VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THI SỸ
QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT
TRONG TRƯỜNG HỢP CÓ NHIỀU BẢN ÁN
THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THI SỸ
QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT
TRONG TRƯỜNG HỢP CÓ NHIỀU BẢN ÁN
THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 60.38.01.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLHS
: Bộ luật hình sự
BLTTHS
: Bộ luật Tố tụng hình sự
NCTN
: Người chưa thành niên
NCTNPT
: Người chưa thành niên phạm tội
KSV
: Kiểm sát viên
TA
: Tòa án
TAND
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm là một trong các nhiệm vụ
quan trọng của mọi quốc gia. Để đấu tranh có hiệu quả với tội phạm, Luật
hình sự đã quy định những hành vi nguy hiểm cho xã hội nào được coi là tội
phạm và người thực hiện hành vi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự, có
thể bị áp dụng những chế tài nghiêm khắc là các hình phạt tùy thuộc vào tính
chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người
phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Trong thực tiễn, một người có thể thực hiện nhiều hành vi phạm tội
nhưng không bị phát hiện và nhập vào xét xử trong cùng một vụ án hoặc một
người đang chấp hành một bản án hình sự mà lại bị xét xử về tội đã phạm
trước khi có bản án đó hoặc đã bị kết án mà còn phạm tội mới. Trong các
trường hợp này, để đánh giá toàn diện và đầy đủ về tính chất, mức độ nguy
hiểm cho xã hội của các hành vi đã thực hiện và nhân thân người phạm tội,
TA phải quyết định hình phạt không phải đối với một tội mà phải quyết định
hình phạt chung về nhiều tội, không phải quyết định hình phạt đối với một
bản án mà phải quyết định hình phạt đối với nhiều bản án và buộc người bị
kết án phải chấp hành. Vì vậy, quyết định hình phạt trong trường hợp có
nhiều bản án là quy định quan trọng của BLHS, bảo đảm để Tòa án quyết
định hình phạt chung tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội
của các hành vi phạm tội và nhân thân người phạm tội.
Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế, văn hóa – xã hội của cả
nước, nằm trong vùng chuyển tiếp giữa Đông Nam bộ và Tây Nam bộ, gồm
có 24 quận, huyện với tổng diện tích khoảng 2095km2, và với dân số đến nay
khoảng 10 triệu người. Trong những năm vừa qua, dưới sự tác động của nền
kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, kinh tế, văn hóa – xã hội, du lịch,
thương mại, dịch vụ ngày càng phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của
công tác xét xử mà của cả những người làm nghiên cứu pháp luật, chính vì
2
vậy đã có nhiều công trình khoa học cũng như những bài viết của một số nhà
khoa học nghiên cứu vấn đề này. Có thể viện dẫn một số công trình, bài viết
điển hình sau đây như:
- GS. TS Võ Khánh Vinh (1990), Nguyên tác cá thể hóa việc quyết
định hình phạt, Tòa án nhân dân;
- GS. TS Võ Khánh Vinh (1995), Quyết định hình phạt trong Luật hình
sự Việt Nam trong sách, Tội phạm học luật hình sự và tố tụng hình sự, NXB
Chính trị quốc gia;
- GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa (1995) Quyết định hình phạt theo Luật hình
sự Việt Nam, trong sách, Hình phạt trong Luật hình sự Việt Nam, NXB Chính
trị Quốc gia;
- Trần Văn Sơn (1996), Luận văn Thạc sĩ Luật học, Quyết định hình
phạt trong Luật hình sự Việt Nam;
- Dương Tuyết Miên (2003), Luận án Tiến sĩ Luật học, Quyết định hình
phạt trong Luật hình sự Việt Nam;
- TS Dương Tuyết Miên (2004), Định tội danh và quyết định hình phạt,
NXB Công an nhân dân, Hà Nội;
- PGS. TS Cao Thị Oanh (2012), Giáo trình luật hình sự Việt Nam Phần chung, Nxb. Giáo dục Hà Nội;
- GS.TS. Võ Khánh Vinh (2014), Luật hình sự Việt Nam phần chung,
NXB Khoa học xã hội;
- Thân Mạnh Nhất (2015), Luận văn Thạc sĩ Luật học, Tổng hợp hình
phạt theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn xét xử ở các Tòa án Quân
sự Quân khu 1;
- Huỳnh Thị Thu Hương (2015), Luận văn Thạc sĩ Luật học, Quyết
định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội theo pháp luật hình sự Việt
Nam từ thực tiễn Thành phố Đà Nẵng.
