Các căn cứ quyết định hình phạt theo luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng (tt) - Pdf 45

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quyết định hình phạt là một trong những giai đoạn cơ bản,
một trong những nội dung của quá trình áp dụng pháp luật hình sự.
Giai đoạn này chiếm vị trí đặc biệt trong quá trình áp dụng pháp luật
hình sự. Điều đó thể hiện trước hết ở chỗ chỉ Tòa án mới có quyền
quyết định hình phạt. Tại khoản 1 Điều 102 Hiến pháp nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: “Tòa án nhân dân là cơ
quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực
hiện quyền tư pháp” [20, tr.54]. Tại Điều 26 Bộ luật Hình sự năm
1999 quy định: “Hình phạt được quy định trong Bộ luật Hình sự và
do Tòa án quyết định” [8, tr.26]. Hình phạt là biện pháp cưỡng chế
nghiêm khắc được Nhà nước giao cho Tòa án nhân dân nhân danh
Nhà nước quyết định áp dụng đối với ngưới phạm tội, không một cơ
quan nhà nước nào khác ngoài Tòa án có quyền áp dụng hình phạt.
Tòa án căn cứ vào quy định của pháp luật hình sự lựa chọn loại hình
phạt phù hợp với mức hình phạt cụ thể tương ứng với hành vi phạm
tội của người phạm tội.
Quyết định hình phạt là một dạng của hoạt động áp dụng
pháp luật hình sự trong giai đoạn xét xử. Quyết định hình phạt là quá
trình sử dụng kết quả điều tra, kết quả truy tố, kết quả xét hỏi và
tranh luận; là quá trình đối chiếu các tình tiết của vụ án hình sự cụ thể
với các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm cụ thể gắn liền với việc
đánh giá con người cụ thể đã thực hiện tội phạm để xác định một loại
và một mức hình phạt phù hợp nhất trong việc cải tạo, giáo dục và
phòng ngừa tội phạm.
Quyết định hình phạt đúng pháp luật, công bằng là tiền đề
1


cho việc đạt được các mục đích của hình phạt: Cải tạo và giáo dục

bằng, nhân đạo, dân chủ và công minh.
2. Tình hình nghiên cứu
Quyết định hình phạt đã được đề cập nhiều nhưng các căn cứ
quyết định hình phạt còn ít được quan tâm nghiên cứu trong khoa học
luật hình sự.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu mới chỉ đề cập đến
quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội cụ thể hoặc những
vấn đề chung, mà chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu và có hệ
thống nào về vấn đề lý luận cơ bản đồng thời đánh giá toàn diện quy
định Bộ luật Hình sự Việt Nam hiện hành về các căn cứ quyết định
hình phạt và thực tiễn áp dụng các quy định đó trên một địa bàn cụ
thể là thành phố Đà Nẵng để làm cơ sở cho việc đề xuất giải pháp
hoàn thiện pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả quyết định
hình phạt. Như vậy, các vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc áp
dụng các căn cứ quyết định hình phạt đòi hỏi phải được tiếp tục
nghiên cứu một cách toàn diện và chuyên sâu hơn để nâng cao hiệu
quả áp dụng pháp luật hình sự trong hoạt động xét xử.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Xuất phát từ tình hình nghiên cứu về các căn cứ quyết định
hình phạt, tác giả nhận thấy cần có sự nghiên cứu toàn diện, có hệ
thống về các căn cứ quyết định hình phạt được quy định tại Điều 45
BLHS năm 1999 (nay là Điều 50 BLHS năm 2015). Trên kết quả
nghiên cứu về lý luận và đánh giá thực tiễn vận dụng các căn cứ quyết
định hình phạt trong hoạt động xét xử của hệ thống Tòa án hai cấp tại
thành phố Đà Nẵng, để đưa ra những đề xuất hoàn thiện quy định của
pháp luật hình sự có liên quan đến các căn cứ quyết định hình phạt và
hoàn thiện quy định về căn cứ quyết định hình phạt tại Điều 45 BLHS
3




