh tế thị trường, ngày càng có nhiều các doanh nghiệp, các
tổ chức kinh tế được hình thành và phát triển với các quy mô lớn, nhỏ khác
nhau. Bên cạnh những giá trị tích cực mà các tổ chức kinh tế này mang lại
như: Thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, góp phần tích cực
vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ
ta thì, tội phạm là sự kết hợp giữa hành vi nguy hiểm của con người và thái độ
lỗi bên trong của người đó. Do đó, những hành vi gây thiệt hại nghiêm trọng,
gây hậu quả nặng nề do các tổ chức kinh tế - pháp nhân thương mại thực hiện
chưa được coi là tội phạm và vì vậy không bị xử lý bằng các chế tài hình sự.
Thực tiễn áp dụng pháp luật thời gian qua đã cho thấy, cơ chế xử phạt vi phạm
hành chính và bồi thường thiệt hại áp dụng đối với pháp nhân vi phạm tỏ ra bất
cập, kém hiệu quả. Mặc dù quy trình xử phạt vi phạm hành chính đối với pháp
nhân có ưu điểm là nhanh, kịp thời nhưng lại thiếu tính chuyên nghiệp, minh
bạch và không giải quyết được triệt để quyền lợi của người dân bị thiệt hại mà
họ phải tự chứng minh thiệt hại để yêu cầu bồi thường. Cơ quan có thẩm quyền
xử phạt hành chính không có đội ngũ cán bộ chuyên trách để điều tra, chứng
minh vi phạm cũng như hậu quả của vi phạm….Hơn nữa, trong điều kiện hội
nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, cơ hội các doanh nghiệp Việt Nam
mở rộng đầu tư ra nước ngoài ngày càng nhiều và ngược lại, nếu pháp luật
nước ta chỉ áp dụng cơ chế xử phạt hành chính đối với pháp nhân vi phạm thì
sẽ là không công bằng. Bởi lẽ, cùng hành vi vi phạm nghiêm trọng tương
tự nhau mà doanh nghiệp Việt Nam hoạt động ở nước ngoài thì có thể bị
xử lý hình sự theo pháp luật của nước sở tại, còn đối với doanh nghiệp
Việt Nam lẫn doanh nghiệp nước ngoài hoạt động ở nước ta mà vi phạm
thì chỉ bị xử phạt hành chính. Mặt khác, trong điều kiện chúng ta đang triển
khai thi hành Hiến pháp năm 2013 và tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp được
Quốc hội thông qua năm 2014 đã có nhiều đổi mới theo hướng mở rộng
quyền cho các doanh nghiệp, mà theo đó, nhiều quyết định quan trọng của
3
pháp nhân thương mại do tập thể Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị hoặc
Đại hội cổ đông thông qua. Vì vậy, nếu trong trường hợp này chỉ quy định
TNHS đối với cá nhân thì sẽ không công bằng.
phạm là pháp nhân thương mại trong pháp luật Việt Nam”. Vấn đề này chủ
yếu mới được đề cập đến như một phần nhỏ trong các bài viết, khóa luận,
luận văn hoặc các bài viết trên các Tạp chí chuyên ngành… Có thể kể đến
một số công trình nghiên cứu như:
- Đề tài cấp bộ “Nghiên cứu so sánh cơ sở lý luận và thực tiễn của việc
quy định trách nhiệm hình sự của páp nhân”, Hà Nội, 2011, do TS. Cao Thị
Oanh làm Chủ nhiệm.
