VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
KHÂU VĂN SĨ
GIỚI HẠN XÉT XỬ SƠ THẨM
THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60.38.01.04
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2017
Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học xã hội
Người hướng dẫn khoa học: TS. Đặng Quang Phương
Phản biện 1: PGS.TS. Hoàng Thị Minh Sơn
Phản biện 2: TS. Võ Thị Kim Oanh
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ họp
tại: Học viện Khoa học xã hội 10 giờ 30 ngày 10 tháng 10 năm 2017
Có thể tìm hiểu luận văn tại: Thư viện Học viện Khoa học xã hội
MỞ ĐẦU
Từ khi Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 ra đời cho đến nay,
vấn đề giới hạn xét xử sơ thẩm là một trong những vấn đề pháp lý
thu hút rất nhiều ý kiến tranh luận. Đã có nhiều công trình nghiên
cứu khoa học của các nhà nghiên cứu lý luận và thực tiễn dưới các
góc độ và mức độ khác nhau. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn còn nhiều
quan điểm khác nhau, việc xây dựng nội dung điều luật về giới hạn
xét xử sơ thẩm sao cho phù hợp với lý luận và thực tiễn vẫn chưa đạt
được hiệu quả cao, cần có sự nghiên cứu một cách toàn diện và đầy
đủ vấn đề giới hạn xét xử sơ thẩm trong mối quan hệ với các quy
định khác của Pháp luật Tố tụng hình sự, trong mối quan hệ giữa lý
luận và thực tiễn để đưa ra hướng hoàn thiện cho phù hợp.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu một cách tổng thể những vấn đề lý luận
về giới hạn xét xử sơ thẩm, đánh giá thực tiễn áp dụng tại Tòa án
nhân dân hai cấp Thành phố Hồ Chí Minh.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện quy định giới hạn xét xử
sơ thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự trên cơ sở lý luận
và thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả xét xử của Tòa án theo tinh thần
cải cách tư pháp.
2
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu: Quy phạm về giới hạn xét xử sơ thẩm
theo Pháp luật Tố tụng hình sự và thực tiễn áp dụng tại Thành phố
Hồ Chí Minh.
của giới hạn xét xử sơ thẩm.
Chương 2: Quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003
về giới hạn xét xử sơ thẩm và thực tiễn thi hành tại Thành phố Hồ
Chí Minh.
Chương 3: Các yêu cầu và các giải pháp bảo đảm thi hành
đúng quy định về giới hạn xét xử sơ thẩm.
4
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIỚI HẠN XÉT XỬ SƠ THẨM
1.1. Khái niệm xét xử sơ thẩm, khái niệm và ý nghĩa của
giới hạn xét xử thẩm
1.1.1. Khái niệm xét xử sơ thẩm
Xét xử sơ thẩm là một giai đoạn của quá trình tố tụng và
được tiến hành theo trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy
định. Trong đó: Tòa án có thẩm quyền của cấp xét xử đầu tiên (thứ
nhất), sau khi nghiên cứu đầy đủ và toàn diện kết quả của các hoạt
động trong các giai đoạn trước đó, đưa vụ án ra xem xét công khai tại
phiên tòa để xác định có hay không có tội phạm xảy ra, một người có
phải là người phạm tội hay không? Từ đó, nhân danh Nhà nước ra
bản án, quyết định với việc định tội danh và quyết định hình phạt đối
với người phạm tội sao cho phù hợp với hành vi phạm tội mà Viện
kiểm sát đã truy tố. Bản án, quyết định của Tòa án sau khi tuyên
chưa có hiệu lức thi hành vì có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo
trình tự phúc thẩm trong thời hạn theo quy định của Pháp luật Tố
tụng hình sự.
1.1.2. Khái niệm giới hạn xét xử sơ thẩm
mối quan hệ chế ước giữa Tòa án và Viện kiểm sát trong hoạt động
Tố tụng hình sự. Tuy nhiên, quy định này vẫn còn tồn tại những bất
cập và đã gây ra những khó khăn trong thực tế áp dụng.
6
1.2. Mối quan hệ giữa giới hạn xét xử sơ thẩm với các
nguyên tác cơ bản trong Tố tụng hình sự
Các nguyên tắc cơ bản của trong Tố tụng hình sự có mối
quan hệ chặt chẽ với nhau tạo thành hệ thống quan điểm, tư tưởng
nền tảng định hướng, chi phối cho tất cả các hoạt động Tố tụng hình
sự. Hệ thống các nguyên tắc cơ bản này có ý nghĩa rất quan trọng,
góp phần vào việc bảo đảm cho hoạt động Tố tụng hình sự được diễn
ra thống nhất, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân khi
tham gia tố tụng. Đặc biệt, có ý nghĩa rất lớn trong việc xây dựng Bộ
luật Tố tụng hình sự.
