VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
BÙI THANH HẢI
BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI
BỊ TẠM GIỮ THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ
HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 62.38.01.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. ĐINH THỊ MAI
HÀ NỘI, 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các tư liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực. Nếu có điều gì sai sót,
tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Tác giả luận văn
Bùi Thanh Hải
MỤC LỤC
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................76
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS
: Bộ luật hình sự
BLTTHS
: Bộ luật tố tụng hình sự
BPNC
: Biện pháp ngăn chặn
CQĐT
: Cơ quan điều tra
ĐTV
: Điều tra viên
KSV
: Kiểm sát viên
QCN
nước là những quan điểm cơ bản được thực hiện trong các văn bản của Đảng.
Để nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp, Đảng có những quan điểm chỉ đạo
về cải cách tổ chức và hoạt động của cơ quan tư pháp, đặc biệt tại Nghị quyết
số 49-NQ/TW của Bộ chính trị ngày 02-6-2005 “Về chiến lược cải cách tư pháp
đến năm 2020” khẳng định “Đòi hỏi của công dân và xã hội đối với cơ quan tư
pháp ngày càng cao; các cơ quan tư pháp phải thật sự là chỗ dựa của nhân dân
trong việc bảo vệ công lý, quyền con người, đồng thời phải là công cụ hữu hiệu
bảo vệ pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa, đấu tranh có hiệu quả với các
loại tội phạm và vi phạm”[3]; Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI của
Đảng cũng tiếp tục đặt ra nhiệm: “Đẩy mạnh xây dựng nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa, trong đó đẩy mạnh việc thực hiện chiến lược cải cách tư pháp
đến năm 2020, xây dựng hệ thống tư pháp trong sạch, vững mạnh, bảo vệ công
lý, tôn trọng và bảo vệ quyền con người” [12];
Hải Dương là thành phố đang trên đà phát triển về các mặt chính trị văn
hóa xã hội, nơi giao thương kinh tế tương đối tấp nập. Kéo theo với điều đó là
tình hình tội phạm trên địa bàn trong những năm vừa qua đã diễn ra tương đối
phức tạp. Đấu tranh phòng, chống tội phạm là nhiệm vụ quan trọng để bảo vệ
chế độ, bảo vệ cuộc sống bình yên cho nhân dân. Trong công cuộc đấu tranh
với tội phạm, một vấn đề không kém phần quan trọng là bảo vệ có hiệu quả
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong đó có người bị tạm giữ để
quyền và lợi ích của người bị tạm giữ không bị xâm hại, hạn chế những hành
vi vi phạm pháp luật từ phía cơ quan và người THTT. Bên cạnh những kết quả
đạt được, thực tiễn áp dụng cho thấy trong quá trình giải quyết VAHS
6
trên địa bàn thành phố Hải Dương, tình trạng cơ quan, cá nhân có thẩm quyền
THTT xâm phạm đến các QCN đặc biệt là quyền của người bị tạm giữ vẫn
còn xảy ra. Những vi phạm đó xảy ra là do nhiều nguyên nhân, trong đó có
bất cập, hạn chế của pháp luật, có trường hợp nhận thức người THTT còn
giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam” của GS.TSKH. Lê Văn
Cảm [6]; báo cáo “Bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự trong điều
kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam” tại Hội thảo
về Quyền con người trong tố tụng hình sự (do VKSND tối cao và Uỷ ban nhân
quyền Australia tổ chức tháng 3/2010) của PGS.TS Nguyễn Thái Phúc [30]; bài
báo khoa học “Bảo vệ quyền con người của người bị tạm giữ trong tố tụng hình
sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp” của PGS.TS Trần Văn Độ [14];
Các công trình trên các tác giả đã nghiên cứu về vấn đề bảo đảm QCN
trong tư pháp hình sự nói chung và trong TTHS nói riêng. Bước đầu đã đặt nền
móng cho việc đặt QCN lên hàng đầu. Tuy nhiên, đến nay chưa có công trình
khoa học nào tiếp cận một cách trọn vẹn, toàn diện, hệ thống, đồng bộ về vấn
đề bảo đảm QCN của người bị bắt theo pháp luật TTHS từ thực tiễn một địa
bàn nghiên cứu, cụ thể là tại thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.