- Đưa ra một số kiến nghị và các giải pháp bảo đảm quyết định hình
phạt đúng trong trường hợp có nhiều bản án.
4
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quan điểm lý luận, quy định của
pháp luật và thực tiễn quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án.
Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định về quyết định hình phạt
trong trường hợp có nhiều bản án dưới góc độ Luật hình sự và thực tiễn quyết
định hình phạt của các TAND hai cấp Thành phố Hồ Chí Minh trong thời
gian từ 2012 đến năm 2016.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phép biện chứng duy vật của chủ
nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng
Cộng sản Việt Nam về chính sách hình sự, tội phạm, hình phạt và công tác
đấu tranh phòng chống tội phạm;
Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương
pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh và khảo sát thực tiễn dựa trên
những bản án, báo cáo tổng kết của TA hai cấp tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Phương pháp nghiên cứu trực tiếp một số Kiểm sát viên, Thẩm phán có nhiều
kinh nghiệm trong công tác xét xử các vụ án hình sự.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu đề tài sẽ chỉ rõ những bất cập, những sai sót, không
thống nhất trong quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án. Điều
Mặc dù hình phạt luôn được con người biết đến như là một trong những
công cụ chủ yếu nhất để đấu tranh phòng chống tội phạm, tuy nhiên việc nhận
thức về những vấn đề liên quan đến hình phạt trong khoa học hình sự cho đến
bây giờ vẫn chưa được xem là đầy đủ và hoàn thiện. Vẫn chưa có một quan
điểm thống nhất về khái niệm hình phạt, cơ sở lý luận của hình phạt, mục
đích hình phạt… Vì vậy, rất khó xác định khi nào hình phạt được nhận thức
đúng với bản chất của nó, khi nào hình phạt được xem là đúng nghĩa của hình
phạt. Trong lịch sử lý luận Luật hình sự, có nhiều quan điểm khác nhau về
khái niệm hình phạt. Tuy nhiên, các quan điểm đó chủ yếu tập trung theo hai
hướng:
(1) hoặc coi hình phạt như là công cụ trả thù của Nhà nước;
(2) hoặc coi hình phạt như là công cụ để đấu tranh phòng ngừa tội
phạm.
Quan điểm coi hình phạt là sự trả thù của Nhà nước dựa trên cơ sở của
Học thuyết Trừng trị (Retributive doctrine) do Kant chủ trương với ý tưởng
công lý tuyệt đối. Theo quan điểm này, hình phạt được định nghĩa là sự đau
đớn (về thể chất hoặc tinh thần) hoặc sự bất lợi nhất định nào đó dành cho
người có hành vi phạm tội theo một bản án hoặc quyết định của TA.
Quan điểm coi hình phạt như là công cụ để đấu tranh phòng ngừa tội
phạm xuất phát từ nội dung của Học thuyết Phòng ngừa (Utilitarian doctrine)
do Cesar Beccaria khởi xướng. Theo đó, hình phạt được xem là một sự đau
đớn (về thể xác hoặc tinh thần) hoặc một sự mất mát nhất định mà TA bắt
7
người bị kết án là đã phạm tội phải gánh chịu nhằm mục đích trừng trị, qua đó
nhằm mục đích cải tạo và phòng ngừa.
