VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
BÙI THANH HẢI
BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI
BỊ TẠM GIỮ THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ
HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 62.38.01.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. ĐINH THỊ MAI
HÀ NỘI, 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các tư liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực. Nếu có điều gì sai sót,
tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Tác giả luận văn
Bùi Thanh Hải
giữ theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam.............................................. 72
KẾT LUẬN .................................................................................................... 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................... 76
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS
: Bộ luật hình sự
BLTTHS
: Bộ luật tố tụng hình sự
BPNC
: Biện pháp ngăn chặn
CQĐT
: Cơ quan điều tra
ĐTV
: Điều tra viên
KSV
: Kiểm sát viên
diện trong thực hiện các chính sách kinh tế xã hội, trong các hoạt động nhà
nước là những quan điểm cơ bản được thực hiện trong các văn bản của Đảng.
Để nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp, Đảng có những quan điểm chỉ đạo
về cải cách tổ chức và hoạt động của cơ quan tư pháp, đặc biệt tại Nghị quyết
số 49-NQ/TW của Bộ chính trị ngày 02-6-2005 “Về chiến lược cải cách tư pháp
đến năm 2020” khẳng định “Đòi hỏi của công dân và xã hội đối với cơ quan tư
pháp ngày càng cao; các cơ quan tư pháp phải thật sự là chỗ dựa của nhân dân
trong việc bảo vệ công lý, quyền con người, đồng thời phải là công cụ hữu hiệu
bảo vệ pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa, đấu tranh có hiệu quả với các
loại tội phạm và vi phạm”[3]; Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI của
Đảng cũng tiếp tục đặt ra nhiệm: “Đẩy mạnh xây dựng nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa, trong đó đẩy mạnh việc thực hiện chiến lược cải cách tư pháp
đến năm 2020, xây dựng hệ thống tư pháp trong sạch, vững mạnh, bảo vệ công
lý, tôn trọng và bảo vệ quyền con người” [12];
Hải Dương là thành phố đang trên đà phát triển về các mặt chính trị văn
hóa xã hội, nơi giao thương kinh tế tương đối tấp nập. Kéo theo với điều đó là
tình hình tội phạm trên địa bàn trong những năm vừa qua đã diễn ra tương đối
phức tạp. Đấu tranh phòng, chống tội phạm là nhiệm vụ quan trọng để bảo vệ
chế độ, bảo vệ cuộc sống bình yên cho nhân dân. Trong công cuộc đấu tranh
với tội phạm, một vấn đề không kém phần quan trọng là bảo vệ có hiệu quả
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong đó có người bị tạm giữ để
quyền và lợi ích của người bị tạm giữ không bị xâm hại, hạn chế những hành
vi vi phạm pháp luật từ phía cơ quan và người THTT. Bên cạnh những kết
quả đạt được, thực tiễn áp dụng cho thấy trong quá trình giải quyết VAHS
1
trên địa bàn thành phố Hải Dương, tình trạng cơ quan, cá nhân có thẩm quyền
THTT xâm phạm đến các QCN đặc biệt là quyền của người bị tạm giữ vẫn
còn xảy ra. Những vi phạm đó xảy ra là do nhiều nguyên nhân, trong đó có
trong lĩnh vực tư pháp hoặc tư pháp hình sự được công bố. Trong số các công
trình này có: Đề tài Nghiên cứu khoa học cấp Đại học Quốc gia “Bảo vệ
quyền con người bằng pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự trong
giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam” của GS.TSKH. Lê Văn
Cảm [6]; báo cáo “Bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự trong điều
kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam” tại Hội thảo về
Quyền con người trong tố tụng hình sự (do VKSND tối cao và Uỷ ban nhân
quyền Australia tổ chức tháng 3/2010) của PGS.TS Nguyễn Thái Phúc [30]; bài
báo khoa học “Bảo vệ quyền con người của người bị tạm giữ trong tố tụng hình
sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp” của PGS.TS Trần Văn Độ [14];
Các công trình trên các tác giả đã nghiên cứu về vấn đề bảo đảm QCN
trong tư pháp hình sự nói chung và trong TTHS nói riêng. Bước đầu đã đặt nền
móng cho việc đặt QCN lên hàng đầu. Tuy nhiên, đến nay chưa có công trình
khoa học nào tiếp cận một cách trọn vẹn, toàn diện, hệ thống, đồng bộ về vấn
đề bảo đảm QCN của người bị bắt theo pháp luật TTHS từ thực tiễn một địa
bàn nghiên cứu, cụ thể là tại thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.