trên địa bàn thành phố Đà Nẵng,từ đó chỉ ra một số tồn tại, hạn chế
và các nguyên nhân cơ bản;
- Về thời gian trong 6 năm (2011- 2016).
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận: Luận văn được thực hiện trên cơ sở
phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật
lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà
nước pháp quyền, quan điểm và đường lối chính sách của Đảng và
Nhà nước về chính sách hình sự, vấn đề cải cách tư pháp hiện nay ở
nước ta.
5.2. Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cứu đề
tài, tác giả đã sử dụng các phương pháp đặc thù của khoa học luật
hình sự như: Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê,
điều tra xã hội học để tổng hợp các tri thức khoa học và luận chứng
các vấn đề tương ứng được nghiên cứu trong luận văn.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận: Luận văn có ý nghĩa lý luận và thực tiễn
ở chỗ tác giả đã làm rõ khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa và các căn cứ,
những nguyên tắc của quyết định hình phạt, phân tích và đánh giá nội
dung quy định của Bộ luật Hình sự Việt Nam hiện hành về các căn
cứ quyết định hình phạt. Trên cơ sở đó đưa ra những kiến nghị hoàn
thiện các quy định này ở khía cạnh lập pháp hình sự và một số giải
pháp nâng cao hiệu quả vận dụng từ thực tiễn xét xử.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn: Điểm mới quan trọng nhất của luận
văn là đưa ra các yêu cầu và giải pháp bảo đảm áp dụng đúng các căn
cứ quyết định hình phạt, bao gồm: Yêu cầu thực hiện đúng các
nguyên tắc quyết định hình phạt; yêu cầu của cải cách tư pháp; yêu
cầu bảo vệ quyền con người; yêu cầu thực hiện nguyên tắc suy đoán

Trên cơ sở phân tích nội hàm khái niệm quyết định hình
phạt, nội dung và đặc điểm của hoạt động quyết định hình phạt, đồng
thời kế thừa các quan điểm khoa học, học viên cho rằng có thể khái
niệm quyết định hình phạt như sau:
Quyết định hình phạt là một dạng hoạt động áp dụng pháp
luật hình sự của Tòa án mà trực tiếp là Hội đồng xét xử thực hiện thể
hiện ở việc lựa chọn loại và mức hình phạt cụ thể hoặc miễn hình
phạt đối với người bị tuyên có tội theo trình tự thủ tục nhất định đúng
với quy định của Bộ luật Hình sự để đảm bảo đạt được mục đích của
hình phạt.
1.1.2. Nguyên tắc quyết định hình phạt
Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa
Nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa
Nguyên tắc cá thể hóa hình phạt
Nguyên tắc công bằng
1.1.3. Ý nghĩa của quyết định hình phạt
Quyết định hình phạt là một dạng hoạt động nhận thức và áp
dụng pháp luật hình sự, do Tòa án có thẩm quyền thông qua HĐXX
thực hiện sau khi đã định tội danh và tùy thuộc vào từng trường hợp
để quyết định khung hình phạt, loại hình phạt (các hình phạt chính và
bổ sung), mức hình phạt cụ thể trong phạm vi giới hạn của khung
hình phạt do luật định áp dụng cho chính cá nhân người phạm tội,
7


phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi
phạm tội; hoặc miễn hình phạt cho người phạm tội theo quy định của
BLHS.
Quyết định hình phạt được hiểu là việc Tòa án lựa chọn một
loại và mức hình phạt cụ thể trong phạm vi luật định để áp dụng đối

riêng và hệ thống hình phạt nói chung thực sự là công cụ hữu hiệu
trong công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm.
Quyết định hình phạt đúng góp phần bảo đảm pháp chế xã
hội chủ nghĩa trong Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Quyết định hình phạt đúng sẽ tác động đến ý thức của mỗi cá nhân để
họ thấy sợ hình phạt mà không dám phạm tội và quan trọng hơn là
nhận thức được tính nghiêm minh của pháp luật để tự giác chấp hành
pháp luật [36, tr.10].
1.2. Những vấn đề lý luận về căn cứ quyết định hình phạt
1.2.1. Khái niệm căn cứ quyết định hình phạt
Căn cứ quyết định hình phạt có bốn đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, các căn cứ quyết định hình phạt là những đòi hỏi
được luật hình sự quy định một cách rõ ràng, đầy đủ.
Thứ hai, các căn cứ quyết định hình phạt có tính bắt buộc đối
với Tòa án.
Thứ ba, các căn cứ quyết định hình phạt là những đòi hỏi có
tính nguyên tắc
Thứ tư, tuân thủ các căn cứ quyết định hình phạt là điều kiện
quan trọng để hình phạt được tuyên đạt được mục đích của nó theo
luật định.
Trên cơ sở phân tích nội dung và đặc điểm của các căn cứ
quyết định hình phạt, dựa vào các kết quả nghiên cứu trong khoa học
pháp lý hình sự của các nhà khoa học, theo chúng tôi, có thể đưa ra
khái niệm các căn cứ quyết định hình phạt như sau: Các căn cứ quyết
9


định hình phạt là những đòi hỏi được quy định trong Bộ luật Hình sự
có tính bắt buộc đối với Tòa án khi quyết định hình phạt đối với
người thực hiện tội phạm nhằm đạt được mục đích của hình phạt.

CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 VỀ CÁC CĂN CỨ
QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
2.1. Thực trạng quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999
về các căn cứ quyết định hình phạt
2.1.1. Thực trạng quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999
về căn cứ quyết định hình phạt trong trường hợp thông thường
Tòa án phải dựa vào các căn cứ quyết định hình phạt được
quy định trong BLHS khi quyết định hình phạt đối với người phạm
tội. Tại Điều 45 của BLHS năm 1999 quy định các căn cứ quyết định
hình phạt như sau: “Khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ vào quy
định của BLHS, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội
của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm
nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự”.
Từ quy định này, ta có thể xác định có 4 căn cứ để quyết định
hình phạt đối với người bị kết án, gồm:
2.1.1.1. Căn cứ vào các quy định của Bộ luật Hình sự khi
quyết định hình phạt
2.1.1.2. Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã
hội của hành vi phạm tội đã thực hiện khi quyết định hình phạt
2.1.1.3. Căn cứ vào các đặc điểm nhân thân của người phạm
tội khi quyết định hình phạt
2.1.1.4. Căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách
nhiệm hình sự khi quyết định hình phạt
2.1.2. Thực trạng quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999
về căn cứ quyết định hình phạt trong trường hợp đặc biệt
Bộ luật Hình sự đã phân quá trình thực hiện tội phạm thành
11


ba giai đoạn, gồm:

- Đối với hình phạt phạt tiền: Hình phạt tiền được áp dụng là
hình phạt chính đối với người chưa thành niên phạm tội nếu họ ở độ
tuổi từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi và họ có thu nhập hoặc có tài sản
riêng. Mức phạt tiền đối với người chưa thành niên phạm tội không
vượt quá ½ mức phạt tiền mà điều luật quy định.
- Đối với hình phạt cải tạo không giam giữ: Thời hạn hình
phạt áp dụng cho người chưa thành niên phạm tội không vượt quá ½
thời hạn và điều luật quy định. Đồng thời, do người chưa thành niên
hầu như chưa có thu nhập hoặc tài sản riêng nên không khấu trừ thu
nhập của họ khi bị kết án.
- Đối với hình phạt tù có thời hạn: Bộ luật Hình sự đã phân
hóa người chưa thành niên ra làm hai đối tượng là người từ đủ 14
tuổi đến dưới 16 tuổi và người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi với
đường lối xử lý khác nhau. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thì
được xử lý nhẹ hơn người từ đủ 16 tuổi đến 18 tuổi.
2.1.4. Thực trạng quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999
về căn cứ quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật Hình
sự
Tại Điều 47 của BLHS năm 1999 quy định: “Khi có ít nhất
hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật này,
Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của
khung hình phạt mà điều luật đã quy định nhưng phải trong khung
hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật; trong trường hợp điều luật
chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình
phạt nhẹ nhất của điều luật thì Tòa án có thể quyết định một hình
phạt dưới mức thấp nhất của khung hoặc chuyển sang một hình phạt
khác thuộc loại nhẹ hơn”.
Với nội dung quy định ở trên, điều kiện để Tòa án có thể
13