Tình hình nghiên cứu trên cho thấy, vấn đề “Bảo đảm quyền con người
của người bị tạm giữ theo pháp luật TTHS Việt Nam (trên cơ sở nghiên cứu
thực tiễn thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương)” cần tiếp tục được nghiên
cứu, để có những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc bảo đảm QCN của
người bị tạm giữ không chỉ trên địa bàn thành phố Hải Dương, mà còn có thể
tham khảo áp dụng trên toàn quốc.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là trên cơ sở nghiên cứu lý luận
chung về bảo đảm QCN nói chung và thực tiễn áp dụng đối với người bị tạm
giữ trên địa bàn thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương nói riêng. Qua đó,
phát hiện những khó khăn, vướng mắc, thiếu sót trong quá trình thực hiện của
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, để đưa ra những giải pháp góp phần nâng
cao hiệu quả việc bảo đảm QCN của người bị tạm giữ trên địa bàn thành phố
Hải Dương, tỉnh Hải Dương.
Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng các phương pháp luận
chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, quan
điểm của Đảng cộng sản Việt Nam.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đã sử dụng các phương pháp
nghiên cứu luật học truyền thống như: phương pháp phân tích và tổng hợp;
phương pháp so sánh, đối chiếu; phương pháp diễn dịch; phương pháp quy
nạp; phương pháp thống kê, điều tra xã hội học để tổng hợp các tri thức khoa
học các vấn đề tương ứng được nghiên cứu trong luận văn.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa làm rõ hơn về phương diện
lý luận về bảo đảm QCN theo pháp luật TTHS Việt Nam hiện nay. Đề tài đã
phân tích, đánh giá, tổng hợp thực tiễn việc bảo đảm QCN của người bị tạm
giữ trên địa bàn thành phố Hải Dương. Qua đó, tìm ra những ưu điểm, hạn
chế, thiếu sót, khó khăn, vướng mắc khi thực hiện. Đồng thời kiến nghị một
số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả, hoàn thiện hệ thống pháp luật TTHS về
việc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của công dân nhất là đối với người bị
tạm giữ.
Bên cạnh đó, luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo cần thiết và bổ sung
lợi ích dành cho không chỉ các nhà lập pháp luật mà còn cho các nhà nghiên
cứu, các cán bộ giảng dạy pháp luật, các nghiên cứu sinh, học viên cao học và
sinh viên thuộc chuyên ngành Tư pháp hình sự tại các cơ sở đào tạo luật. Kết
quả nghiên cứu của luận văn còn phục vụ cho việc trang bị những kiến thức
chuyên sâu cho các cán bộ thực tiễn đang công tác tại các CQĐT, VKS… trong
quá trình giải quyết VAHS được khách quan, có căn cứ và đúng pháp luật.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về bảo đảm quyền con người của người bị
bằng pháp luật. Học thuyết Nhân quyền tự nhiên cho rằng: “Con người có những
quyền cố hữu do tạo hóa ban tặng như quyền sống, quyền tự do, quyền tự do,
quyền sở hữu; quyền con người là thiêng liêng, cao quý và phải được sắp xếp
cao hơn pháp luật nhà nước; nhân quyền trao cho nhà nước vì vậy quyền lực
nhà nước là có giới hạn và nhà nước co nghĩa vụ đối với nhân dân”[30]. Theo
lý luận chung đã
được thừa nhận ở đa số các quốc gia trên thế giới thì QCN có những thuộc
tính cơ bản sau đây:
- Tính phổ biến: Tính phổ biến của quyền con người thể hiện ở chỗ
quyền con người là những gì bẩm sinh, vốn có của con người và được áp
dụng bình đẳng cho tất cả mọi thành viên trong gia đình nhân loại, không có
sự phân biệt đối xử vì bất kì lý do gì [44, tr.25].
- Tính đặc thù: Mặc dù tất cả mọi người đều được hưởng QCN nhưng
mức độ thụ hưởng quyền có sự khác biệt, phụ thuộc vào năng lực cá nhân của
từng người, hoàn cảnh chính trị, truyền thống văn hóa xã hội mà người đó
đang sống. Nhận thức được đặc điểm này cũng rất quan trọng đối với việc
chúng ta có cái nhìn khách quan về vấn đề nhân quyền ở mỗi quốc gia.