Tình hình nghiên cứu trên cho thấy, vấn đề “Bảo đảm quyền con người
của người bị tạm giữ theo pháp luật TTHS Việt Nam (trên cơ sở nghiên cứu
thực tiễn thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương)” cần tiếp tục được nghiên
cứu, để có những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc bảo đảm QCN của
người bị tạm giữ không chỉ trên địa bàn thành phố Hải Dương, mà còn có thể
tham khảo áp dụng trên toàn quốc.
3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là trên cơ sở nghiên cứu lý luận
chung về bảo đảm QCN nói chung và thực tiễn áp dụng đối với người bị tạm
người bị tạm giữ.
- Về địa bàn khảo sát: Luận văn chỉ khảo sát thực trạng áp dụng việc
bảo đảm QCN của người bị tạm giữ trên địa bàn thành phố Hải Dương, tỉnh
Hải Dương.
- Về thời gian khảo sát: luận văn nghiên cứu thực tiễn áp dụng việc bảo đảm
QCN của người bị tạm giữ trong thời gian từ năm 2012 đến năm 2016.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng các phương pháp luận
chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, quan
điểm của Đảng cộng sản Việt Nam.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đã sử dụng các phương pháp
nghiên cứu luật học truyền thống như: phương pháp phân tích và tổng hợp;
phương pháp so sánh, đối chiếu; phương pháp diễn dịch; phương pháp quy
nạp; phương pháp thống kê, điều tra xã hội học để tổng hợp các tri thức khoa
học các vấn đề tương ứng được nghiên cứu trong luận văn.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa làm rõ hơn về phương diện
lý luận về bảo đảm QCN theo pháp luật TTHS Việt Nam hiện nay. Đề tài đã
phân tích, đánh giá, tổng hợp thực tiễn việc bảo đảm QCN của người bị tạm
giữ trên địa bàn thành phố Hải Dương. Qua đó, tìm ra những ưu điểm, hạn
chế, thiếu sót, khó khăn, vướng mắc khi thực hiện. Đồng thời kiến nghị một
số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả, hoàn thiện hệ thống pháp luật TTHS về
việc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của công dân nhất là đối với người bị
tạm giữ.
5
Bên cạnh đó, luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo cần thiết và bổ sung
lợi ích dành cho không chỉ các nhà lập pháp luật mà còn cho các nhà nghiên
quan điểm phổ biến cho rằng QCN là những đặc quyền bẩm sinh, vốn có của
mọi cá nhân: "Nhân quyền là những năng lực và nhu cầu vốn có và chỉ có ở con
người, với tư cách là thành viên cộng đồng nhân loại, được thể chế hóa bằng
pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế"[39]. Một định nghĩa khác
của Văn phòng Cao ủy của Liên hợp quốc về quyền con người (OHCHR) cũng
thường trích dẫn bởi các nhà nghiên cứu, trong đó cho rằng: “Quyền con người
là những đảm bảo pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm
chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm,
những sự được phép và tự do cơ bản của con người” [27].