14


2.1.5. Thực trạng quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999
về căn cứ để quyết định hình phạt tù cho hưởng án treo
Án treo là một trong những biện pháp được áp dụng nhằm
thể hiện nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa, góp phần nâng cao
hiệu quả của công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, được áp
dụng từ rất sớm, xuất hiện cùng với sự ra đời và phát triển của pháp
luật hình sự Việt Nam. Đây là sự kế thừa và phát huy kết quả áp dụng
chế định này trong hơn nửa thế kỷ qua, đồng thời có những nội dung
mới, phù hợp với thể chế chính trị và sự phát triển của nền kinh tế, xã
hội của đất nước trong giai đoạn mới, là công cụ sắc bén trong quá
trình đấu tranh và phòng chống tội phạm, đảm bảo quyền làm chủ
của nhân dân, đảm bảo hiệu lực quản lý Nhà nước và đáp ứng được
yêu cầu của công cuộc phòng ngừa tội phạm trong tình hình hiện nay.
2.2. Thực tiễn áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự năm
1999 về các căn cứ quyết định hình phạt tại thành phố Đà Nẵng
2.2.1. Một số kết quả trong thực tiễn áp dụng quy định của
Bộ luật Hình sự năm 1999 về các căn cứ quyết định hình phạt tại
thành phố Đà Nẵng
Hệ thống Toà án hai cấp thành phố Đà Nẵng đã có nhiều cố
gắng trong việc giải quyết tốt các vụ án hình sự như: Đảm bảo thời
hạn xét xử; số lượng các bản án, quyết định của Toà án có sai phạm
ngày càng giảm mạnh, không có oan sai; công tác tổng kết, hướng
dẫn xét xử được chú trọng và tăng cường hơn; trình độ nghiệp vụ,
chuyên môn, phẩm chất đạo đức, bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán
bộ Toà án nói chung tiếp tục được củng cố và nâng cao; cơ sở vật
chất, điều kiện làm việc của Toà án ngày càng được cải thiện.
Tình hình tội phạm trên địa bàn thành phố Đà Nẵng có chiều

các Toà không thống nhất
2.2.2.4. Áp dụng không đúng các tình tiết giảm nhẹ, tăng
nặng trách nhiệm hình sự dẫn đến quyết định hình phạt không phù
hợp
16


2.2.2.5. Áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự về quyết định
hình phạt nhẹ hơn khi chưa thỏa mãn điều kiện theo quy định
2.2.3. Nguyên nhân của một số hạn chế, vướng mắc trong
thực tiễn áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 về các
căn cứ quyết định hình phạt tại thành phố Đà Nẵng
Một là, các quy định của Bộ luật Hình sự còn bất cập, chưa
hợp lý.
Hai là, trình độ nhận thức và áp dụng pháp luật của Điều tra
viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân,
Thư ký Tòa án còn hạn chế và không đồng đều.
Ba là, do bất cập, hạn chế trong hệ thống chính sách, pháp luật
và công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật.
Bốn là, cùng với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội, tình
hình phát sinh các tranh chấp và tội phạm xảy ra ngày càng nhiều và có
tính chất tinh vi, phức tạp hơn nên việc áp lực giải quyết các vụ án
càng tăng cao.
Năm là, công tác phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng
có lúc, có nơi chưa thực sự chặt chẽ, hiệu quả, dẫn tới việc nhận thức
và vận dụng các quy định của BLHS giữa các cơ quan tiến hành tố
tụng chưa có sự thống nhất.
Sáu là, một bộ phận cán bộ, công chức và nhân dân còn chủ
quan, mất cảnh giác, chưa nêu cao tinh thần, ý thức phòng chống tội
phạm trong tình hình mới. Sự hiểu biết và ý thức chấp hành pháp luật

3.1.3. Hoàn thiện căn cứ thứ ba về "nhân thân người
phạm tội"
3.1.4. Hoàn thiện căn cứ thứ tư "các tình tiết giảm nhẹ và
tăng nặng trách nhiệm hình sự"
3.2. Tiếp tục hoàn thiện quy định của Bộ luật Hình sự
năm 2015 về các căn cứ quyết định hình phạt
Mặc dù BLHS năm 2015 kế thừa và khắc phục những hạn
chế của BLHS năm 1999 về quy định các căn cứ quyết định hình
18