- Phạm Hồng Hải “Pháp nhân có thể là chủ thể của tội phạm hay
không?”, Tạp chí Luật học, số 6/1999;
- Lê Cảm “TNHS của pháp nhân - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”,
Tạp chí Tòa án nhân dân, số 3, 4/2000;
- Trịnh Quốc Toản “TNHS của pháp nhân trong luật hình sự nước
Anh”, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Kinh tế-Luật, T.XVIII, Số
3. 2002;
- Trịnh Quốc Toản “TNHS của pháp nhân trong luật hình sự Vương
quốc Bỉ”, Tạp chí Nhà nước & Pháp luật, số 3/2003;
- Trịnh Quốc Toản “TNHS của pháp nhân trong luật hình sự Hà Lan”,
Tạp chí Kiểm sát, số 5/2003;
- Trịnh Quốc Toản “Phạm vi và điều kiện áp dụng TNHS của pháp
nhân trong luật hình sự Anh”, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội,
Kinh tế-Luật, T.XIX, số 1. 2003;
- Trịnh Quốc Toản “Những vấn đề cơ bản về TNHS của pháp nhân
trong Luật hình sự Thụy Sỹ”, Tạp chí Toà án nhân dân, số 7 tháng 4-2005;
- Trịnh Quốc Toản “TNHS của pháp nhân trong luật hình sự Canada”,
Tạp chí Nhà nước & Pháp luật, số 4/2006;
5
- Hoàng Thị Tuệ Phương, “TNHS pháp nhân”, Luận văn Thạc sỹ luật
Để thực hiện mục đích trên, nhiệm vụ chính của luận văn là giải quyết
các vấn đề sau:
- Nghiên cứu lý luận về chủ thể của tội phạm là pháp nhân thương mại;
- Phân tích các quy định của BLHS 2015 về TNHS của pháp nhân
thương mại;
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và thực thi pháp
luật về TNHS của pháp nhân thương mại trong luật hình sự Việt Nam.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ của Luận văn Thạc sỹ luật học, luận văn tập trung
nghiên cứu một số vấn đề cơ bản liên quan đến chủ thể của tội phạm là pháp
nhân thương mại, đồng thời kiến nghị hoàn thiện một số nội dung liên quan đến
việc xác định chủ thể của tội phạm là pháp nhân thương mại, TNHS của pháp
nhân thương mại theo luật hình sự Việt Nam, đảm bảo việc áp dụng pháp luật
hình sự đối với loại chủ thể này trong thực tiễn được thống nhất, rõ ràng.
Đây là một vấn đề khá mới mẻ, nên trong giới hạn nghiên cứu của đề
tài, tác giả giới hạn phạm vi nghiên cứu các vấn đề lý luận về chủ thể của tội
phạm, về pháp nhân thương mại với vai trò là chủ thể của tội phạm, các quy
định hiện hành về TNHS của pháp nhân thương mại và kiến nghị hoàn thiện
các quy định của pháp luật về vấn đề này.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, luận văn dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác – Lê Nin, tư tưởng của chủ tịch Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật.
Luận văn sử dụng phương pháp luận để nghiên cứu đề tài là phép duy
vật biện chứng và phép duy vật lịch sử.
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể:
+ Các phương pháp nghiên cứu đặc thù của khoa học xã hội được sử
dụng nghiên cứu đề tài bao gồm: phương pháp so sánh; phương pháp xã hội
học; phương pháp logic; phương pháp lịch sử; phương pháp phân tích, tổng
hợp; phương pháp hệ thống hóa...
BLHS 2015 về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại.
8
Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỦ THỂ CỦA TỘI PHẠM LÀ
PHÁP NHÂN THƢƠNG MẠI
1.1. Cơ sở của việc pháp điển hóa chủ thể của tội phạm là pháp nhân
thƣơng mại
1.1.1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc pháp điển hóa chủ thể của tội phạm
là pháp nhân thương mại
1.1.1.1. Cơ sở lý luận
Trong lịch sử pháp luật hình sự thế giới, một thời gian dài, TNHS của
thể nhân và TNHS theo lỗi được xác định và ghi nhận như là những nguyên
tắc của luật hình sự. Sở dĩ như vậy là vì, khi xem xét cơ sở của TNHS, luật
hình sự đánh giá tính quyết định không chỉ của yếu tố hành vi khách quan mà
cả yếu tố tâm lý chủ quan của người thực hiện hành vi đó để xác định có tội
hay không có tội. Trong khi đó, theo quan niệm truyền thống thì pháp nhân
nói chung và pháp nhân thương mại nói riêng không có yếu tố tâm lý, nên
không thể là đối tượng đánh giá trong luật hình sự. Hay nói cách khác, pháp
nhân hoặc pháp nhân thương mại không thể là chủ thể của TNHS.