Theo các nghiên cứu pháp luật hình sự Việt Nam thì hình phạt được
xem xét dựa trên hai đặc trưng cơ bản:
Hình phạt, trước hết, được xem là sự cưỡng chế nghiêm khắc nhất của
hợp nhất đối với người phạm tội nhằm đạt mục đích tối ưu của hình phạt được
áp dụng. Loại và mức hình phạt được quyết định áp dụng đối với người phạm
tội về hành vi phạm tội của họ được thể hiện trong bản án buộc tội của TA
theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Bản án này được tuyên bố một
cách công khai khi tuyên án.
1.1.2 Nguyên tắc quyết định hình phạt và nghiên tắc quyết định hình
phạt trong trường hợp có nhiều bản án
Quyết định hình phạt là một giai đoạn rất quan trọng trong suốt quá
trình tố tụng hình sự. Bởi vì, suy cho cùng chúng ta quy định tội phạm là để
xác định rằng hành vi đó có tính nguy hiểm cho xã hội cao và xác định biện
pháp xử lý đối với hành vi đó bằng một hình phạt cụ thể. Tất cả các hoạt động
trong quá trình tố tụng hình sự cuối cùng cũng chỉ nhằm mục đích áp dụng
hình phạt tương xứng với tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội.
Quyết định một hình phạt đúng pháp luật, công bằng và hợp lý là tiền
đề và là điều kiện để đạt mục đích hình phạt (cải tạo, giáo dục, phòng ngừa
chung và phòng ngừa riêng). Ngược lại, quyết định một hình phạt không đúng
đắn thì không thể đảm bảo mục đích hình phạt. Nếu hình phạt quá nhẹ sẽ làm
giảm ý nghĩa phòng ngừa của hình phạt, bởi lẽ nó sẽ làm phát sinh ý định
phạm tội, thái độ vô trách nhiệm và coi thường pháp luật. Nhưng hình phạt
quá nặng sẽ tạo tâm lý không công bằng, không hợp lý ở người bị kết án dẫn
đến thái độ oán hận, không tin tưởng pháp luật.
Hình phạt có đạt mục đích hay không và đến mức độ nào phụ thuộc vào
nhiều yếu tố (yếu tố lập pháp, áp dụng pháp luật...), trong đó, yếu tố áp dụng
pháp luật có vai trò rất quan trọng, bởi vì chỉ trên cơ sở nhận thức đúng đắn
9
các cơ sở quyết định hình phạt trong từng trường hợp phạm tội cụ thể thì TA
mới có thể cho ra đời một hình phạt đúng đắn và có hiệu quả, khi đó, các yếu
tố về mặt lập pháp mới có ý nghĩa thực tiễn được.
Để trở thành các nguyên tắc quyết định hình phạt, nội dung của chúng
chẳng những thể hiện là sự chỉ đạo, định hướng cho việc áp dụng pháp luật
hình sự, được quy định trực hoặc gián tiếp trong Luật hình sự, phù hợp với
chính sách hình sự trong mỗi giai đoạn mà nội dung của nó phải là những tư
tưởng, định hướng cho hoạt động của TA trong quyết định hình phạt. Các
nghiên tắc quyết định hình phạt bao gồm:
1.1.2.1 Nguyên tắc quyết định hình phạt
Thứ nhất, nguyên tắc pháp chế:
Nguyên tắc pháp chế XHCN có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quyết
định hình phạt và là nguyên tắc có ý nghĩa hàng đầu của Luật hình sự nói
riêng và pháp luật nói chung. Tư tưởng chủ đạo của nguyên tắc này đòi hỏi
khi quyết định hình phạt đối với người bị kết án, TA phải tuân thủ triệt để các
quy định của Luật hình sự. Chỉ có thể áp dụng hình phạt đối với hành vi phạm
tội đã được quy định trong Luật hình sự.
Điều 2 BLHS quy định: “Chỉ người nào phạm một tội đã được Luật
hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự”. Việc Luật hình sự nước
ta bỏ “nguyên tắc tương tự” là một việc làm có ý nghĩa chính trị vô cùng to
lớn. Nó củng cố và tăng cường pháp chế XHCN, là cơ sở pháp lý vững chắc
của việc quyết định hình phạt. Nội dung cơ bản của nguyên tắc này thể hiện ở
chỗ:
- Chỉ có thể áp dụng hình phạt đối với người có hành vi phạm tội được
quy định trong BLHS. Để tạo tiền đề cho việc đảm bảo nội dung này, đòi hỏi
phải định tội danh đối với hành vi phạm tội của bị cáo.
