phân tích tình hình tài chính công ty cổ phần dệt lưới sài gòn - Pdf 45

1.1. Khái

niệm về phân tích báo cáo tài chính:

Phân tích báo cáo tài chính vận dụng các công cụ và kỹ thuật phân tích vào
các báo cáo tài chính, các tài liệu liên quan nhằm rút ra các ước tính và kết luận hữu ích cho
các quyết định kinh doanh. Phân tích báo cáo tài chính là một công cụ sàng lọc khi chọn lựa
các “ứng viên” đầu tư hay sát nhập, và là công cụ dự báo các điều kiện và hậu quả về tài
chính trong tương lai. Phân tích báo cáo tài chính là một công cụ chuẩn đoán bệnh, khi đánh
giá các hoạt động đầu tư tài chính và kinh doanh và là công cụ đánh giá đối với các quyết
định quản trị và quyết định kinh doanh khác.
Phân tích báo cáo tài chính không chỉ là một quá trình tính toán các tỷ số mà
còn là quá trình xem xét, kiểm tra, đối chiếu và so sánh số liệu về các kết quả hiện
hành so với quá khứ nhằm đánh giá đúng thực trạng tài chính của doanh nghiệp,
đánh giá những gì đã làm được, nắm vững tiềm năng, dự kiến những gì sẽ xảy ra,
trên cơ sở đó kiến nghị các biện pháp để tận dụng triệt để các điểm mạnh, khắc
phục các điểm yếu.
Nói cách khác, phân tích báo cáo tài chính là cần làm sao cho các con số trên
báo cáo đó “biết nói” để những người sử dụng chúng có thể hiểu rỏ tình hình tài
chính của doanh nghiệp và các mục tiêu, các phương án hoạt động kinh doanh của
những nhà quản lý các doanh nghiệp đó.

1.2. Ý
1.2.1.

nghĩa phân tích báo cáo tài chính:
Sự cần thiết của việc phân tích báo cáo tài chính:

Hoạt động tài chính có mối quan hệ trực tiếp với hoạt động sản xuất kinh
doanh. Do đó, tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh đều có ảnh hưởng đến tình
hình tài chính của doanh nghiệp. Ngược lại, tình hình tài chính tốt hay xấu đều có

giúp họ đánh giá được mức độ rủi ro và có các quyết định về tài trợ.


Đối với các nhà đầu tư tương lai

Các nhà đầu tư tương lai quan tâm trước tiên là sự an toàn của lượng vốn đầu
tư, tiếp đến là khả năng sinh lời khi đầu tư, thời gian hoàn vốn. Vì vậy họ cần các
thông tin về tài chính, tình hình hoạt động kinh doanh, tiềm năng tăng trưởng của
doanh nghiệp, họ tiến hành phân tích để đưa ra quyết định đầu tư đúng đắn.


Đối với cơ quan chức năng

Các cơ quan chức năng như cơ quan thuế tiến hành phân tích tình hình tài
chính doanh nghiệp để xác định được mức thuế mà doanh nghiệp phải nộp. Cơ quan thống
kê, thông qua phân tích tình hình tài chính để tổng hợp thành số liệu thống kê, chỉ số thống
kê.
1.2.2.

Ý nghĩa của việc phân tích báo cáo tài chính:

Cung cấp thông tin hữu ích cho các nhà đầu tư, các chủ nợ và những người
sử dụng khác để họ có thể ra quyết định về đầu tư , tín dụng, và các quyết định
tương tự. Thông tin phải dễ hiểu đối với những người có nhu cầu nghiên cứu các


thông tin này nhưng có một trình độ tương đối về kinh doanh và các hoạt động về
kinh tế.
Cung cấp thông tin để giúp các nhà đầu tư, các chủ nợ và những người sử
dụng khác đánh giá số lượng, thời gian và rủi ro của những khoản thu bằng tiền từ


của các chỉ tiêu bên phần tài sản thể hiện số vốn đang thuộc quyền quản lý và sử
dụng của doanh nghiệp.


Phần nguồn vốn: Phản ánh những nguồn vốn mà doanh nghiệp quản lý

và đang sử dụng vào thời điểm lập báo cáo. Về mặt kinh tế, khi xem xét phần nguồn.
vốn các nhà quản trị có thể biết trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp đối với tài
sản đang quản lý và sử dụng ở doanh nghiệp.
b)

Bảng kết quả hoạt động kinh doanh:
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là một báo cáo tài chính tổng hợp,

phản ánh tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp. Số
liệu trên báo cáo này cung cấp những thông tin tổng hợp nhất về tình hình và kết
quả sử dụng các tiềm năng về vốn, lao động, kỹ thuật và kinh nghiệm quản lý kinh
doanh của doanh nghiệp.
Kết cấu báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh gồm:


Phần I: Lãi, lỗ: Phần này phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của

doanh nghiệp sau một kỳ hoạt động (lãi hoặc lỗ). Các chỉ tiêu này liên quan đến
doanh thu, chi phí của hoạt động tài chính và các nghiệp vụ bất thường để xác định
kết quả của từng loại hoạt động cũng như toàn bộ kết quả hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.