Từ quan điểm có tính chất quyết định này, nguyên tắc TNHS cá nhân
trong luật hình sự được xác định.Và hầu như toàn bộ các vấn đề lý thuyết về
luật hình sự (như khái niệm tội phạm, các yếu tố cấu thành tội phạm, các chế
định TNHS và hình phạt...) và quy định của pháp luật hình sự cũng như thực
tiễn áp dụng pháp luật hình sự đều xuất phát từ nguyên tắc này.
Cùng với sự phát triển của luật hình sự và tình hình tội phạm, khi mà
tội phạm có pháp nhân, các pháp nhân phạm tội phát triển; các tội phạm
xuyên quốc gia, tội phạm tham nhũng, tội khủng bố, tội rửa tiền... xảy ra ngày
của pháp nhân hoặc pháp nhân thương mại trong pháp luật quốc gia. Các công
ước đó bao gồm: Công ước Liên hợp quốc về chống tội phạm có pháp nhân
xuyên quốc gia (Điều 10); Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng
10
(Điều 26); Pháp nhân vì công ước quốc tế về hợp tác và phát triển kinh tế
chống nạn hối lộ công chức nước ngoài (Điều 2), Công ước Cộng đồng châu
Âu về chống tham nhũng bằng luật hình sự (Điều 18) v.v...[13,tr 9].
Theo quan niệm truyền thống, cơ sở của TNHS là việc thực hiện hành
vi được luật hình sự quy định là tội phạm. Hay nói cách khác, cơ sở TNHS là
việc thực hiện hành vi cấu thành tội phạm. Để truy cứu TNHS đối với một
người, cơ quan tiến hành tố tụng phải xác định được hành vi phạm tội (actus
reus) và yếu tố lỗi (mens rea) của người thực hiện hành vi đó. Yếu tố hành vi
đòi hỏi phải có hành vi khách quan thể hiện ra bên ngoài và hậu quả do hành
vi đó gây ra; yếu tố chủ quan đòi hỏi chủ thể có một thái độ tâm lý là khi thực
hiện hành vi phạm tội nhận thức được hành vi và điều khiển được ý chí của
mình. Quan điểm tội phạm là một thể thống nhất giữa các yếu tố khách quan
(khách thể, mặt khách quan) và các yếu tố chủ quan (chủ thể, lỗi) đã được
thừa nhận chung trong lý thuyết truyền thống về tội phạm. Điều này hoàn
toàn đúng khi TNHS được áp dụng đối với thể nhân.
Thế nhưng, đối với pháp nhân, con người pháp lý (legal person) thì lý
thuyết truyền thống trở nên bất cập. Để giải quyết những vướng mắc về mặt
lý luận trong việc áp dụng TNHS đối với pháp nhân, các nhà luật học đã đưa
ra các học thuyết làm nền tảng và luận giải cho vấn đề này. Khoa học luật
hình sự thế giới ghi nhận các học thuyết cơ bản sau đây [37, tr6-8]:
- Học thuyết trách nhiệm thay thế (Vicarious liability):
Theo học thuyết trách nhiệm thay thế, bất cứ điều gì mà người làm
công, người làm đại lý cho pháp nhân thực hiện trên cơ sở mối quan hệ giữa
pháp nhân với nhân viên theo quy định của pháp luật đều được coi là chính
nhân trong bối cảnh có rất nhiều loại hình pháp nhân với hình thức hoạt động,
kinh doanh rất khác nhau hiện nay. Theo chúng tôi, đây chính là điểm hạn chế
cơ bản nhất của học thuyết này.
Ngoài ra, so sánh với thuyết trách nhiệm thay thế (được cho là phạm vi
TNHS pháp nhân quá rộng), thì thuyết đồng nhất hóa lại thu quá hẹp phạm vi
12
TNHS của pháp nhân, khi chỉ thông qua hành vi của các nhà quản lý, điều
hành, chỉ huy (tức nhân viên cao cấp) của pháp nhân.
- Học thuyết hệ thống/ văn hóa (Systems/ Culture Theory)
Học thuyết hệ thống/ văn hóa xác định tội của pháp nhân thông qua
đánh giá vấn đề văn hóa của pháp nhân "thái độ, chính sách, nội quy, trật tự
quản lý hay tiến hành các hoạt động được pháp nhân duy trì" [34]. Hay nói
cách khác, văn hóa pháp nhân được xem như là "ý chí" của pháp nhân điều
khiển hành vi phạm tội của nhân viên pháp nhân.