- Sau đó, trên cơ sở đánh giá nhiều tình tiết khách quan và chủ quan,
căn cứ vào những quy định có tính nguyên tắc của tính nguy hiểm cho xã hội
của hành vi phạm tội, TA quyết định một hình phạt có tính xác định, có căn
11
cứ và hợp lý. Tính xác định của hình phạt thể hiện ở chỗ, hình phạt phải cụ
tạo, giáo dục trở thành người có ích cho xã hội. C.Mác viết “Cả lịch sử lẫn lý
trí đều xác nhận như nhau cái sự thật là: sự tàn nhẫn không đếm xỉa đến bất
kỳ sự khác biệt nào, làm cho sự trừng phạt trở nên hoàn toàn vô hiệu, bởi vì
sự tàn nhẫn thủ tiêu sự trừng phạt với tư cách là kết quả của pháp luật”. Việc
duy trì hình phạt tử hình ở một số nước không phải xuất phát từ lý luận cho
rằng, người bị kết án đã không còn khả năng cải tạo được nữa mà xuất phát từ
mục đích phòng ngừa chung của hình phạt.
Thứ ba, nguyên tắc cá thể hoá hình phạt:
Nguyên tắc cá thể hoá hình phạt là biểu hiện cụ thể của nguyên tắc
phân hoá trách nhiệm hình sự. Tư tưởng cơ bản của nguyên tắc này thể hiện ở
chỗ, TA dựa vào ý thức pháp luật của mình, dựa trên cơ sở những quy định
của luật hình sự, những tình tiết khác nhau của vụ án để quyết định một hình
phạt đảm bảo sự tương xứng với tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm
tội. Hầu hết các quy định về hình phạt của phần chung BLHS thể hiện rất rõ
tư tưởng của nguyên tắc này. Chẳng hạn, quy định điều kiện áp dụng các loại
hình phạt, quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm, phạm nhiều tội
và có nhiều bản án...Việc quy định chế tài trong phần các tội phạm BLHS
cũng thể hiện tư tưởng này khi quy định chế tài tuỳ nghi lựa chọn, khung hình
phạt rộng với nhiều loại hình phạt khác nhau cho phép TA trong từng trường
hợp cụ thể có thể lựa chọn một hình phạt đúng đắn nhất đối với bị cáo.
Bên cạnh đó, một số quan điểm còn cho rằng, ngoài ba nguyên tắc
chúng ta đã nghiên cứu còn có một nguyên tắc mà TA phải tuân thủ khi quyết
định hình phạt là nguyên tắc công bằng.Thật ra, nếu TA thấm nhuần ý thức
pháp luật, tư tưởng nhân đạo và cá thể hoá hình phạt thì tất sẽ quyết định một
hình phạt công bằng. Bởi vì, suy cho cùng tư tưởng công bằng cũng không
nằm ngoài sự đòi hỏi có được một hình phạt phải đúng pháp luật, tương xứng
với tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, phản ánh đúng dư luận
xã hội và có sức thuyết phục cao.
13
Nguyên tắc này được áp dụng khi thấy cần thiết và do vậy không thể áp
dụng nguyên tắc khác. Ví dụ như với trường hợp người phạm tội phạm tội
hiếp dâm và trộm cắp tài sản được xét xử ở hai bản án khác nhau, hình phạt
tương ứng với mỗi loại tội là 7 năm và 3 năm tù. Khi áp dụng nguyên tắc
cộng toàn bộ thì người này phải chịu hình phạt chung là 10 năm cho hai bản
án ứng với tội danh của mình.