1.3.2 Các phương pháp phân tích báo cáo tài chính
Để nắm được một cách đầy đủ thực trạng tài chính cũng như tình hình sử dụng tài sản
của doanh nghiệp, cần thiết phải đi sâu xem xét các mối quan hệ và tình hình biến động của
các khoản mục trong từng báo cáo tài chính và giữa các báo cáo tài chính với nhau.
Việc phân tích báo cáo tài chính thường được tiến hành bằng hai phương pháp: phương
pháp phân tích ngang và phương pháp phân tích dọc báo cáo tài chính.
Phân tích ngang báo cáo tài chính: là việc so sánh đối chiếu tình hình biến động cả về số
tuyệt đối và số tương đối trên từng chỉ tiêu của từng báo cáo tài chính, còn phân tích dọc là
việc sử dụng các quan hệ tỷ lệ, các hệ số thể hiện mối tương quan giữa các chỉ tiêu trong
từng báo cáo tài chính và giữa các báo cáo tài chính với nhau để rút ra kết luận.
Cụ thể, trong thực tế người ta thường sử dụng các phương pháp sau:
a) Phương pháp so sánh:
Phương pháp so sánh được sử dụng phổ biến nhất và là phương pháp chủ yếu trong phân
tích tài chính để đánh kết quả, xác định vị trí và xu hướng biến đổi của chỉ tiêu phân tích.
Có nhiều phương thức so sánh và sử dụng phương thức nào là tuỳ thuộc vào mục đích và
yêu cầu của việc phân tích.


+ So sánh chỉ tiêu thực tế với các chỉ tiêu kế hoạch, dự kiến hoặc định mức. Đây là phương
thức quan trọng nhất để đánh giá mức độ thực hiện chỉ tiêu kế hoạch, định mức và kiểm tra
tính có căn cứ của nhiệm vụ kế hoạch được đề ra.
+ So sánh chỉ tiêu thực hiện giữa các kỳ trong năm và giữa các năm cho thấy sự biến đổi
trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
+ So sánh các chỉ tiêu của doanh nghiệp với các chỉ tiêu tương ứng của doanh nghiệp cùng
loại hoặc của doanh nghiệp cạnh tranh.
+ So sánh các thông số kinh tế- kỹ thuật của các phương án sản xuất kinh doanh khác nhau
của doanh nghiệp.
Để áp dụng phương pháp so sánh cần phải đảm bảo các điều kiện có thể so sánh được của
các chỉ tiêu:

Phương pháp loại trừ:

Phương pháp này được áp dụng rộng rãi để xác định xu hướng và mức độ ảnh hưởng của
từng nhân tố đối với chỉ tiêu phân tích. Khi phân tích, để nghiên cứu ảnh hưởng của một
nhân tố nào đó phải loại trừ ảnh hưởng của các nhân tố khác.
Trong thực tế phương pháp loại trừ được sử dụng trong phân tích kinh tế dưới 2 dạng là:
phương pháp thay thế liên hoàn và phương pháp số chênh lệch.
c) Phương pháp thay thế liên hoàn:
Là phương pháp xác định ảnh hưởng của các nhân tố bằng cách thay thế lần lượt và liên
tiếp các nhân tố từ giá trị kỳ gốc sang kỳ phân tích để xác định trị số của chỉ tiêu khi nhân tố
đó thay đổi. Sau đó so sánh trị số của chỉ tiêu vừa tính được với trị số của chỉ tiêu khi chưa
có biến đổi cuả nhân tố cần xác định sẽ tính được mức độ ảnh hưởng của nhân tố đó.
Điều kiện áp dụng phương pháp là mối quan hệ giữa nhân tố cần đo ảnh hưởng và chỉ tiêu
phân tích phải thể hiện được dưới dạng công thức. Ngoài ra việc sắp xếp các nhân tố ảnh
hưởng và xác định ảnh hưởng của chúng đối với các chỉ tiêu phân tích phải theo thứ tự từ
nhân tố số lượng đến nhấn tố chất lượng. Trình tự thay thế các nhân tố phải tuân theo nguyên
tắc nhất định vừa phù hợp với ý nghĩa của hiện tượng nghiên cứu vừa phải đảm bảo mối liên
hệ chặt chẽ về thực chất của các nhân tố.
Trình tự thực hiện phương pháp thay thế liên hoàn:
+ Bước 1: Sơ bộ phân tích về mặt lý luận mối quan hệ giữa các nhân tố và chỉ tiêu kết quả và
phân loại các nhân tố thành nhân tố số lượng và nhân tố chất lượng.
+ Bước 2: Sắp xếp các nhân tố theo thứ tự: nhân tố đứng sau chất lượng hơn nhân tố đứng
trước.
X= a* b* c* d
Số liệu kế hoạch: X0=a0*b0*c0*d0
Số liệu thực tế: X1= a1*b1*c1*d1
+ Bước 3: Lập các tích số trung gian và ở mỗi tích số sau, chỉ tiêu báo cáo được thay thế
tương ứng cho chỉ tiêu kế hoạch.
X01= a1*b0*c0*d0
X02= a1*b1*c0*d0


