Giải quyết tranh chấp đầu tư giữa nhà đầu tư nước ngoài và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bằng Trọng tài thương mại theo pháp luật Việt Nam (LV thạc sĩ) - Pdf 46

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM THỊ THÚY DUNG

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẦU TƢ GIỮA NHÀ ĐẦU TƢ
NƢỚC NGOÀI VÀ NHÀ NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA VIỆT NAM BẰNG TRỌNG TÀI THƢƠNG MẠI
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM THỊ THÚY DUNG

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẦU TƢ GIỮA NHÀ ĐẦU TƢ
NƢỚC NGOÀI VÀ NHÀ NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA VIỆT NAM BẰNG TRỌNG TÀI THƢƠNG MẠI
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60.38.01.07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

nước ngoài và nước tiếp nhận đầu tư bằng Trọng tài thương mại. ................. 34
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẦU TƢ GIỮA NHÀ ĐẦU TƢ NƢỚC
NGOÀI VÀ NHÀ NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT
NAM BẰNG TRỌNG TÀI THƢƠNG MẠI .............................................. 37
2.1 Thực trạng pháp uật Việt Nam v giải quyết tranh chấp đầu tư giữa nhà
đầu tư nước ngoài và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bằng
Trọng tài thương mại ....................................................................................... 37
2.1.1 Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài .......................... 37


2.1.2 Điều kiện áp dụng cơ chế giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài .......... 41
2.2 Thực ti n giải quyết tranh chấp đầu tư giữa nhà đầu tư nước ngoài và Nhà
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bằng Trọng tài thương mại ........ 54
2.2.1 Số lượng giải quyết ................................................................................ 54
2.2.2 Một số tồn tại, hạn chế của phương thức giải quyết tranh chấp đầu tư
bằng Trọng tài ................................................................................................. 57
2.2.3 Nguyên nhân của bất cập hạn chế ......................................................... 61
Chƣơng 3: PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT VIỆT NAM VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẦU TƢ GIỮA
NHÀ ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI VÀ NHÀ NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM BẰNG TRỌNG TÀI THƢƠNG MẠI ........... 64
3.1 Phương hướng hoàn thiện ......................................................................... 64
3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật giải quyết tranh chấp đầu tư giữa nhà đầu
tư nước ngoài và nhà nước Việt Nam bằng hình thức Trọng tài theo pháp luật
Việt Nam ......................................................................................................... 65
3.2.1 Hoàn thiện quy định pháp luật về thỏa thuận Trọng tài ........................ 65
3.2.2 Hoàn thiện quy định cụ thể trong Luật Trọng tài thương mại 2010 ..... 68
3.2.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp70
KẾT LUẬN .................................................................................................... 77

CHND
CHXHCN
CP
CQNN

DNNN
FTA

Cộng hòa nhân dân
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Chính phủ
Cơ quan nhà nước
Công ước
Doanh nghiệp nhà nước
Free trade agreement
Hiệp định thương mại tự do

GQTC


Giải quyết tranh chấp
Hiệp định

HĐTT

Hội đồng trọng tài

ICSID

International centre for settlement of investment


Trung tâm trọng tài

TTV

Trọng tài viên

UBND
UNCITRAL

Ủy ban nhân dân
United nations commission on international law
Ủy ban của Liên hợp quốc v luật thương mại quốc tế


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trọng tài thương mại từ âu đã à một phương thức phổ biến trên thế
giới dùng để giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại giữa
các doanh nghiệp, tổ chức với nhau. Việc giải quyết tranh chấp bằng phương
thức Trọng tài được đánh giá à phương thức giải quyết tranh chấp ngoài tòa
án thuận tiện, thủ tục linh hoạt, nhanh chóng, có tính chung thẩm, giữ được bí
mật kinh doanh cũng như uy tín trên thương trường, đồng thời tiết kiệm thời
gian cho các bên tranh chấp hơn so với việc giải quyết tranh chấp thông qua
Tòa án. Hiện nay, trên thế giới có khoảng hơn 100 Tổ chức trọng tài thường
trực như: Hiệp hội Trọng tài Hoa Kỳ (AAA), Tòa án trọng tài Quốc tế
LonDon (LCIA), Hiệp hội Trọng tài Singapore (SIAC), Hiệp hội Trọng tài
thương mại Nhật Bản (JCAA), Phòng Thương mại Stockholm (SCC)...
Ngày 17/6/2010, Quốc Hội chính thức thông qua Luật Trọng tài
thương mại, so với Pháp lệnh Trọng tài thương mại (TTTM) 2003, Luật