- Tính không thể bị tước bỏ: Trong quan niệm chung của cộng đồng quốc tế,
QCN không thể tùy tiện bị tước bỏ hay hạn chế một cách tùy tiện bởi bất cứ
chủ thể nào, kể cả các cơ quan và quan chức nhà nước. Tuy nhiên, trong một
số trường hợp nhất định được pháp luật quy định trước, chỉ có những chủ thể
đặc biệt mới có thể hạn chế QCN.
- Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau giữa các quyền: Tất cả các QCN có mối
liên hệ chặt chẽ với nhau, việc thực hiện tốt quyền này sẽ là tiền đề để thực
hiện quyền kia. Ngược lại, khi có một quyền bị xâm phạm thì sẽ ảnh hưởng
đến các quyền khác.
Quyền con người được xác định theo các lĩnh vực chủ yếu sau đây:
- Nhóm các quyền dân sự, chính trị: Đây là các quyền quan trọng của con
thành những quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc và thống nhất cho tất cả
các chủ thể trong xã hội.
Quyền con người và pháp luật là hai yếu tố không thể tách rời mà có
tác động qua lại lẫn nhau một cách biện chứng. Pháp luật ghi nhận các quyền
của con người được xã hội thừa nhận. Thông qua pháp luật, QCN được ghi
nhận và bảo vệ. Để bảo vệ QCN, pháp luật đưa ra những điều cấm và những
hành vi bắt buộc phải làm nhằm ngăn ngừa và chống lại các hành vi vi phạm
QCN. Quyền con người được pháp luật xác lập sẽ không thể bị tước bỏ, hạn chế
một cách tuỳ tiện vì được bảo vệ bằng các biện pháp giáo dục, thuyết phục và
cưỡng chế của xã hội, Nhà nước. Pháp luật là công cụ sắc bén, hữu hiệu của Nhà
nước để bảo vệ thực hiện QCN. Với những đặc điểm riêng của mình, pháp luật
có tính bắt buộc cứng rắn bằng cách xác lập những điều cấm mà bất cứ ai cũng
không được vi phạm. Đồng thời, pháp luật được bảo vệ thi hành bằng bộ máy
Nhà nước cùng với sức mạnh xã hội. Vì thế, các quy định của pháp luật về
QCN còn được bảo vệ bằng sự cưỡng chế của Nhà nước tránh mọi hành vi
xâm hại. Trên cơ sở của pháp luật, mọi hành vi vi phạm QCN, quyền công
dân đều phải được xử lý nghiêm minh.
Quyền con người và bảo đảm QCN luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu
của mỗi quốc gia. Trong lĩnh vực pháp luật, vấn đề quyền con người làm nền
tảng trong việc nghiên cứu và ban hành các quy phạm. Và trong lĩnh vực
TTHS cũng vậy, việc giải quyết VAHS không thể tách rời vấn đề bảo đảm
QCN, đặc biệt là quyền của người bị buộc tội. Bởi lẽ để buộc tội và truy cứu
TNHS đối với một người phải dựa trên những căn cứ luật định và phải do
những người, những cơ quan có thẩm quyền tiến hành theo trình tự, thủ tục
mà pháp luật quy định để nhằm mục đích không để lọt tội phạm đồng thời
đảm bảo không làm oan người vô tội.
Bảo đảm quyền con người xét cho cùng chính là việc ghi nhận và thực
hiện những cam kết trong pháp luật quốc tế về các QCN vào trong pháp luật
hoạt động tạm giữ là đóng góp có hiệu quả cho việc bảo đảm QCN trong
TTHS và bảo đảm QCN nói chung.
Bảo đảm QCN trong hoạt động tạm giữ là nhiệm vụ của Nhà nước. Nhà
nước trong điều kiện kinh tế - xã hội, pháp lý của mình cần có cơ chế phù hợp
để ghi nhận và bảo đảm thực thi QCN. Các quy phạm pháp luật về QCN,
quyền và nghĩa vụ tố tụng của người bị tạm giữ chưa phải là cơ sở để các
QCN được thực thi mà cần phải có những bảo đảm ràng buộc pháp lý của
Nhà nước.