Phương pháp số chênh lệch thực chất là phương pháp rút gọn của phương pháp thay thế liên
hoàn. Do vậy, nó cũng đòi hỏi những điều kiện và cũng có những ưu điểm, hạn chế như thay
thế liên hoàn.
Theo phương pháp này, mức độ ảnh hưởng của nhân tố nào đó đối với chỉ tiêu tổng hợp
được xác định bằng số chênh lệch của nhân tố đó nhân với các nhân tố khác được cố định
trong khi lập tích số.
Trình tự tiến hành phương pháp số chênh lệch:
- Xác định số chênh lệch tuyệt đối với dấu tương ứng của mỗi một nhân tố.


- Nhân số chênh lệch của mỗi một nhân tố với số kế hoạch của các nhân tố khác chưa đo ảnh
hưởng và với số thực tế của các nhân tố khác đã đo ảnh hưởng.
e)

Phương pháp liên hệ:

Mọi kết quả kinh doanh đều có mối liên hệ mật thiết với nhau giữa các mặt, các bộ phận...Để
lượng hoá các mối liên hệ đó, ngoài các phương pháp đã nêu, trong phân tích kinh doanh
còn phổ biến các cách nghiên cứu liên hệ phổ biến như: liên hệ cân đối, liên hệ thuận nghịch,
liên hệ tương quan.
f)

Phương pháp liên hệ cân đối:

Phương pháp liên hệ cân đối thường thể hiện dưới hình thức phương thức trình kinh tế hoặc
bảng cân đối kinh tế.
Nội dung chủ yếu của bảng cân đối kinh tế gồm hai hệ thống chỉ tiêu có quan hệ trực tiếp
với nhau về mặt chỉ tiêu. Khi thay đổi một thành phần hệ thống chỉ tiêu đó sẽ dẫn tới sự thay
đổi một hoặc một số thành phần khác nhưng sự thay đổi đó vẫn đảm bảo sự cân bằng của

các đại lượng ngẫu nhiên và cho phép đánh giá mức độ chặt chẽ giữa các mối quan hệ đó.
Trình tự tiến hành:
- Phân tích lý luận để giải thích sự tồn tại và bản chất mối liên hệ.
- Thăm dò các mối quan hệ đó.
- Lập phương trình hồi quy căn cứ vào số tiêu thức, số lần quan sát.
- Tính toán các tham số của chương trình.
- Giải thích ý nghĩa kinh tế của các tham số.

1.4 Nội dung phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp:
1.4.1 Phân tích tổng quát các báo cáo tài chính:
Vấn đề phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp là một vấn đề rất quan trọng và có ý
nghĩa thiết thực đối với mọi đối tượng sử dụng thông tin, đặc biệt đối với các doanh nghiệp
đã niêm yết trên thị trường chứng khoán. Song, nội dung phân tích báo cáo tài chính doanh
nghiệp gồm những vấn đề gì? Tác giả xin đề xuất hai nội dung cơ bản khi tiến hành phân
tích báo cáo tài chính doanh nghiệp, đó là phân tích các chỉ tiêu trên từng báo cáo tài chính
và phân tích mối liên hệ giữa các chỉ tiêu trên các báo cáo tài chính doanh nghiệp.
Báo cáo tài chính là một trong hai loại báo cáo của hệ thống báo cáo kế toán doanh
nghiệp. Báo cáo tài chính được lập theo những chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành. Báo
cáo tài chính phản ánh các chỉ tiêu kinh tế - Tài chính chủ yếu của doanh nghiệp, nó phản
ánh các thông tin tổng hợp nhất về tình hình tài sản, nguồn vốn chủ sở hữu, công nợ, tình
hình lưu chuyển tiền tệ cũng như tình hình tài chính, kết quả kinh doanh của doanh nghiệp
trong một kỳ kinh doanh nhất định.
Theo quyết định số 15/2006 QĐ/BTC ngày 20 tháng 03 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ tài
chính về ban hành chế độ kế toán doanh nghiệp, hệ thống báo cáo tài chính của doanh
nghiệp, bao gồm 4 loại báo cáo sau đây: (1) Bảng cân đối kế toán, Mã số B01 - DN; (2) Báo


cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Mãsố B02 - DN; (3) Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, Mã số
B03 - DN; (4) Thuyết minh báo cáo tài chính, Mã số B09 - DN.
Phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp không phải chỉ cung cấp những thông tin cho

không hoàn thành các chỉ tiêu Kinh tế - Tài chính trong sự tác động lẫn nhau giữa chúng, từ
đó có những giải pháp thiết thực nhằm tăng cường sức mạnh tài chính của doanh nghiệp
trong các kỳ sản xuất kinh doanh tiếp theo. Hơn nữa, mọi hoạt động kinh tế đều có sự tác
động liên hoàn với nhau, chỉ có thể dựa vào sự phân tích một cách tỷ mỷ và chi tiết mới có
thể tạo ra những thông tin có căn cứ xác thực và như vậy, quản trị doanh nghiệp mới có nhận
định đúng về thực trạng tài chính của doanh nghiệp.


Xuất phát từ những suy nghĩ trên, chúng tôi cho rằng: Nội dung phân tích báo cáo tài
chính doanh nghiệp phải bao gồm những vấn đề cơ bản sau đây:
a.Phân tích trên từng báo cáo tài chính:
Việc phân tích trên từng báo cáo tài chính, bao gồm các nội dung cơ bản sau đây: (1) Phân
tích ngang trên từng báo cáo tài chính để thấy rõ sự biến động về quy mô của từng chỉ tiêu,
kể cả số tuyệt đối và số tương đối. (2) So sánh dọc trên từng báo cáo tài chính (đặc biệt bảng
cân đối kế toán) để thấy rõ sự biến động về cơ cấu của từng chỉ tiêu trên từng báo cáo tài
chính. (3) Phân tích mối liên hệ giữa các chỉ tiêu trên từng báo cáo tài chính nhằm đánh giá
sơ bộ về tình hình tài chính của doanh nghiệp.
Việc phân tích chi tiết trên từng báo cáo tài chính cho phép các đối tượng sử dụng thông tin
đánh giá cụ thể sự biến động của từng chỉ tiêu Kinh tế - Tài chính. Trên cơ sở đó, có các giải
pháp cụ thể để đẩy mạnh các hoạt động tài chính, thúc đẩy quá trình sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp phát triển bền vững.
b.Phân tích mối liên hệ giữa các chỉ tiêu trên các báo cáo tài chính của doanh
nghiệp:
Việc phân tích mối liên hệ giữa các chỉ tiêu trên các báo cáo tài chính doanh nghiệp là một
nội dung rất căn bản của phân tích báo cáo tài chính, nhằm cung cấp những thông tin đánh
giá thực trạng tài chính của doanh nghiệp mà nội dung của nó bao gồm những vấn đề sau
đây: (i) Đánh giá khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp. (ii) Phân tích tình hình đảm
bảo nguồn vốn ngắn hạn cho việc dự trữ tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp. (iii) Phân tích
khả năng huy động vốn cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. (iv) Phân tích tình hình
và khả năng thanh toán của doanh nghiệp. (v) Phân tích tình hình rủi ro tài chính của doanh

sử dụng ở doanh nghiệp.
1.4.1.1.1. Phân tích khái quát tình hình tài sản :
- Phân tích khái quát tình hình tài sản là đánh giá tình hình tăng / giảm và biến
động kết cấu của tài sản của doanh nghiệp. Qua phân tích tình hình tài sản sẽ cho
thấy tài sản của doanh nghiệp nói chung, của từng khoản mục tài sản thay đổi như
thế nào giữa các năm? Doanh nghiệp có đang đầu tư mở rộng sản xuất hay không?
Tình trạng thiết bị của doanh nghiệp như thế nào? Doanh nghiệp có ứ động tiền,
hàng tồn kho hay không?...
a. Phân tích tài sản ngắn hạn :
- Xem xét sự biến động của giá trị cũng như kết cấu các khoản mục trong tài
sản ngắn hạn. Ở những doanh nghiệp khác nhau thì kết cấu tài sản ngắn hạn cũng
khác nhau. Việc nghiên cứu kết cấu tài sản ngắn hạn giúp xác định trọng điểm quản
lý tài sản ngắn hạn từ đó tìm ra biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản trong
từng điều kiện cụ thể.
+ Tiền và các khoản tương đương tiền :
- So sánh tỷ trọng và số tuyệt đối của các tài sản tiền, qua đó thấy được tình
hình sử dụng các quỹ, xem xét sự biến động các khoản tiền có hợp lý hay không.
Phân tích chỉ tiêu tiền và các khoản tương đương tiền cho thấy khả năng thanh toán
nhanh của doanh nghiệp. Xu hướng chung của tài sản tiền giảm được đánh giá là
tích cực, vì không nên dự trữ tiền mặt và số dư tiền gửi ngân hàng quá lớn mà phải
giải phóng nó, đưa vào sản xuất kinh doanh, tăng vòng quay vốn hoặc hoàn trả nợ.
Nhưng ở mặt khác, sự gia tăng vốn bằng tiền làm tăng khả năng thanh toán nhanh
của doanh nghiệp.
+ Các khoản phải thu :
- Các khoản phải thu là giá trị tài sản của doanh nghiệp bị các đơn vị khác chiếm dụng. Xem
xét về tỷ trọng và số tuyệt đối cuối năm so với đầu năm và các năm trước. Các khoản phải