giả Đỗ Hoàng Tùng (Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 4/2008); Giải quyết
tranh chấp trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài ở Việt Nam, thực trạng và
phương hướng hoàn thiện của Đỗ Thị Ngọc… Các bài viết này mới chỉ dừng
lại ở việc đưa ra những đặc điểm v cơ chế giải quyết tranh chấp và cung cấp
một số kiến giải cho việc hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp giữa
NĐTNN và NTNĐT. Tuy nhiên, ta có thể thấy các nghiên cứu này đ u là các
công trình được thực hiện từ lâu, các số liệu cũng như tài iệu tham khảo dẫn
chiếu đ u là các luật cũ, các Hiệp định xúc tiến và bảo hộ đầu tư được ký kết
từ âu, do đó, không có tính thời sự và so sánh bị giới hạn.
Đối với riêng vấn đ giải quyết tranh chấp đầu tư bằng Trọng tài, có
các đ tài Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế tại Trọng tài Việt Nam
(Trần Minh Ngọc, Luận văn thạc sỹ); Phương thức giải quyết tranh chấp kinh
doanh, thương mại bằng trọng Tài và tòa án dưới góc độ so sánh (Cao Thị
Thanh Thủy, Luận văn thạc sỹ)…
Qua việc tìm đọc và nghiên cứu các tài liệu này cho thấy, hầu hết, các
tài liệu chỉ đi vào nghiên cứu phương thức giải quyết tranh chấp kinh tế,
thương mại bằng con đường Trọng tài, hầu như chưa có công trình nghiên
cứu chuyên sâu v giải quyết tranh chấp đầu tư giữa nhà đầu tư nước ngoài
2


(NĐTNN) và nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sau đây gọi tắt
à nhà nước Việt Nam) bằng con đường Trọng tài thương mại.
3. Mục đ ch v nhiệ vụ nghi n cứu
Mục đích nghiên cứu của Luận văn à nhằm àm sáng tỏ những vấn đ
ý uận v giải quyết tranh chấp đầu tư giữa nhà đầu tư nước ngoài và quốc
gia tiếp nhận đầu tư, phân tích, đánh giá thực trạng pháp uật Việt Nam và
thực ti n v giải quyết tranh chấp đầu tư giữa nhà đầu tư nước ngoài và Nhà
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bằng Trọng tài thương mại; để từ
đó đ xuất các phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp uật Việt Nam v

qua đó, rút ra những điểm tích cực và hạn chế của các quy định này tại Việt
Nam.
5. Phƣơng pháp luận v phƣơng pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu và hoàn thiện luận văn, tác giả đã vận dụng các kiến
thức được tích ũy trong quá trình sưu tầm, tổng hợp các tài liệu iên quan đến
cơ chế giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và nước tiếp nhận
đầu tư nói chung và nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nói riêng.
Song song với đó, tác giả xem xét, đánh giá, chọn lọc các vụ tranh chấp đầu
tư tiêu biểu tại Việt Nam đã thu thập được để phân tích và làm rõ vấn đ
nghiên cứu.
Tác giả đã kết hợp sử dụng các phương pháp: phương pháp phân tích,
phương pháp so sánh đối chiếu, phương pháp ogic, phương pháp tổng
hợp…để đạt được mục tiêu nghiên cứu và hoàn chỉnh luận văn.
6. nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Đ tài nghiên cứu khoa học sẽ àm rõ cơ chế giải quyết tranh chấp
giữa NĐTNN và nhà nước Việt Nam bằng Trọng tài theo quy định của pháp
luật Việt Nam. Từ đó, đưa ra một số khuyến nghị đối với các doanh nghiệp
cũng như cơ quan có thẩm quy n của Việt Nam khi hàng loạt Hiệp định
thương mại tự do thế hệ mới có hiệu lực thi hành.
Nghiên cứu v việc vận dụng các cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư
giữa NĐTNN và NTNĐT à cả một hệ thống các vấn đ lý luận trên cơ sở
phân tích, so sánh đi tìm các điểm tương đồng và khác biệt, các mặt thuận lợi
và khó khăn khi áp dụng cơ chế ISDS tại Việt Nam so với các quốc gia khác
trên thế giới. Từ đó, vận dụng linh hoạt, có hiệu quả vào tình hình thực tế của
đất nước là nội dung quan trọng, cần thiết. Việc hiểu đúng, hiểu đủ có thể vận