Quyền con người là những giá trị tự nhiên, vốn có của con người, tuy nhiên
nó chỉ thực sự có ý nghĩa và trở thành hiện thực khi nó được bảo đảm bằng pháp
luật. Học thuyết Nhân quyền tự nhiên cho rằng: “Con người có những quyền cố
hữu do tạo hóa ban tặng như quyền sống, quyền tự do, quyền tự do, quyền sở hữu;
quyền con người là thiêng liêng, cao quý và phải được sắp xếp cao hơn pháp luật
nhà nước; nhân quyền trao cho nhà nước vì vậy quyền lực nhà nước là có giới
hạn và nhà nước co nghĩa vụ đối với nhân dân”[30]. Theo lý luận chung đã
7
được thừa nhận ở đa số các quốc gia trên thế giới thì QCN có những thuộc
tính cơ bản sau đây:
- Tính phổ biến: Tính phổ biến của quyền con người thể hiện ở chỗ
quyền con người là những gì bẩm sinh, vốn có của con người và được áp
dụng bình đẳng cho tất cả mọi thành viên trong gia đình nhân loại, không có
sự phân biệt đối xử vì bất kì lý do gì [44, tr.25].
- Tính đặc thù: Mặc dù tất cả mọi người đều được hưởng QCN nhưng
mức độ thụ hưởng quyền có sự khác biệt, phụ thuộc vào năng lực cá nhân của
từng người, hoàn cảnh chính trị, truyền thống văn hóa xã hội mà người đó
đang sống. Nhận thức được đặc điểm này cũng rất quan trọng đối với việc
tiện tước bỏ, hạn chế hay can thiệp, kể cả trực tiếp hay gián tiếp, vào việc thụ
hưởng các QCN.
Nghĩa vụ bảo vệ: Nghĩa vụ này đòi hỏi các nhà nước phải ngăn chặn sự
vi phạm QCN của các bên thứ ba.
Nghĩa vụ thực hiện: Nghĩa vụ này đòi hỏi các nhà nước phải có những
biện pháp nhằm hỗ trợ công dân trong việc thực hiện các QCN [10].
Để thực hiện các nghĩa vụ về nhân quyền, các Nhà nước phải sử dụng
pháp luật. Là một phạm trù đa diện, xong QCN có mối liên hệ gần gũi hơn cả
với pháp luật. Điều này trước hết là bởi cho dù QCN là bẩm sinh, vốn có song
việc thực hiện các quyền vẫn cần có nhà nước và pháp luật. Hầu hết những nhu
cầu vốn có, tự nhiên của con người không thể được bảo đảm đầy đủ nếu không
được ghi nhận bằng pháp luật, mà thông qua đó, nghĩa vụ tôn trọng và thực thi
các quyền không phải chỉ tồn tại dưới dạng những quy tắc đạo đức mà còn trở
thành những quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc và thống nhất cho tất cả
các chủ thể trong xã hội.
Quyền con người và pháp luật là hai yếu tố không thể tách rời mà có
tác động qua lại lẫn nhau một cách biện chứng. Pháp luật ghi nhận các quyền
của con người được xã hội thừa nhận. Thông qua pháp luật, QCN được ghi
nhận và bảo vệ. Để bảo vệ QCN, pháp luật đưa ra những điều cấm và những
9
hành vi bắt buộc phải làm nhằm ngăn ngừa và chống lại các hành vi vi phạm
QCN. Quyền con người được pháp luật xác lập sẽ không thể bị tước bỏ, hạn chế
một cách tuỳ tiện vì được bảo vệ bằng các biện pháp giáo dục, thuyết phục và
cưỡng chế của xã hội, Nhà nước. Pháp luật là công cụ sắc bén, hữu hiệu của Nhà
nước để bảo vệ thực hiện QCN. Với những đặc điểm riêng của mình, pháp luật
có tính bắt buộc cứng rắn bằng cách xác lập những điều cấm mà bất cứ ai cũng
không được vi phạm. Đồng thời, pháp luật được bảo vệ thi hành bằng bộ máy
Nhà nước cùng với sức mạnh xã hội. Vì thế, các quy định của pháp luật về
phạm, bị buộc tội và những điều kiện pháp lý cũng như thực tế để họ thực
hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng được quy định.