thu giảm được đánh là tích cực. Tuy nhiên, cần chú ý rằng không phải lúc nào các khoản
phải thu tăng lên cũng đánh giá là không tích cực. Chẳng hạn, trong trường hợp doanh

động kết cấu của nguồn vốn của doanh nghiệp. Qua phân tích tình hình nguồn vốn sẽ cho
thấy nguồn vốn của doanh nghiệp nói chung, của từng khoản mục nguồn vốn thay đổi như
thế nào giữa các năm? Công nợ của doanh nghiệp tăng giảm thay đổi như thế nào? Cơ cấu
vốn chủ sở hữu biến động như thế nào?...
a. Phân tích nợ phải trả :


- Nợ ngắn hạn là các nghĩa vụ tài chính gắn liền với các nghĩa vụ thanh toán mà theo đó
doanh nghiệp sẽ sử dụng các tài sản ngắn hạn tương ứng hoặc sử dụng các khoản nợ ngắn
hạn khác để thanh toán. Nợ ngắn hạn có thời hạn thanh toán là dưới một năm hoặc trong một
chu kỳ sản xuất kinh doanh.
- Nợ dài hạn là các nghĩa vụ tài chính mà doanh nghiệp không phải thanh toán trong thời hạn
một năm hoặc trong chu kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Một sự gia tăng của nợ phải trả sẽ đặt gánh nặng thanh toán lên tài sản ngắn hạn và dài hạn
để duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, nếu nợ phải trả tăng do doanh nghiệp
mở rộng sản xuất kinh doanh (tài sản tăng tương ứng) thì biểu hiện này được đánh giá là tốt.
b. Phân tích vốn chủ sở hữu:
- Vốn chủ sở hữu do chủ doanh nghiệp và các nhà đầu tư góp vốn hoặc hình thành từ kết quả
kinh doanh. Do đó, vốn chủ sở hữu được xem là trái quyền của chủ sở hữu đối với giá trị tài
sản ròng của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp có quyền chủ động sử dụng các loại nguồn
vốn và các quỹ hiện có theo chế độ hiện hành.
1.4.1.2 phân tích khái quát báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.
a)Bảng kết quả hoạt động kinh doanh:
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là một báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tình
hình và kết quả hoạt động kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp. Số liệu trên báo cáo này
cung cấp những thông tin tổng hợp nhất về tình hình và kết quả sử dụng các tiềm năng về
vốn, lao động, kỹ thuật và kinh nghiệm quản lý kinh doanh của doanh nghiệp.
b)Kết cấu báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh gồm:
+ Phần I: Lãi, lỗ: Phần này phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
sau một kỳ hoạt động (lãi hoặc lỗ). Các chỉ tiêu này liên quan đến doanh thu, chi phí của

nhằm tăng doanh thu, cần tiến hành phân tích thường xuyên đều đặn. Phân tích tình hình
doanh thu giúp cho nhà quản lý thấy được ưu, khuyết điểm trong quá trình thực hiện doanh
thu để có thể thấy được nhân tố làm tăng và những nhân tố làm giảm doanh thu. Từ đó, hạn
chế, loại bỏ những nhân tố tiêu cực, đẩy nhanh hơn những nhân tố tích cực, phát huy thế
mạnh của doanh nghiệp nhằm tăng doanh thu, nâng cao lợi nhuận.
1.4.1.2.2. Phân tích chi phí:
- Chi phí là dòng tiền ra, dòng tiền ra trong tương lai hoặc phân bổ dòng tiền ra trong quá
khứ xuất phát từ các hoạt động kinh doanh đang diễn ra trong doanh nghiệp.
- Giá vốn hàng bán: là một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh tổng giá trị mua hàng hóa, giá thành
sản xuất sản phẩm, dịch vụ đã bán. Giá vốn hàng bán là yếu tố quyết định khả năng cạnh
tranh và hiệu quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Trong trường hợp doanh nghiệp có
vấn đề với giá vốn hàng bán thì phải theo dõi và phân tích từng cấu phần của nó: nhân công
trực tiếp, nguyên vật liệu trực tiếp, …
- Chi phí bán hàng: là toàn bộ chi phí phát sinh trong quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa,
dịch vụ,…
- Chi phí quản lý doanh nghiệp: là toàn bộ chi phí có liên quan đến hoạt động quản lý kinh
doanh, quản lý hành chính và quản lý điều hành chung của toàn doanh nghiệp.
- Chi phí tài chính: bao gồm tiền lãi vay phải trả, chi phí bản quyền, chi phí hoạt động liên
doanh… phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp.
- Doanh nghiệp muốn tăng lợi nhuận thì vấn đề trước tiên cần phải quan tâm đến là doanh
thu. Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp chỉ quan tâm đến doanh thu mà bỏ
qua chi phí thì sẽ là một thiếu sót lớn. Yếu tố chi phí thể hiện sự hiệu quả trong hoạt động
sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Nếu chi phí bỏ ra quá lớn hoặc tốc độ chi phí lớn
hơn tốc độ doanh thu, chứng tỏ doanh nghiệp sử dụng nguồn lực không hiệu quả.
a. Tỷ lệ giá vốn hàng bán trên doanh thu thuần:


- Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng doanh thu thuần thu được, doanh nghiệp phải bỏ ra bao
nhiêu đồng giá vốn hàng bán. Tỷ lệ này càng nhỏ chứng tỏ việc quản lý trong khoản chi phí
trong giá vốn hàng bán càng tốt và ngược lại.

- Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng doanh thu thuần sinh ra bao nhiêu đồng lợi nhuận thuần.
Tỷ lệ này càng lớn chứng tỏ công tác bán hàng, công tác quản lý càng có hiệu quả và ngược
lại.
- Tỷ suất lợi nhuận thuần trên doanh thu thuần = Lợi nhuận thuần / DT thuần
c. Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên tổng doanh thu:


- Chỉ tiêu này phản ánh kết quả cuối cùng của hoạt động kinh doanh. Nó biểu hiện cứ một
đồng doanh thu có bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế.
- Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên tổng doanh thu = Lợi nhuận sau thuế / Tổng DT
1.4.2. PHÂN TÍCH CÁC TỈ SỐ TÀI CHÍNH
Phương pháp phân tích
Phương pháp phân tích được sử dụng chủ yếu là phương pháp so sánh.
- So sánh kì này với kì trước để thấy rõ xu hướng thay đổi về tài chính, để thấy được tình
hình tài chính được cải thiện hoặc xấu đi như thế nào để có biện pháp kịp thời.
- So sánh kì này, với mức trung bình của ngành nghĩa là so sánh với những doanh nghiệp
cùng loại để thấy tình hình tài chính của doanh nghiệp đang ở hiện trạng tốt hơn hay xấu
hơn, được hay chưa được.
Điều kiện
Cần tìm hiểu đối tượng phục vụ cho việc phân tích các tỷ số tài chính
- Đối tượng bên ngoài: chủ nợ ngắn hạn chú trọng các tỷ số thanh khoản, chủ nợ dài hạn chú
trọng các tỷ số cơ cấu tài chính, nhà đầu tư chú trọng khả năng sinh lời vàcác tỷ số về doanh
lợi, cơ quan chính quyền chú trọng kiểm soát, năn ngừa rủi ro.
- Đối tượng bên trong: tổ chức quản trị, bộ phận kế hoạch, bộ phận kiểm soát…nhằm hoàn
trả nợ đến hạn và đem lại lợi nhuận tối đa cho doanh nghiệp.
Yêu cầu đối với bảng báo cáo tài chính được sử dụng khi phân tích tỷ số tài chính
- Trung thực, đúng biểu mẫu, chính xác và thống nhất số liệu, đúng hạn định.
So sánh chỉ tiêu trung bình ngành: là những tiêu chuẩn được đánh giá là tốt cho những doanh
nghiệp cùng loại.
Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, các tỷ số trung bình ngành chưa được thống kê, thì khi