So với học thuyết đồng nhất hóa trách nhiệm (chỉ thông qua hành vi của
lãnh đạo, chỉ huy, người quản lý, nhân viên cấp cao), học thuyết văn hóa pháp
nhân xác định phạm vi TNHS của pháp nhân rộng hơn; bất kỳ hành vi phạm tội
nào của nhân viên pháp nhân cũng có thể được quy kết cho pháp nhân.
Tuy nhiên, học thuyết này có hạn chế ở chỗ do "văn hóa" pháp nhân
được hình thành và ghi nhận có thể thành văn hoặc bất thành văn, cho nên
việc chứng minh rằng pháp nhân đã khuyến khích, động viên hoặc ngầm đồng
ý, chấp nhận cho cá nhân thực hiện hành vi phạm tội để trên cơ sở đó có thể
truy cứu TNHS pháp nhân là một việc làm rất phức tạp và khó khăn trong
thực tiễn.
Nghiên cứu các học thuyết nêu trên cho thấy, dù có cách lý giải khác
nhau về TNHS của pháp nhân, nhưng các học thuyết có những điểm chung là:
- Pháp nhân bao giờ cũng phải chịu TNHS thông qua hành vi phạm tội
của thể nhân. Không có hành vi của thể nhân thì không có TNHS của pháp nhân;
Vedan Việt Nam làm thiệt hại hàng trăm tỷ đồng cho nông dân các tỉnh Đồng
Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu, Hồ Chí Minh. Thiệt hai mà công ty này gây ra là rất
lớn, kết quả nghiên cứu, xác minh cho thấy:
Năm 1994, ngay sau khi đi vào hoạt động chính thức (vào thời điểm đó
trên lưu vực sông Thị Vải có rất ít cơ sở công nghiệp hoạt động), Công ty
Vedan đã thải chất thải gây ô nhiễm môi trường sông Thị Vải làm thủy sản
chết hàng loạt.
14
Năm 1995, Công ty Vedan đã đồng ý đền bù với danh nghĩa là hỗ trợ
ngư dân chuyển đổi sản xuất với số tiền 15 tỷ đồng cho 3 tỉnh/TP: Đồng Nai,
Bà Rịa - Vũng Tàu và thành phố Hồ Chí Minh.
Sau đó, qua khảo sát, nghiên cứu lại tiếp tục phát hiện các dấu hiệu vi
phạm nghiêm trọng của Công ty Vedan, cụ thể như sau:
Trong điều kiện xả thải bình thường trước khi phát hiện vụ việc xảy ra
(9/2008), lưu lượng nước thải của Công ty Vedan trung bình khoảng 5.000 5.800 m3/ngày, đã được xử lý tại 3 hệ thống xử lý nước thải (XLNT) của
Công ty:
- Hệ thống XLNT chế biến tinh bột biến tính bằng công nghệ UASB,
kết hợp bùn hoạt tính có công suất 1.500 m3/ngày. Nước thải sau xử lý có
nồng độ các chất ô nhiễm chính như sau (theo kết quả kiểm tra năm 2008 của
Tổng cục Môi trường): TSS = 38 mg/l, BOD5 = 8 mg/l, COD = 31 mg/l, NNH3 = 0,35 mg/l, Tổng N = 1,6 mg/l, và Tổng P = 1,84 mg/l; cơ bản đạt tiêu
chuẩn cho phép (TCCP).
- Hệ thống XLNT chế biến tinh bột bằng hệ thống 21 hồ sinh học tự
nhiên có công suất 2.500 m3/ngày. Nước thải sau xử lý có nồng độ các chất ô
nhiễm chính như sau (theo kết quả kiểm tra năm 2008 của Tổng cục Môi
trường): TSS = 41 mg/l, BOD5 = 59 mg/l, COD = 113 mg/l, N-NH3 = 40,7
mg/l, Tổng N = 50,5 mg/l, và Tổng P = 2,94 mg/l; không đạt TCCP.
- Hệ thống XLNT sản xuất Lysin từ mật rỉ đường bằng hệ thống sinh
học hiếu khí bùn hoạt tính, kết hợp mương ôxy hóa có công suất 1.800
thải của Công ty Vedan (đặc biệt là dịch thải sau lên men) là nguồn gây ô
nhiễm chính đối với sông Thị Vải.