Tuy nhiên, bảo đảm QCN trong TTHS không chỉ là sự ghi nhận về mặt
pháp lý các QCN trong TTHS, bảo vệ và bảo đảm thực thi các quyền đó trong
quá trình giải quyết các VAHS. Bảo đảm QCN của người phải là sự bảo đảm
cho các chủ thể mang quyền được thực hiện đầy đủ và hợp pháp các quyền
được đề cập trong các quy định của pháp luật.
Quyền con người của người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam
trong TTHS được thể hiện cụ thể trong các quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ
được pháp luật TTHS ghi nhận và bảo đảm thực hiện.
Bảo đảm QCN trong hoạt động tạm giữ cũng là bảo đảm QCN trong
TTHS và là một lĩnh vực có tính chất đặc thù của bảo đảm QCN nói chung.
Bảo đảm QCN của người bị tạm giữ là việc ghi nhận các QCN và thực thi
trong hoạt động tạm giữ trong TTHS. Thực hiện tốt việc bảo đảm QCN trong
hoạt động tạm giữ là đóng góp có hiệu quả cho việc bảo đảm QCN trong
TTHS và bảo đảm QCN nói chung.
Bảo đảm QCN trong hoạt động tạm giữ là nhiệm vụ của Nhà nước. Nhà
nước trong điều kiện kinh tế - xã hội, pháp lý của mình cần có cơ chế phù hợp
để ghi nhận và bảo đảm thực thi QCN. Các quy phạm pháp luật về QCN,
quyền và nghĩa vụ tố tụng của người bị tạm giữ chưa phải là cơ sở để các
11
QCN được thực thi mà cần phải có những bảo đảm ràng buộc pháp lý của
Nhà nước.
Để bảo đảm QCN trong hoạt động tạm giữ bên cạnh việc củng cố và
tăng cường các bảo đảm QCN nói chung, còn phải bảo đảm các yếu tố mang
tính đặc trưng riêng như:
- Xây dựng được hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động
Là khi người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc
tội phạm đặc biệt nghiêm trọng hay sau khi người đó thực hiện tội phạm rồi bỏ
trốn, cản trở việc điều tra, khám phá tội phạm. Người bị tạm giữ trong trường hợp
này là người chưa bị khởi tố về hình sự. Việc giữ người trong trường hợp khẩn
cấp nhằm ngăn chặn kịp thời tội phạm và hành vi trốn tránh pháp luật, tiêu hủy
chứng cứ, cản trở hoạt động điều tra của người thực hiện tội phạm và được áp
dụng trong những trường hợp cấp bách. Từ đó, tạo điều kiện cho CQĐT có thẩm
quyền có đủ thời gian thu thập chứng cứ, tài liệu, bước đầu xác định tính chất,
mức độ của hành vi, nhân thân của người bị tạm giữ. Đồng thời để đảm bảo các
quyền tự do cá nhân của con người, Điều 110 BLTTHS năm 2015 đã quy định
một cách rõ ràng, cụ thể các trường hợp giữ khẩn cấp như sau:
+ Trường hợp khẩn cấp thứ nhất: Khi có căn cứ để cho rằng người đó
đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt
nghiêm trọng. Đây là trường hợp cơ quan có thẩm quyền đã có quá trình theo
dõi hoặc kiểm tra xác minh các nguồn tin biết người đó (một người hoặc
nhiều người) đang bí mật tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra
những điều kiện cần thiết khác để thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc
tội phạm đặc biệt nghiêm trọng nên cần phải bắt ngay trước khi tội phạm
được thực hiện. Việc bắt người này cần phải đảm bảo hai điều kiện: Một là,
có căn cứ khẳng định một người (hoặc nhiều người) đang chuẩn bị thực hiện
tội phạm. Hai là, tội phạm đang chuẩn bị được thực hiện là tội phạm rất
nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Chuẩn bị thực hiện tội
phạm, còn một khoảng thời gian nhất định với việc thực hiện tội phạm, nên
không phải mọi hành vi chuẩn bị thực hiện tội phạm đều cần phải truy cứu
14
TNHS. Người bị giữ trong trường hợp này, thường phải bị tạm giữ vì khi
quyết định giữ khẩn cấp CQĐT đã có căn cứ để xác định rằng người đó đang
chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.