4


dụng để phòng tránh và bảo vệ sự an toàn của môi trường đầu tư nước ngoài

nhau. Để có thể đưa ra được những đánh giá v cơ chế ISDS ta cần phải tìm
hiểu v sự hình thành và phát triển của cơ chế ISDS cũng như bản chất, đặc
điểm của cơ chế này. Nhà nước Việt Nam đặt trong mối quan hệ pháp luật
được nghiên cứu trong luận văn này chính à một nước tiếp nhận đầu tư.
1.1 Khái niệm Giải quyết tranh chấp đầu tƣ giữa Nh đầu tƣ nƣớc
ngo i v nƣớc tiếp nhận đầu tƣ
1.1.1 Định nghĩa Giải quyết tranh chấp đầu tư giữa Nhà đầu tư
nước ngoài và nước tiếp nhận đầu tư
Theo B ack’s Law Dictionary, thuật ngữ “đầu tư” được hiểu là một
khoản chi phí bỏ ra để mua tài sản hoặc dùng tài sản để tạo ra lợi nhuận hay
một kinh phí vốn (Nguyên gốc: Investment is an expenditure to acquire
property or asset to produce revenue; a capital outlay [(24), tr954]. Hay nói
cách khác, đầu tư à việc một cá nhân hoặc pháp nhân sử dụng các loại tài sản
mà mình sở hữu hoặc có quy n quản lý thực hiện hoạt động kinh doanh nhằm
mục đích ợi nhuận, trong đó: cá nhân hay pháp nhân đó được gọi à “Nhà đầu
tư”; các oại tài sản mà nhà đầu tư sở hữu hoặc kiểm soát gọi à “khoản đầu
tư”; khi nhà đầu tư đưa các khoản đầu tư ra khỏi phạm vi lãnh thổ quốc gia
mình mang quốc tịch thì tức à nhà đầu tư đã thực hiện “hoạt động đầu tư
quốc tế”.
Luật Đầu tư năm 2005 quy định“Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn
bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành
6


các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của
pháp luật có liên quan” [(7), khoản 1 Đi u 3]. Tuy nhiên, tại Luật Đầu tư
Việt Nam năm 2014, thuật ngữ “đầu tư" đã được thay thế bằng thuật ngữ “đầu
tư kinh doanh”. Theo đó, đầu tư kinh doanh được hiểu là “việc nhà đầu tư bỏ
vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ
chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế;

quy n thế chấp, quy n cầm cố và cầm giữ (khoản 2, Đi u 1, Hiệp định
Thương mại song phương Việt Nam – Nhật Bản). Như vậy, khái niệm “vốn
đầu tư” trong Luật Đầu tư của Việt Nam và “khoản đầu tư” trong các Hiệp
định này khá tương đồng với nhau.
Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Liên minh châu Âu (EVFTA)
quy định ngắn gọn: “khoản đầu tư” à mọi loại tài sản được sở hữu hoặc kiểm
soát trực tiếp hay gián tiếp bởi nhà đầu tư của một Bên trong lãnh thổ Bên kia,
có đặc điểm của khoản đầu tư như cam kết v vốn hoặc các nguồn lực khác,
kì vọng v lợi nhuận hoặc gánh chịu rủi ro và trong một thời hạn nhất định”
(Nguyên gốc: “Investment” means every kind of asset which is owned or
controlled, directly or indirectly, by investor of one Party in the territory of
the other Party, that has the characteris as the commitment of capital or other
resources, the expectation of gain or profit, the assumption of risk and for a
certain duration”), như vậy, EVFTA đã đưa ra một khái niệm rất rộng v
“khoản đầu tư”.Trong khi đa số các Hiệp định tự do hóa thương mại (FTA),
Hiệp định thương mại song phương (BTA) cũng như các Hiệp định v khuyến
khích và bảo hộ đầu tư (BIT) giữa Việt Nam và các nước trước đây, chủ yếu
quy định khái niệm “khoản đầu tư” bằng cách liệt kê các loại tài sản thì
EVFTA lại giải thích khái niệm này trên cơ sở đưa ra các đặc điểm để khiến
một loại tài sản được coi à “khoản đầu tư”, nếu thỏa mãn các đặc điểm này sẽ
tự động coi là một “khoản đầu tư” Theo đó, nếu một tài sản đáp ứng được một
trong các đặc điểm: cam kết v vốn hoặc các nguồn lực khác (The
commitment of capital or other resourse); kỳ vọng v lợi nhuận (the
expectation of gain or profit); gánh chịu rủi ro (the assumption of rick) thì tài
sản đó có thể được xác định à “khoản đầu tư”.
Tại đi u 25 Chương II: Thẩm quy n của ICSID, Công ước ICSID
không quy định rõ ràng v thuật ngữ khoản đầu tư, tuy nhiên, trên thực tế,
mặc dù ICSID không có định nghĩa v “khoản đầu tư” nhưng trong các case
do ICSID thì tiêu chí để xác định “khoản đầu tư” đã có. Ví du: trong case
8