Tuy nhiên, với các hành vi gây ô nhiễm của mình, Công ty Vedan chỉ
bị xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 267.500.000 đồng, đồng thời truy
thu khoản phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp trốn nộp là:
127.268.067.520 đồng [22]. Có thể thấy, so sánh thiệt hại cho môi trường mà
Công ty Vedan gây ra với mức mà Công ty này phải bồi thường là không
16
tương xứng. Nhưng, theo các quy định của pháp luật hiện hành tại thời điểm
đó thì chỉ có thể xử lý các hành vi vi phạm của Công ty này ở mức độ là các
biện pháp dân sự mà thôi.
Gần đây nhất là vụ việc do Công ty Formosa Hà Tĩnh gây ra thiệt hại
nặng nề cho môi trường và cuộc sống của người dân các tỉnh miền trung,
khiến dư luận trong cả nước vô cùng bức xúc. Cụ thể:
Sự cố ô nhiễm môi trường biển làm cá chết tại 4 tỉnh miền Trung từ Hà
Tĩnh đến Thừa Thiên Huế đã gây hậu quả nghiêm trọng, hủy hoại môi trường
biển, không chỉ ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống ngư dân mà còn tác động
xấu đến phát triển các ngành sản xuất khác, đến xuất khẩu, du lịch…
Tính toán sơ bộ cho thấy sự cố ô nhiễm môi trường do công ty Formosa
gây ra đã ảnh hưởng trực tiếp đến hơn 100.000 người do không có việc làm
ổn định, thu nhập thấp và 176.285 người phụ thuộc.
Thiệt hại sản lượng hải sản khai thác ven bờ và vùng lộng ước tính
khoảng 1.600 tấn/tháng; diện tích nuôi tôm bị chết hoàn toàn là 5,7 ha tương
đương 9 triệu tôm giống và khoảng 7 tấn tôm thương phẩm sắp đến kỳ thu
hoạch; có trên 3.000 ha nuôi tôm thâm canh và bán thâm canh đã thả giống bị
nhiễm độ mặn cao, môi trường suy giảm nên tôm chậm lớn, xuất hiện bệnh và
có trên 350 ha nuôi tôm bị chết rải rác.
Ngoài ra, có 1.613 lồng nuôi cá bị chết (khoảng 30.000m3), tương
luận xã hội dấy lên nhiều quan điểm, ý kiến không đồng tình.
Xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn khách quan, đòi hỏi tất yếu khách
quan là buộc các nhà làm luật phải sớm đưa pháp nhân thương mại trở thành
chủ thể của luật hình sự Việt Nam, để có các biện pháp chế tài tương xứng áp
dụng đối với các hành vi vi phạm của các pháp nhân thương mại này, đảm
bảo công bằng xã hội, công lý được thực thi. Vấn đề này được luận giải bằng
các căn cứ sau:
- Thứ nhất, sự hình thành và phát triển của cơ chế kinh tế thị trường với
sự tham gia bình đẳng của các thành phần kinh tế. Pháp luật liên quan đến đầu
18
tư, kinh doanh thương mại ngày càng thông thoáng tạo điều kiện cho các
thành phần kinh tế phát triển. Thay cho kinh tế cá thể nhỏ lẻ, nhiều pháp nhân
thương mại được hình thành; các doanh nghiệp tư nhân, các doanh nghiệp đầu
tư nước ngoài được thành lập ngày càng nhiều; hoạt động kinh doanh ngày
càng tấp nập... Kinh tế thị trường đã mang lại những những lợi ích vô cùng to
lớn cho sự phát triển kinh tế xã hội ở nước ta. Nhưng cùng với những lợi ích
đó, chúng ta cũng phải đối mặt với nhiều hiện tượng tiêu cực được coi là mặt
trái của kinh tế thị trường như các hành vi vi phạm quy định về độc quyền,
cạnh tranh không lành mạnh, buôn lậu, xâm phạm sở hữu trí tuệ, gian lận
thương mại, làm ô nhiễm môi trường... gây nên những hậu quả rất nghiêm
trọng, thậm chí đặc biệt nghiêm trọng cho xã hội. Các hoạt động trái pháp
luật, gây thiệt hại nêu trên không phải là do cá nhân, mà là quyết định của các
tập thể hội đồng quản trị, lãnh đạo điều hành các tập đoàn, tổng công ty,
doanh nghiệp. Vì vậy, rõ ràng, trong những trường hợp này, việc xử lý vi
phạm bằng pháp luật dân sự, xử phạt hành chính đối với pháp nhân và chỉ
truy cứu TNHS một số cá nhân điều hành nhân danh, thay mặt và vì lợi ích
pháp nhân là chưa đủ để đạt được mục đích răn đe, phòng ngừa ngăn chặn tái
phạm, vi phạm pháp luật; không công bằng trong việc xử lý đối với các cá
phạm và những thiệt hại do hành vi vi phạm gây ra. Thực tiễn cho thấy những
hậu quả pháp lý mà pháp nhân phải gánh chịu không đủ nghiêm khắc để phòng
ngừa tái phạm, bù đắp những thiệt hại gây ra khi mà những lợi ích trái pháp luật
mà các pháp nhân có được từ những hành vi đó lại lớn hơn rất nhiều.