Thứ ba, nguyên tắc cộng một phần
Theo nguyên tắc cộng một phần, hình phạt chung bằng hình phạt cao
nhất cộng với một phần của hình phạt còn lại. Nguyên tắc này được áp dụng
trường hợp không thể cộng được toàn bộ vì mới cộng một phần đã đạt mức
tối đa cho phép. Ví dụ như đối với người phạm tội bị tuyên 20 năm tù vì tội
giết người ở bản án thứ nhất và 15 năm tù về tội hiếp dâm trẻ em ở bản án thứ
hai thì khi tổng hợp hình phạt cho người phạm tội, người phạm tội chỉ phải
chịu hình phạt chung là 30 năm tù thay vì 35 năm như cộng toàn bộ.
Nguyên tắc cộng các hình phạt được thực hiện khi các hình phạt đó
cùng loại (hoặc có thể quy về cùng loại) và đơn vị tính có thể cộng được.
Trong hệ thống hình phạt Việt Nam, các hình phạt đó là hình phạt tù có thời
hạn, hình phạt cải tạo không giam giữ và hình phạt tiền.
Nguyên tắc thu hút được áp dụng trong trường hợp hình phạt cao nhất
là chung thân hoặc tử hình. Những hình phạt này không thể cộng được với
bất cứ hình phạt nào khác và được coi là hình phạt chung.
Bên cạnh đó khi không thể áp dụng được ba nguyên tắc trên thì có
nghĩa là không tổng hợp để có hình phạt chung mà các hình phạt cùng được
chấp hành…đây có thể coi là nguyên tắc thứ tự.
Thứ tư, nguyên tắc cùng tồn tại
Nguyên tắc cùng tồn tại, có nghĩa là các hình phạt khác loại nhau như
hình phạt tù và phạt tiền, trục xuất… đều cùng được áp dụng.
chỉnh tuân thủ khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội”.
16
Tác giả Đinh Văn Quế trong các tác phẩm của mình cũng định nghĩa:
“Căn cứ quyết định hình phạt là những yêu cầu cơ bản (là chỗ dựa) buộc TA
phải tuân theo khi quyết định hình phạt đối với tội phạm”.
Các định nghĩa này, nhìn chung đều đã chỉ ra được bản chất của căn cứ
quyết định hình phạt.
Để đảm bảo chất lượng, hiệu quả của hoạt động quyết định hình phạt,
Điều 45 BLHS năm 1999 quy định các căn cứ quyết định hình phạt mà TA
bắt buộc phải dựa vào khi quyết định hình phạt là:
1.1.3.1 Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự
Quy định của BLHS là cơ sở pháp lý quan trọng nhất để TA định tội
danh và xác định khung hình phạt, yêu cầu đầu tiên của việc lựa chọn đúng
loại và mức hình phạt cụ thể. Việc quy định căn cứ quy định của bộ luật hình
sự nhằm đảm bảo tính thống nhất, đúng pháp luật khi áp dụng các quy phạm
pháp luật hình sự vào quyết định hình phạt. Nếu không dựa vào quy định của
BLHS sẽ dẫn đến việc tùy tiện hoặc lạm dụng các quy phạm pháp luật hình sự
khi quyết định hình phạt, đồng thời hình phạt được quyết định cũng khó có
thể tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm
tội. Chính vì vậy, Điều 45 BLHS năm 1999 đã buộc Hội đồng xét xử phải căn
cứ vào quy định của BLHS, còn đối với ba căn cứ sau, Điều luật chỉ yêu cầu
cân nhắc. Theo đó, những quy định của BLHS về quyết định hình phạt bao
gồm:
+ Các quy định có tính định hướng chung cho việc quyết định hình
phạt: Nguyên tắc xử lý (Điều 3); Miễn trách nhiệm hình sự (Điều 19 và Điều
25); Mục đích của hình phạt (Điều 27); Các hình phạt (Điều 28); những quy
định về nội dung, phạm vi, điều kiện áp dụng của từng hình phạt (từ Điều 29
đến Điều 40); Căn cứ quyết định hình phạt (Điều 45); Nguyên tắc xử lý đối
thể hoá hình phạt trong quyết định hình phạt. Có như vậy mới đảm bảo được
sự bình đẳng, thống nhất, chính xác khi quyết định hình phạt đối với các
trường hợp phạm tội khác nhau về cùng một tội hay trong cùng một khung
18
hình phạt. Quyết định hình phạt là lựa chọn loại hình phạt cụ thể với mức độ
nhất định trong phạm vi khung hình phạt của điều luật về tội phạm đã quy
định. Việc nhà làm luật xây dựng các khung hình phạt khác nhau trong một
điều luật về tội phạm chính là sự phản ánh tương quan với tính chất nguy
hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. Còn các mức độ khác nhau của hình
phạt trong giới hạn từ tối thiểu đến tối đa của mỗi khung hình phạt lại phản
ánh sự tương quan với các mức độ nguy hiểm khác nhau cho xã hội của hành
vi phạm tội.