Thứ hai, là người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang:
Khi người đó đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội
phạm thì bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt. Phạm tội quả tang có đặc điểm là hành vi
phạm tội cụ thể, rõ ràng không cần thiết phải điều tra, xác minh. Điều 111
BLTTHS năm 2015 quy định những trường hợp phạm tội quả tang bao gồm:
+ Trường hợp thứ nhất: Người đang thực hiện tội phạm thì bị phát hiện.
Đây là trường hợp tội phạm đã bắt đầu được thực hiện, đang diễn ra và chưa
kết thúc trên thực tế, đang gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội được luật hình
sự bảo vệ. Việc người đang thực hiện tội phạm bị phát hiện hay không, tùy
thuộc vào đặc điểm của cấu thành tội phạm, bối cảnh xảy ra tội phạm; khả
năng, kiến thức, vị trí công tác của người phát giác sự kiện phạm tội.
+ Trường hợp hợp thứ hai: Người ngay sau khi thực hiện tội phạm thì
bị phát hiện. Đây là trường hợp người phạm tội vừa thực hiện hành vi phạm
tội xong, chưa kịp chạy trốn, chưa kịp cất giấu tang vật hoặc đang cất giấu
tang vật, đang xóa những dấu vết của tội phạm trước khi chạy trốn thì bị
người khác phát hiện. Vì vậy, khi bắt người phạm tội vừa thực hiện hành vi
phạm tội xong, chưa kịp chạy trốn và sự phát hiện, bắt giữ người phạm tội
phải xảy ra không gián đoạn về mặt thời gian.
+ Trường hợp thứ ba: Người ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị đuổi
bắt. Trong trường hợp phạm tội quả tang này, người phạm tội đang thực hiện tội
phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện nên đã chạy trốn và
bị đuổi bắt. Trong trường hợp này, việc đuổi bắt phải liền ngay sau khi chạy trốn
thì mới có cơ sở xác định đúng người phạm tội, tránh bắt nhầm người không
thực hiện tội phạm. Nếu việc đuổi bắt bị gián đoạn về mặt thời gian so với hành
vi chạy trốn thì không được xem là bắt quả tang mà có thể bắt theo trường hợp
khẩn cấp.
16
Thứ ba, là người bị bắt theo quyết định bị truy nã:
tham gia vào quá trình TTHS thì người bị tạm giữ có quyền và nghĩa vụ nhất
định theo quy định của pháp luật.