mặt, khoản phải thu, hàng tồn kho...) ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của công ty.
- Khả năng thanh toán nhanh: phản ánh việc công ty có thể thanh toán được các khoản nợ
bằng tài sản ngắn hạn có thể chuyển thành tiền một cách nhanh nhất.khả năng thanh toán
nhanh = (tài sản ngắn hạn- hàng tồn kho)/Nợ ngắn hạn
Chỉ số này tương tự như thanh toán hiện thời. nếu chỉ số cao thể hiện khả năng thanh toán
nhanh của công ty tốt nhưng nếu quá cao sẽ là một biểu hiện không tốt khi đánh giá về khả
năng sinh lời.
1.4.2.2. Các tỷ số quản lý nợ
1.4.2.2.1 Tỷ số nợ trên tài sản
-Tỷ số nợ trên tài sản (hay Tỷ lệ nợ trên tài sản, Tỷ số nợ trên tổng tài sản, Tỷ số nợ D/A)
là một tỷ số tài chính đo lường năng lực sử dụng và quản lý nợ của doanh nghiệp.
Cách tính
Tỷ số này (thường tính bằng %) được tính bằng cách lấy tổng nợ (tức là gồm cả nợ ngắn
hạn lẫn nợ dài hạn) của doanh nghiệp trong một thời kỳ nào đó chia cho giá trị tổng tài
sản trong cùng kỳ. Các số liệu này có thể lấy từ bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp.
Công thức tính như sau:
Tỷ số nợ trên tài sản =Tổng nợ
100% x
Tổng tài sản
Ý nghĩa
Tỷ số này cho biết có bao nhiêu phần trăm tài sản của doanh nghiệp là từ đi vay. Qua đây
biết được khả năng tự chủ tài chính của doanh nghiệp. Tỷ số này mà quá nhỏ, chứng tỏ
doanh nghiệp vay ít. Điều này có thể hàm ý doanh nghiệp có khả năng tự chủ tài chính cao.
Song nó cũng có thể hàm ý là doanh nghiệp chưa biết khai thác đòn bẩy tài chính, tức là
chưa biết cách huy động vốn bằng hình thức đi vay. Ngược lại, tỷ số này mà cao quá hàm ý


doanh nghiệp không có thực lực tài chính mà chủ yếu đi vay để có vốn kinh doanh. Điều này
cũng hàm ý là mức độ rủi ro của doanh nghiệp cao hơn.
Khi dùng tỷ số này để đánh giá cần so sánh tỷ số của một doanh nghiệp cá biệt nào đó với tỷ

Các số liệu trên có thể lấy từ báo cáo kết quả kinh doanh của công ty.
Ý nghĩa


Tỷ số trên nếu lớn hơn 1 thì công ty hoàn toàn có khả năng trả lãi vay. Nếu nhỏ hơn 1 thì
chứng tỏ hoặc công ty đã vay quá nhiều so với khả năng của mình, hoặc công ty kinh doanh
kém đến mức lợi nhuận thu được không đủ trả lãi vay.
Tỷ số khả năng trả lãi chỉ cho biết khả năng trả phần lãi của khoản đi vay, chứ không cho
biết khả năng trả cả phần gốc lẫn phần lãi ra sao.

1.4.2.2.4 Tỷ số khả năng trả nợ
Tỷ số khả năng trả nợ (hay Hệ số trả nợ vay, Hệ số năng lực trả nợ, đôi khi viết tắt
là DSCR từ các chữ cái đầu của cụm từ tiếng Anh Debt service coverage ratio) là một tỷ số
tài chínhđánh giá khả năng thanh toán nợ nói chung của doanh nghiệp.
Cách tính
Tỷ số này được tính ra bằng cách lấy tổng của Giá vốn hàng bán, khấu hao, và lợi nhuận
trước thuế và lãi (EBIT) rồi chia cho tổng của nợ gốc và chi phí lãi vay.
Công thức:
àng bán + Khấu hao + EBIT
Chi phí lãi vay
Ý nghĩa
Tỷ số này cho biết để chuẩn bị cho mỗi đồng trả nợ gốc và lãi, doanh nghiệp có bao nhiêu
đồng có thể sử dụng được
1.4.2.3 Tỉ số hiệu quả hoạt động
1.4.2.3.1 Tỉ số hoạt động tồn kho
Là tỉ số đánh giá hiệu quả quản lí hàng tồn kho của công ty. Tỉ số này được đo lường bằng
chỉ tiêu số vòng quay hàng tồn kho hay số ngày tồn kho
Cách tính
Vòng quay tồn kho=Doanh thu thuần/ Gía trị tồn kho
Số ngày tồn kho= Số ngày trong năm/ Vòng quay hàng tồn kho