1.2.1. Mối quan hệ với nguyên tắc bảo đảm Pháp chế Xã
hội Chủ nghĩa
Bảo đảm pháp chế Xã hội Chủ nghĩa tức là bảo đảm mọi
hoạt động của các chủ thể phải tuân theo pháp luật. Trong hoạt động
Tố tụng hình sự, nguyên tắc bảo đảm pháp chế Xã hội Chủ nghĩa đòi
hỏi các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng và
người tham gia tố tụng phải tuân thủ triệt để, nghiêm chỉnh, thống
nhất các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự trong quá trình giải
quyết vụ án hình sự.
1.2.2. Mối quan hệ với nguyên tắc không ai bị coi là có tội
khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật
Nội dung của nguyên tắc này chính là quy định trách nhiệm
chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng, bị can,
8
cho hành vi do mình thực hiện đã bị buộc tội và bảo vệ các quyền,
lợi ích hợp pháp khác”.
1.2.6. Mối quan hệ với nguyên tắc suy đoán vô tội
Ở nước ta, nguyên tắc suy đoán vô tội mặc dù chưa được
công nhận một cách chính thức, nhưng tư tưởng của nguyên tắc này
đã được đề cập trong Hiến pháp năm 2013 và Bộ luật Tố tụng hình
sự thông qua nội dung của hai nguyên tắc: “Không ai bị coi là có tội
và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có
hiệu lực pháp luật” và “Xác định sự thật của vụ án”.
1.2.7. Mối quan quan hệ với nguyên tắc trách nhiệm khởi
tố và xử lý vụ án hình sự
Tòa án và Viện kiểm sát là hai cơ quan tiến hành tố tụng có
chung mục đích là giải quyết vụ án thật sự khách quan, toàn diện,
đầy đủ, đúng quy định của pháp luật, đảm bảo lợi ích của Nhà nước,
lợi ích của xã hội, lợi ích tổ chức và cá nhân. Tuy nhiên, để thực hiện
được mục đích chung đó, Tòa án và Viện kiểm sát mỗi cơ quan lại có
một chức năng riêng. Viện kiểm sát có chức năng kiểm sát việc tuân
theo pháp luật và thực hành quyền công tố nhằm bảo đảm pháp luật
được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, còn chức năng của Tòa
án là xét xử bảo đảm sự công bằng, bình đẳng trước pháp luật.
1.3. Tổng quan quy định của Pháp luật Tố tụng hình sự
Việt Nam từ năm 1945 đến năm 2003 về giới hạn xét xử sơ thẩm
1.3.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1988
Trong hệ thống Bộ luật Tố tụng hình sự nước ta từ năm
1945, vấn đề giới hạn xét xử sơ thẩm chưa có bất kỳ một văn bản
9
truy tố
Đây là nội dung hoàn toàn mâu thuẫn với nguyên tắc Thẩm
phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
và nguyên tắc xác định sự thật vụ án.
Kết luận Chương 1
Vấn đề giới hạn xét xử sơ thẩm hiện đang thu hút sự quan
tâm của nhiều nhà nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực Tố tụng hình
sự, cũng như các nhà hoạt động thực tiễn. Việc nghiên cứu lý luận về
giới hạn xét xử sơ thẩm giúp chúng ta hiểu rõ hơn nội dung giới hạn
xét xử sơ thẩm.
11
Chương 2
QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2003
VỀ GIỚI HẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH
TẠI THÀNH PHỐ HỐ CHÍ MINH
2.1. Quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về
giới hạn xét xử sơ thẩm
So với quy định về giới hạn việc xét xử tại Điều 170 Bộ luật
Tố tụng hình sự năm 1988, thì quy định giới hạn việc xét xử trong
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 đã có những điểm khác biệt, quy
định được bổ sung một cách cụ thể và chặt chẽ hơn trong đường lối
xét xử. Cụ thể Điều 196 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định:
“Tòa án chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà
Viện kiểm sát truy tố và Tòa án đã quyết định đưa ra xét xử.