Tạm giữ là BPNC của TTHS được các cơ quan THTT áp trong quá
trình giải quyết VAHS. Biện pháp ngăn chặn là chế định pháp lý quan trọng
được qui định tại chương VII và một số điều, ở các chương khác của
BLTTHS 2015. Những BPNC được áp dụng với mục đích ngăn chặn không
cho tội phạm tiếp tục xảy ra gây thiệt hại cho xã hội, không để người phạm tội
tiếp tục thực hiện tội phạm hoặc cản trở điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án
trốn tránh sự trừng phạt của pháp luật. Đồng thời, việc áp dụng các BPNC còn
nhằm mục đích tạo điều kiện thuận lợi để các cơ quan THTT giải quyết vụ án
như không để người phạm tội có thể xóa bỏ dấu vết phạm tội, tiêu huỷ chứng
cứ, làm giả chứng cứ, thông cung giữa những người phạm tội hoặc với người
làm chứng, bảo đảm sự có mặt của bị can, bị án khi có yêu cầu của cơ quan
THTT... Đối tượng bị áp dụng các BPNC là bị can, người phạm tội quả tang
hoặc người mà cơ quan THTT có tài liệu, chứng cứ nghi là họ phạm tội. Khi
áp dụng BPNC các cơ quan có thẩm quyền chỉ được tiến hành trong phạm vi,
giới hạn cũng như thủ tục mà Luật TTHS qui định. Ngoài các đối tượng kể
trên không ai có thể bị áp dụng các BPNC, mọi hành vi áp dụng BPNC không
đúng đối tượng, thẩm quyền, căn cứ cũng như thủ tục đều bị coi là vi phạm
pháp luật, người có hành vi vi phạm tuỳ theo tính chất và mức độ có thể bị xử lý
kỷ luật hoặc truy cứu TNHS. Thẩm quyền áp dụng BPNC là những người
THTT có thẩm quyền của các CQĐT, VKS hoặc những người có chức vụ
trong các cơ quan khác được giao thực hiện một số hoạt động tố tụng, công
dân tham gia vào việc bắt người phạm tội quả tang, bắt người theo lệnh truy
nã. Tuỳ theo tính chất, đặc điểm của từng giai đoạn tố tụng, chức năng nhiệm
vụ của các cơ quan, Luật TTHS qui định cho cơ quan đó được áp dụng tất cả
hay một số các BPNC và trong phạm vi, giới hạn cũng như theo thủ tục của
Luật TTHS.
18
đoạn điều tra, việc áp dụng các BPNC trong đó có biện pháp tạm giữ là rất
cần thiết để phục vụ cho việc chứng minh VAHS. Vì vậy, để đạt được mục
đích của tố TTHS, pháp luật TTHS của bất kỳ một quốc gia nào cũng có quy
định về những biện pháp cưỡng chế tố tụng, các hành vi, quyết định tố tụng
đụng chạm đến quyền, lợi ích của công dân. Hay nói cách khác, cưỡng chế
TTHS, khả năng ảnh hưởng của hoạt động TTHS tới các QCN của công dân
là tất yếu.
Để bảo đảm QCN trong TTHS nói chung, QCN của người bị tạm giữ
trong TTHS nói riêng dưới góc độ quyền công dân, thể hiện chủ yếu thông
qua các nguyên tắc TTHS trong đó có các nguyên tắc ảnh hưởng trực tiếp tới
BPNC bắt người trong giai đoạn điều tra. Trong khoa học luật TTHS, các
nguyên tắc TTHS được phân chia thành các nhóm khác nhau để nghiên cứu,
bao gồm: 1/ Các nguyên tắc bảo đảm pháp chế trong hoạt động tố tụng; 2/
Các nguyên tắc liên quan đến việc xác định sự thật khách quan của vụ án; 3/
Các nguyên tắc thể hiện tính dân chủ trong hoạt động tố tụng và 4/ Các
nguyên tắc bảo đảm QCN của người tham gia tố tụng.
Trong số các nguyên tắc TTHS cơ bản được quy định trong BLTTHS,
các nguyên tắc thuộc nhóm thứ tư thể hiện rõ nhất quan điểm của người làm
luật liên quan đến bảo đảm các quyền, lợi ích hợp pháp của người bị bắt trong
TTHS nói chung và đặc biệt là trong giai đoạn điều tra. Mặc dù họ là những
đối tượng hoặc có khả năng bị áp dụng trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất
là TNHS nhưng những quyền cơ bản, thân thiết nhất như: quyền được tôn
trọng về nhân phẩm, quyền không bị tra tấn, đánh đập khi bị giam giữ, bị
chấp hành án phạt tù... và những quyền tư pháp để được xét xử công bằng, để
được điều tra khách quan trong quá trình tố tụng.. vẫn phải được tôn trọng và
bảo đảm [8, tr.25]. Cụ thể đó là: nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ
bản của công dân (điều 4), nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng của mọi
công dân trước pháp luật (điều 5), nguyên tắc bảo đảm quyền bất khả xâm