Để bảo đảm QCN trong hoạt động tạm giữ bên cạnh việc củng cố và
tăng cường các bảo đảm QCN nói chung, còn phải bảo đảm các yếu tố mang
tính đặc trưng riêng như:
- Xây dựng được hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động tạm giữ
trên cơ sở các tiêu chí quốc tế về QCN và phù hợp với yêu cầu bảo đảm QCN
ở Việt Nam;
- Có các giải pháp thực thi có hiệu qủa các QCN được quy định trong hệ thống
quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động tạm giữ;
- Hình thành cơ chế giám sát bảo đảm QCN trong hoạt động tạm giữ. Tóm lại,
khái niệm bảo đảm QCN của người bị tạm giữ có thể được hiểu:
“là việc tạo ra các điều kiện, yếu tố cần và đủ để quyền con người của người bị
tạm giữ được ghi nhận và bảo đảm thực thi có hiệu quả trong quá trình áp dụng
các biện pháp ngăn chặn tạm giữ trong TTHS".
1.1.2. Khái niệm người bị tạm giữ
Trong TTHS Việt Nam, người bị tạm giữ là người tham gia tố tụng có
quyền lợi và nghĩa vụ pháp lý liên quan đến vụ án. BLTTHS năm 2015 đưa ra
khái niệm về người bị tạm giữ như sau: “Người bị tạm giữ là người bị bắt
trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người bị bắt theo quyết định
truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có quyết định
tạm giữ”[34]. Người bị tạm giữ có thể là người chưa bị khởi tố về hình sự, đó
tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng hoặc Chỉ huy
trưởng vùng Cảnh sát biển là những người có thẩm quyền ra quyết định tạm
giữ [34].
Từ những phân tích ở trên, theo quan điểm của tôi có thể đưa ra khái
niệm khoa học về người bị tạm giữ như sau: Người bị tạm giữ là người bị bắt
trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người bị bắt theo quyết định
truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có quyết định
tạm giữ của người có thẩm quyền tố tụng; có quyền và nghĩa vụ nhất định
theo quy định của pháp luật.
Thứ nhất, là người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp:
Là khi người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc
tội phạm đặc biệt nghiêm trọng hay sau khi người đó thực hiện tội phạm rồi bỏ
trốn, cản trở việc điều tra, khám phá tội phạm. Người bị tạm giữ trong trường hợp
này là người chưa bị khởi tố về hình sự. Việc giữ người trong trường hợp khẩn
cấp nhằm ngăn chặn kịp thời tội phạm và hành vi trốn tránh pháp luật, tiêu hủy
chứng cứ, cản trở hoạt động điều tra của người thực hiện tội phạm và được áp
dụng trong những trường hợp cấp bách. Từ đó, tạo điều kiện cho CQĐT có thẩm
quyền có đủ thời gian thu thập chứng cứ, tài liệu, bước đầu xác định tính chất,
mức độ của hành vi, nhân thân của người bị tạm giữ. Đồng thời để đảm bảo các
quyền tự do cá nhân của con người, Điều 110 BLTTHS năm 2015 đã quy định
một cách rõ ràng, cụ thể các trường hợp giữ khẩn cấp như sau:
+ Trường hợp khẩn cấp thứ nhất: Khi có căn cứ để cho rằng người đó
đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt
nghiêm trọng. Đây là trường hợp cơ quan có thẩm quyền đã có quá trình theo
dõi hoặc kiểm tra xác minh các nguồn tin biết người đó (một người hoặc
nhiều người) đang bí mật tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra
những điều kiện cần thiết khác để thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc
tội phạm đặc biệt nghiêm trọng nên cần phải bắt ngay trước khi tội phạm
ngăn chặn việc người này bỏ trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ thì người đó bị bắt
khẩn cấp. Việc bắt người trong trường hợp này cần đảm bảo hai điều kiện sau:
Một là, khi thấy dấu vết tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở của người bị nghi thực
hiện tội phạm. Việc tìm thấy dấu vết của một tội phạm chỉ được coi là một điều
kiện để bắt khẩn cấp. Hai là, cần ngăn chặn ngay việc người bị nghi thực hiện
tội phạm trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ. Khi có căn cứ cho rằng người bị nghi
thực
hiện tội phạm trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ thì cơ quan có thẩm quyền ra lệnh
bắt khẩn cấp.
Thứ hai, là người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang:
Khi người đó đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội
phạm thì bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt. Phạm tội quả tang có đặc điểm là hành vi
phạm tội cụ thể, rõ ràng không cần thiết phải điều tra, xác minh. Điều 111
BLTTHS năm 2015 quy định những trường hợp phạm tội quả tang bao gồm:
+ Trường hợp thứ nhất: Người đang thực hiện tội phạm thì bị phát hiện.