Tòa án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà
Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội
trong Bộ luật Tố tụng hình sự, đồng thời còn đảm bảo được Tòa án là
cơ quan thực hiện chức năng xét xử (Quyền Tư pháp) không còn phụ
thuộc vào sự đánh giá của Viện kiểm sát đối với hành vi phạm tội
của bị cáo; được quyền độc lập quyết định tội danh và đưa ra những
phán quyết đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan
người vô tội và không bỏ lọt tội phạm.
13
2.2. Thực tiễn thi hành quy định của Bộ luật Tố tụng
hình sự năm 2003 về giới hạn xét xử sơ thẩm tại Thành phố Hồ
Chí Minh
2.2.1. Tổng quan kết quả thi hành quy định về giới hạn xét
xử sơ thẩm
Việc áp dụng quy định giới hạn việc xét xử trong hoạt động
xét xử các vụ án hình sự của Tòa án nhân dân hai cấp Thành phố Hồ
Chí Minh trong thời gian vừa qua đã đạt những kết quả nhất định, tạo
sự công bằng và nâng cao vị thế của các cơ quan bảo vệ pháp luật,
khẳng định được vị trí và vai trò của Tòa án trong công cuộc đấu
tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới.
2.2.2. Những vi phạm, sai lầm và nguyên nhân trong thi
hành quy định về giới hạn xét xử sơ thẩm
2.2.2.1. Những vi phạm, sai lầm
Các cơ quan tiến hành tố tụng có quan điểm không thống
nhất với nhau về tội danh nên việc áp dụng quy định về giới hạn xét
xử sơ thẩm dẫn đến tình trạng trả hồ sơ điều tra bổ sung nhiều lần
ảnh hưởng đến hoạt động tố tụng, nhiều vụ án giải quyết kéo dài gây
bức xúc cho những người tham gia tố tụng.
* Trường hợp Tòa án xét xử theo khoản khác với khoản mà
xác định sự thật khách quan của vụ án.
Vì vậy, việc nghiên cứu và đánh giá nội dung vấn đề giới
hạn xét xử sơ thẩm cần phải tiến hành trên cơ sở lý luận và thực tiễn
15
để làm căn cứ cho việc sửa đổi, bổ sung quy định về giới hạn xét xử
sơ thẩm cho phù hợp bối cảnh Đảng và Nhà nước đang tiến hành cải
cách tư pháp nhằm xây dựng Nhà nước Pháp quyền Xã hội Chủ
nghĩa.
16
Chương 3
CÁC YÊU CẦU VÀ CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THI HÀNH
QUY ĐỊNH GIỚI HẠN XÉT XỬ SƠ THẨM
3.1. Các yêu cầu bảo đảm thi hành quy định giới hạn xét
xử sơ thẩm
3.1.1. Yêu cầu của các nguyên tắc cơ bản của Tố tụng hình
sự
Việc tuân thủ chặt chẽ và thực hiện triệt để các nguyên tắc cơ
bản trong Tố tụng hình sự là trách nhiệm, nghĩa vụ của Cơ quan điều
tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân.
3.1.2. Yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp
Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung, Bộ luật Tố
tụng hình sự nói riêng, trong đó có quy định giới hạn xét xử sơ thẩm
là hết sức cần thiết, để góp phần vào việc xây dựng thành công Nhà
nước pháp quyền Xã hội Chủ nghĩa ở Việt Nam.
3.1.3. Yêu cầu của việc thực hiện quyền tư pháp
hạn xét xử sơ thẩm
Qua nghiên cứu các vấn đề lý luận về giới hạn xét xử sơ
thẩm cũng như các quy định của Pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam
và thực tiễn áp dụng tại Thành phố Hồ Chí Minh, tác giả nhận thấy
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được Quốc hội thông qua ngày 27
tháng 11 năm 2015 đã có những sửa đổi, bổ sung rất lớn về vấn đề
giới hạn xét xử sơ thẩm theo hướng mở rộng phạm vi giới hạn xét xử
18
của Tòa án so với quy định tại Điều 196 Bộ luật Tố tụng hình sự năm
2003. Đó là, quy định cho Tòa án có quyền xét xử bị cáo về tội danh
nặng hơn tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố. Đây rõ ràng là nội
dung sửa đổi, bổ sung có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo đảm
cho Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân thật sự độc lập xét xử không
còn phụ thuộc tội danh của Viện kiểm sát truy tố nữa. Điều này đã
đảm bảo cho việc xét xử của Tòa án thực sự đúng người, đúng tội và
đúng pháp luật nên tác giả hoàn toàn đồng tình.