Như vậy, tính chất nguy hiểm cho xã hội là cơ sở để xác định khung
hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội. Chúng tôi cho rằng khi quyết
định hình phạt nếu lại căn cứ vào tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi
phạm tội là chưa khoa học và thiếu công bằng vì một tình tiết đã được sử
dụng làm yếu tố định khung hình phạt thì không thể được sử dụng một lần
nữa khi quyết định hình phạt. Điều đó không những vi phạm các nguyên tắc
của Luật hình sự mà quan trọng hơn còn làm xấu đi tình trạng pháp lý của bị
cáo.
1.1.3.3 Cân nhắc nhân thân người phạm tội
Nhân thân người phạm tội là một phạm trù lịch sử, bao gồm tổng hợp
các đặc điểm về xã hội, tâm lý, đạo đức, sinh học, nói lên tính chất của con
người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị quy định trong BLHS là
tội phạm.
Hay nói cách khác Nhân thân người phạm tội là tổng hợp các đặc tính,
cácdấu hiệu thể hiện bản chất xã hội của con người mà trong những điều kiện
, hoàn cảnh nhất định và dưới tác động của chính các điều kiện, hoàn cảnh đó
tội chỉ là căn cứ giữ vị trí hỗ trợ, bổ sung để hình phạt được tuyên không
những đúng pháp luật mà còn phù hợp với thực tiễn, đảm bảo đạt được các
mục đích của hình phạt.
Thứ tư, cần phân định rõ các đặc điểm thuộc về nhân thân người phạm
tội với các dấu hiệu chủ thể của tội phạm.
20
1.1.3.4 Cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS
Các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS với tính chất là một căn cứ
quyết định hình phạt là những tình tiết được quy định trong Phần chung của
BLHS, có giá trị làm giảm hoặc tăng mức độ TNHS của người phạm tội trong
phạm vi một khung hình phạt để tạo tiền đề cho việc cá thể hoá hình phạt đối
với người phạm tội được chính xác.
Vì vậy, cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS có ý nghĩa
pháp lý hết sức quan trọng trong quyết định hình phạt nhằm đảm bảo cho hình
phạt được tuyên một cách công bằng, thể hiện sự tương xứng giữa mức độ
nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội với mức độ TNHS được áp dụng.
Các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS là những biểu hiện có tính đặc thù
của từng trường hợp phạm tội cụ thể nên mức độ ảnh hưởng của các tình tiết
này đến việc quyết định hình phạt phải tuỳ thuộc vào từng vụ án hình sự cụ
thể. Mức độ giảm nhẹ, tăng nặng TNHS của mỗi tình tiết không được nhà làm
luật quy định trước trong luật mà thuộc quyền tuỳ nghi cân nhắc của Hội đồng
xét xử. Vì vậy, khi cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS, cần
phải quán triệt các yêu cầu có tính nguyên tắc sau:
Thứ nhất, trong mỗi vụ án hình sự, trước tiên cần xác định tình tiết là
yếu tố định tội, tình tiết là yếu tố định khung hình phạt trước rồi mới xác định
tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS. Những tình tiết đã là yếu tố định tội,
định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ TNHS hoặc tình
tiết tăng nặng TNHS.