Đây là trường hợp tội phạm đã bắt đầu được thực hiện, đang diễn ra và chưa
kết thúc trên thực tế, đang gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội được luật hình
sự bảo vệ. Việc người đang thực hiện tội phạm bị phát hiện hay không, tùy
thuộc vào đặc điểm của cấu thành tội phạm, bối cảnh xảy ra tội phạm; khả
năng, kiến thức, vị trí công tác của người phát giác sự kiện phạm tội.
+ Trường hợp hợp thứ hai: Người ngay sau khi thực hiện tội phạm thì
bị phát hiện. Đây là trường hợp người phạm tội vừa thực hiện hành vi phạm
tội xong, chưa kịp chạy trốn, chưa kịp cất giấu tang vật hoặc đang cất giấu
tang vật, đang xóa những dấu vết của tội phạm trước khi chạy trốn thì bị
người khác phát hiện. Vì vậy, khi bắt người phạm tội vừa thực hiện hành vi
phạm tội xong, chưa kịp chạy trốn và sự phát hiện, bắt giữ người phạm tội
Thứ năm, là đối với họ phải có quyết định tạm giữ:
Bên cạnh điều kiện cần là một người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp,
bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, bị bắt theo quyết định truy nã hoặc
người phạm tội tự thú, đầu thú thì điều kiện đủ để họ trở thành người bị tạm
giữ là đối với họ phải có quyết định tạm giữ. Nếu một người bị bắt trong các
trường hợp nêu trên hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú mà không có quyết
định tạm giữ thì cũng không phải là người bị tạm giữ. Do đó điều kiện đủ này
điều kiện quan trọng và quyết định một người có phải là người bị tạm giữ hay
không trong quá trình tham gia TTHS. Khi họ đã có quyết định tạm giữ và
tham gia vào quá trình TTHS thì người bị tạm giữ có quyền và nghĩa vụ nhất
định theo quy định của pháp luật.
Tạm giữ là BPNC của TTHS được các cơ quan THTT áp trong quá
trình giải quyết VAHS. Biện pháp ngăn chặn là chế định pháp lý quan trọng
được qui định tại chương VII và một số điều, ở các chương khác của BLTTHS
2015. Những BPNC được áp dụng với mục đích ngăn chặn không cho tội
phạm tiếp tục xảy ra gây thiệt hại cho xã hội, không để người phạm tội tiếp
tục thực hiện tội phạm hoặc cản trở điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án trốn
tránh sự trừng phạt của pháp luật. Đồng thời, việc áp dụng các BPNC còn
nhằm mục đích tạo điều kiện thuận lợi để các cơ quan THTT giải quyết vụ án
như không để người phạm tội có thể xóa bỏ dấu vết phạm tội, tiêu huỷ chứng
cứ, làm giả chứng cứ, thông cung giữa những người phạm tội hoặc với người
làm chứng, bảo đảm sự có mặt của bị can, bị án khi có yêu cầu của cơ quan
THTT... Đối tượng bị áp dụng các BPNC là bị can, người phạm tội quả tang
hoặc người mà cơ quan THTT có tài liệu, chứng cứ nghi là họ phạm tội. Khi
áp dụng BPNC các cơ quan có thẩm quyền chỉ được tiến hành trong phạm vi,
giới hạn cũng như thủ tục mà Luật TTHS qui định. Ngoài các đối tượng kể
trên không ai có thể bị áp dụng các BPNC, mọi hành vi áp dụng BPNC không
đúng đối tượng, thẩm quyền, căn cứ cũng như thủ tục đều bị coi là vi phạm
hiện để giải quyết vụ án.
Tố tụng hình sự là cách thức, trình tự tiến hành các hoạt động của cơ
quan THTT, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, của các cơ quan
Nhà nước khác và các tổ chức xã hội để giải quyết vụ án theo quy định của
pháp luật TTHS. Hay nói cách khác, TTHS là hoạt động khởi tố, điều tra
VAHS của CQĐT, hoạt động truy tố người phạm tội ra trước tòa án của VKS,
hoạt động xét xử VAHS của Tòa án và hoạt động thi hành bản án, quyết định
bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án [53, tr.786]. Trong giai