3.2.3. Tăng cường năng lực, nâng cao trình độ những
người tiến hành tố tụng
Để đảm bảo quy định về giới hạn xét xử sơ thẩm nói riêng và
các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nói chung được thi hành
nghiêm túc và có hiệu quả cần phải tiếp tục xây dựng đội ngũ Kiểm
sát viên và Thẩm phán đáp ứng được những yêu cầu thực tiễn trong
điều kiện hiện nay.
3.2.4. Tiếp tục đổi mới cơ cấu tổ chức và hoạt động Tòa án
nhân dân
Đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án các cấp theo hướng
hợp lý, khoa học và hiện đại về cơ cấu tổ chức; điều kiện, phương
tiện làm việc, bảo đảm thực hiện tốt các nguyên tắc hiến định: “Tòa
được bổ sung trước khi xét xử và tại phiên tòa. Nhận thức và áp dụng
không đúng các quy định của Pháp luật Hình sự, dẫn đến: Định tội
danh sai; xác định điều khoản của Bộ luật Hình sự không đúng (xác
20
định sai khung hình phạt); quyết định hình phạt quá nặng, quá nhẹ
hoặc cho hưởng án treo không đúng; sai lầm trong việc giải quyết
vấn đề dân sự trong vụ án; không nắm vững các quy định trong phần
chung Bộ luật Hình sự. Thừa nhận giá trị chứng minh của chứng cứ,
tài liệu thu thập bằng các hành vi trái pháp luật của cơ quan điểu tra,
dẫn đến sai lệch vụ án. Cơ chế hoạt động và hoạt động xét xử của
Tòa án cũng bộc lộ những bất cập ở việc sự tham gia của Hội thẩm
trong Hội đồng xét xử chủ yếu mang tính hình thức, chất lượng xét
xử không cao.
3.2.8. Tăng cường công tác xây dựng án lệ
Án lệ có vai trò là một công cụ hữu hiệu để “Điền vào chỗ
trống” của các Bộ luật. Đặc biệt, là trong lĩnh vực kinh tế và dân sự.
Án lệ không chỉ để giải quyết các vấn đề mà luật chưa điều chỉnh,
mà nó còn có vai trò quan trọng trong việc đưa ra những dự báo cho
tương lai của điều chỉnh pháp luật.
Tuy nhiên, số lượng án lệ trong hình sự là quá ít so với thực
tế đòi hỏi trong khi Pháp luật Hình sự không thiếu những lỗ hổng
gây khó khăn cho các nhà áp dụng luật. Nguyên nhân của tình trạng
này là do: Truyền thống hệ thống pháp luật của các nước Xã hội Chủ
nghĩa, trong đó có Việt Nam chỉ thừa nhận hình thức, nguồn pháp
luật duy nhất là văn bản quy phạm pháp luật nên trong thời gian dài
chúng ta ít quan tâm đến vấn đề án lệ. Việc ban hành cơ sở pháp lý
công nhận án lệ của Tòa án nhân dân tối cao còn chậm; lần đầu tiên
thực hiện chức năng ban hành án lệ còn nhiều lúng túng; tâm lý và
vấn đề lý luận cơ bản nhất về giới hạn xét xử sơ thẩm, đồng thời
phân tích một số nội dung quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về
giới hạn xét xử sơ thẩm để thấy được những kết quả đã đạt được
cũng như những hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân của hạn chế,
vướng mắc trong thực tiễn áp dụng để tìm ra những giải pháp hoàn
thiện.
Để đạt được yêu cầu đó, việc xây dựng và hoàn thiện Bộ luật
Tố tụng hình sự về giới hạn xét xử sơ thẩm phải căn cứ vào những
nguyên tắc cơ bản của Tố tụng hình sự đã được ghi nhận trong Hiến
pháp và Bộ luật Tố tụng hình sự. Cần có sự phân định rạch ròi về
chức năng, nhiệm vụ của mỗi cơ quan tiến hành tố tụng trong mối
quan hệ phối hợp và chế ước lẫn nhau, đồng thời phải chú trọng đến
vai trò của Tòa án trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tuân thủ
việc bảo đảm các quyền lợi hợp pháp của công dân. Đặc biệt là
quyền bào chữa của bị can, bị cáo.
Khi những yếu tố cần và đủ nêu trên được bảo đảm thì vấn
đề giới hạn xét xử sơ thẩm sẽ được xác định một cách khoa học và
hợp lý./.
23