- Thứ tư, việc không truy cứu TNHS đối với pháp nhân trong nhiều
trường hợp đã gây nên những khó khăn trong việc xử lý vi phạm. Ví dụ, nếu
truy cứu TNHS thì cơ quan tiến hành tố tụng có quyền chủ động khởi tố vụ án
hình sự, chứng minh và truy cứu TNHS đối với pháp nhân và xác định trách
nhiệm bồi thường cho người bị hại; còn theo luật tố tụng dân sự, rất khó xác
định nguyên đơn và khả năng để nguyên đơn chứng minh được thiệt hại gây
ra theo nguyên tắc đương sự phải chứng minh cho yêu cầu của mình. Hơn
20
nữa, việc khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại luôn đi kèm theo dự phí án
phí dân sự không phải nhỏ…
Rõ ràng, trong những trường hợp này, việc áp dụng thủ tục tố tụng hình
sự để xử lý vi phạm là hợp lý nhất để xử lý nhanh chóng, kịp thời, hiệu quả vi
phạm pháp luật, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của xã hội, của người bị thiệt
hại.
- Thứ năm, việc không quy định TNHS của pháp nhân đang tạo ra sự
thiếu thống nhất của hệ thống pháp luật và sự bất bình đẳng, thiếu công bằng
trong xử lý tội phạm và vi phạm pháp luật ở nước ta. Cùng một hành vi phạm
tội, nhưng với các chủ thể khác nhau thì được xử lý khác nhau từ góc độ định
tội danh cũng như biện pháp TNHS. Ví dụ, cùng một hành vi làm giả giấy tờ
để chiếm đoạt tiền hoàn thuế giá trị gia tăng, nhưng những người thuộc doanh
nghiệp tư nhân phải chịu TNHS về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản; còn người
trong các doanh nghiệp nhà nước thì có thể bị truy cứu TNHS về tội lợi dụng
chức vụ, quyền hạn hoặc tội cố ý làm trái các quy định của nhà nước về quản
lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng. Hay hành vi trốn thuế của cá nhân thì có
bảo xử lý hiệu quả, công bằng, bình đẳng đối với công dân, pháp nhân trước
pháp luật; 3/ đảm bảo tính hệ thống trong hệ thống pháp luật Việt Nam; 4/
Xây dựng một nền tư pháp công bằng, dân chủ, văn minh, bảo vệ công lý, bảo
vệ quyền con người.
1.1.2. Kinh nghiệm pháp luật quốc tế về vấn đề pháp điển hóa chủ thể
của tội phạm là pháp nhân thương mại
Những nghiên cứu về vấn đề TNHS của pháp nhân theo quy định của
pháp luật các nước đại diện cho các hệ thống pháp luật khác nhau cho thấy xu
thế tất yếu của việc công nhận và quy định TNHS của tổ chức trong pháp luật
các quốc gia. Các quy định của pháp luật hình sự ở các nước được nghiên cứu
có những điểm tương đồng mang tính phổ biến, nhưng cũng có những điểm
khác biệt xuất phát từ nhận thức lý luận, truyền thống pháp luật và điều kiện
phát triển cũng như nhu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm đặc thù ở mỗi
22