Nó phản ánh quan hệ giữa lợi nhuận ròng dành cho cổ đông và doanh thu của công ty.
Cách tính
Tỷ số lợi nhuận trên doanh thu ( ROS) = Lợi nhuận ròng (hoặc lợi nhuận sau thuế)/Doanh
thu
Ý nghĩa
Tỷ số này cho biết lợi nhuận chiếm bao nhiêu phần trăm trong doanh thu. Tỷ số này mang
giá trị dương nghĩa là công ty kinh doanh có lãi; tỷ số càng lớn nghĩa là lãi càng lớn. Tỷ số
mang giá trị âm nghĩa là công ty kinh doanh thua lỗ.
1.4.2.4.2 Tỷ số lợi nhuận trên tài sản
Tỷ số lợi nhuận trên tài sản (hay Chỉ tiêu hoàn vốn tổng tài sản, Hệ số quay vòng của tài sản,
Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản) là một tỷ số tài chính dùng để đo lường khả năng sinh lợi
trên mỗi đồng tài sản của doanh nghiệp.
Cách tính
Tỷ số lợi nhuận ròng trên tài sản(ROA) = Lợi nhuận ròng (hoặc lợi nhuận sau thuế)/Bình
quân tổng giá trị tài sản
Ý nghĩa
Nếu tỷ số này lớn hơn 0, thì có nghĩa doanh nghiệp làm ăn có lãi. Tỷ số càng cao cho thấy
doanh nghiệp làm ăn càng hiệu quả. Còn nếu tỷ số nhỏ hơn 0, thì doanh nghiệp làm ăn thua
lỗ. Mức lãi hay lỗ được đo bằng phần trăm của giá trị bình quân tổng tài sản của doanh
nghiệp.


1.4.2.4.3 Tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu
Tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu hay Tỷ suất thu nhập của vốn cổ đông hay Chỉ tiêu hoàn
vốn cổ phần của cổ đông (có thể viết tắt là ROE ) là tỷ số tài chính để đo khả năng sinh lợi
trên mỗi đồng vốn cổ phần ở một công ty cổ phần.
Cách tính
Tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu(ROE) =Lợi nhuận ròng/Bình quân vốn cổ phần phổ
thông
Ý nghĩa


- Tác động tới cơ cấu tài chính của doanh nghiệp thông qua điều chỉnh tỷ lệ nợ vay và tỷ lệ
vốn
chủ
sở
hữu
cho
phù
hợp
với
năng
lực
hoạt
động.
- Tăng hiệu suất sử dụng tài sản. Nâng cao số vòng quay của tài sản, thông qua việc vừa tăng
quy mô về doanh thu thuần, vừa sử dụng tiết kiệm và hợp lý về cơ cấu của tổng tài sản.
- Tăng doanh thu, giảm chi phí, nâng cao chất lượng của sản phẩm. Từ đó tăng lợi nhuận của
doanh
nghiệp.
Tóm lại, phân tích báo cáo tài chính bằng mô hình Dupont có ý nghĩa lớn đối với quản trị
DN thể hiện ở chỗ có thể đánh giá đầy đủ và khách quan các nhân tố tác động đến hiêu quả
sản xuất kinh doanh từ đó tiến hành công tác cải tiến tổ chức quản lý của doanh nghiệp.

2.2. Thực trạng tình hình tài chính tại công ty cổ phần dệt lưới sài gòn.
2.2.1. Phân tích tổng quát các báo cáo tài chính.
2.2.1.1. Phân tích bảng cân đối kế toán.
2.2.1.1.1. Phân tích biến động sử dụng vốn và nguồn vốn.
Bảng 2.2. Bảng kê diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn của SFN năm 2012
(Đvt: nghìn đồng việt nam)


2
3
4
5
6

Các khoản phải thu
Hàng tồn kho
Tài sản NH khác
Tài sản cố định
Đầu tư tài chính DH
Tổng cộng

3,037,046
29,503,670
1,966,076
27,642,774
40,000
66,056,916

3,797,910
31,237,354
3,844,085
29,606,645
40,000

0

760,864
1,733,684

17

Vay ngắn hạn
Phải trả người bán
Người mua trả tiền trước
Thuế và CK PNNN
Phải trả người lao động
Chi phí phải trả
PNPT ngắn hạn khác
Quỹ khen thưởng, phúc lợi
Vay dài hạn
Dự phòng trợ cáp mất việc làm
Vốn đầu tư CSH
Cổ phiếu quỹ
Chênh lệch tỷ giá hối đoái
Quỹ đầu tư phát triển
Quỹ dự phòng tài chính

17,124,626
0
1,380,325
250,704
829,726
151,990
30,168
105,493
889,200

21,531,871
54,529

8,311,498

8,311,498

Quỹ khác thuộc vốn chủ sởhữu

LN chưa phân phối
Tổng cộng

30,000,000
(1,405,126)
6,150,579
3,173,831
1,590,281
5,785,115

1,266,439
97,632
568,295
24,692
32,568
10,384
1,324,295
316,713
0
0
193,214
0

Bảng 2.3. Bảng phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn của SFN năm 2012

5
0.4%
PNPT ngắn hạn khác
32,568
6
15.9%
Vay dài hạn
1,324,295
7
3.8%
316,713
Dự phòng trợ cáp mất việc làm
8
2.4%
Chênh lệch tỷ giá hối đoái
193,214
100%
Tổng sử dụng vốn
8,311,498
B
Nguồn vốn
I.
Tăng tài sản
6,336,428 76.3%
9.2%
Các khoản phải thu
760,864
20.9%
1,733,684
Hàng tồn kho


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status