phạt, nhưng vẫn còn nhiều quy định cần tiếp tục hoàn thiện. Cần tiếp
tục hoàn thiện căn cứ thứ nhất "quy định của BLHS năm 2015" như:
Qua nghiên cứu quy định của BLHS, tác giả thấy có một số quy định
của BLHS năm 2015 gây ra khó khăn, bất cập cho việc áp dụng các
quy định này trong quyết định hình phạt đối với người phạm tội. Cụ
thể:
3.2.1. Hoàn thiện căn cứ miễn trách nhiệm hình sự
3.2.2. Hoàn thiện quy định về tù có thời hạn đối với người
phạm tội dưới 18 tuổi
3.2.3. Hoàn thiện quy định tình tiết định khung tại một số
điều luật chưa hợp lý
3.3. Các giải pháp khác bảo đảm áp dụng đúng quy định
của Bộ luật Hình sự về các căn cứ quyết định hình phạt
3.3.1. Tăng cường hướng dẫn áp dụng quy định của Bộ
luật Hình sự về các căn cứ quyết định hình phạt
Hoàn thiện nâng cao chất lượng các văn bản hướng dẫn áp
dụng thống nhất pháp luật là thực sự cần thiết, cấp bách. Các cơ quan
tư pháp Trung ương cần xây dựng Thông tư liên tịch hướng dẫn một
cách đầy đủ, rõ ràng, khoa học khái niệm chung về các căn cứ quyết

công chức, Thẩm phán Tòa án, Hội thẩm nhân dân trong sạch vững
mạnh, đáp ứng yêu cầu hoàn thành nhiệm vụ chính trị trong tình hình
hiện nay và nâng cao trình độ chuyên môn của cán bộ xét xử đảm bảo
giải quyết đúng đắn các vụ án, đòi hỏi phải tiếp tục có các giải pháp
thiết thực hơn nữa. Tác giả xin đưa ra một số giải pháp sau:
Một là, nhận thức đúng đắn tầm quan trọng có ý nghĩa quyết
định trong việc xây dựng đội ngũ Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân.
Hai là, phải tạo sự đột phá trong việc đào tạo, bồi dưỡng đội
ngũ Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân.
Ba là, thực hiện từng bước thích hợp trong xây dựng đội ngũ
20


Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân.
Bốn là, đánh giá và sử dụng đúng đắn đội ngũ Thẩm phán,
Hội thẩm nhân dân.
Năm là, quan tâm xây dựng, thực hiện tốt chế độ, chính sách
đãi ngộ đối với đội ngũ Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân.
Thực hiện được đồng bộ những giải pháp trên đây không chỉ
xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác xét xử có chất lượng, mà quan
trọng hơn là góp phần nâng cao ý thức pháp luật, nâng cao hiệu quả
áp dụng các căn cứ quyết định hình phạt trong hoạt động áp dụng
pháp luật hình sự của Tòa án, góp phần tạo ra sự công bằng, minh
bạch trong quyết định hình phạt đối với người phạm tội.

21


KẾT LUẬN
Quyết định hình phạt là một dạng hoạt động áp dụng pháp

án hình sự của Tòa án.
Cũng như các quy định khác của Bộ luật Hình sự, các quy
định về căn cứ quyết định hình phạt vẫn còn nhiều hạn chế và bất cập
trong thực tiễn áp dụng, mặc dù Bộ luật Hình sự năm 2015 trên cơ sở
kế thừa những quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 và đã có những
sửa đổi, bổ sung nhưng vẫn chưa khắc phục triệt để.
Do vậy, cần phải tiếp tục được tổng kết thực tiễn áp dụng,
nghiên cứu và hoàn thiện nhằm đảm bảo cho hoạt động quyết định
hình phạt đạt được mục đích. Trên cơ sở đó, mới đảm bảo công bằng,
công lý được thực thi, nâng cao niềm tin của người dân vào các cơ
quan tiến hành tố tụng, nhất là Tòa án - Cơ quan thực hiện quyền tư
pháp.
Từ những nghiên cứu về lý luận, quy định của pháp luật hình
sự và thực tiễn áp dụng các căn cứ quyết định hình phạt tại địa bàn
thành phố Đà Nẵng, tác giả đã chỉ ra những hạn chế, vướng mắc và đề
xuất hoàn thiện một số quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 và năm
2015.
Hiện nay, để đảm bảo cho việc áp dụng đúng các quy định của
Bộ luật Hình sự về các căn cứ quyết định hình phạt, cần phải nhanh
chóng thực hiện một số biện pháp đảm bảo như: Tăng cường công tác
thanh kiểm tra, giải thích và hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật;
tiếp tục hoàn thiện những quy định của pháp luật; nâng cao năng lực,
phẩm chất, đạo đức của những người tiến hành tố tụng, nhất là các
Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và đẩy mạnh thực hiện chế độ, chính
sách đãi ngộ đối với họ.

23


Trên đây là kết quả mà luận văn đã đạt được qua quá trình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status