NTNĐT; tranh chấp giữa NĐTNN với tổ chức, cá nhân của NTNĐT). Tuy
nhiên, quy định trên cũng đã cho thấy sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ
Việt Nam đối với một trong ba loại tranh chấp đầu tư quốc tế đã và đang xuất
9


hiện ngày càng phổ biến đó à tranh chấp giữa NĐTNN và chính phủ nước
tiếp nhận đầu tư.
Từ nhận định v tranh chấp đầu tư, ta có thể xác định “giải quyết
tranh chấp đầu tư” à các cách thức, biện pháp, phương tiện được áp dụng để
loại bỏ những bất đồng giữa các bên hoặc đưa ra một phán quyết cuối cùng
buộc các bên phải thực hiện để chấm dứt tranh chấp đầu tư đó.
Giải quyết tranh chấp đầu tư giữa NĐTNN NTNĐT à một quy n
pháp ý đặc biệt mà chỉ có những người đầu tư vào một quốc gia nước ngoài
mới có thể sử dụng như à một dạng “thách thức luật”, quy định, quyết định tư
pháp hoặc hành chính hoặc các quyết định khác của chính phủ. ISDS cho
phép chủ sở hữu tài sản nước ngoài được bỏ qua tòa án trong nước, các thủ
tục hành chính, đi u trần trước hội đồng thành phố… (tất cả những biện pháp
mà nước tiếp nhận đầu tư có thể áp dụng) và kiện nước tiếp nhận đầu tư trước
một “Hội đồng trọng tài” tư nhân (Giống như Thẩm phán, các Trọng tài viên
có quy n đưa ra các quyết định trong các trường hợp. Tuy nhiên, họ không
được bầu cử hay đ cử, bổ nhiệm, và họ không phải chịu áp lực từ bất cứ các
thế lực chính trị nào) [(31)].
1.1.2 Đặc điểm cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư giữa nhà đầu tư
nước ngoài và nước tiếp nhận đầu tư
Chủ thể tranh chấp
Việc giải quyết tranh chấp thường chia thành hai nhóm, đó à là giải
quyết tranh chấp thông qua các biện pháp ngoại giao và giải quyết tranh chấp
thông qua các cơ quan tài phán. Ứng với mỗi nhóm giải quyết tranh chấp sẽ
có những chủ thể thực hiện khác nhau.

với pháp luật Bên đó. Đối với Cộng hòa Hungaria thuật ngữ này còn bao gồm
cả bất kỳ người nào không có tư cách pháp nhân nhưng được coi như một
công ty theo pháp luật của Hungaria”
Trong Hiệp định ACIA khẳng định “nhà đầu tư” nghĩa à “thể nhân,
hoặc pháp nhân của một Quốc gia thành viên đang, hoặc đã tiến hành hoạt
động đầu tư trong lãnh thổ của bất kì Quốc gia Thành viên khác”(Điểm d,
Khoản 4). Theo TPP, “nhà đầu tư” à “công dân hoặc doanh nghiệp của một
Bên” “chuẩn bị thực hiện, đang thực hiện hoặc đã thực hiện đầu tư trong ãnh
thổ của bên khác” (nguyên gốc: “a national or an enterprise(…) that attempts
to make, is making, or has made an investment”) (Đoạn 15 và đoạn 16, Đi u
9.1 của Hiệp định). Tại phần footnote số 12, thuật ngữ “chuẩn bị thực hiện”
11


(attempts to make) được giải thích là việc một NĐT đang “cố gắng thực hiện”
một dự án đầu tư khi NĐT đó thực hiện bất kỳ hành động hoặc hành động cụ
thể nào đó để thực hiện đầu tư như chuyển vốn và các nguồn lực khác để
thành lập doanh nghiệp hoặc nộp hồ sơ xin giấy phép hoặc giấy chứng
nhận. Như vậy, hầu như tất cả các cá nhân hoặc doanh nghiệp nào cũng có thể
được hưởng các lợi ích theo chương Đầu tư này, do cá nhân, tổ chức chỉ cần
chuyển trước một ít vốn và nguồn lực vào nước tiếp nhận đầu tư à đã có thể
chứng minh tư cách “nhà đầu tư” của mình. Tuy nhiên, dường như đây à một
cách quy định phổ biến ở các FTA thế hệ mới. Chẳng hạn, trong EVFTA,
khái niệm “nhà đầu tư” cũng mang một ý hiểu tương tự. Như vậy, các cá nhân,
doanh nghiệp của một nước thành viên chỉ cần chuyển trước một ít vốn hoặc
nguồn lực vào nước thành viên khác (nước tiếp nhận đầu tư) à đã có tư cách
“nhà đầu tư nước ngoài” và được hưởng các ưu đãi trong chương Đầu tư của
TPP.
Để trở thành một NĐTNN tại một quốc gia khác, NĐT đó thường là
một doanh nghiệp lớn mạnh, có ti m lực kinh tế vững vàng và trong quá trình

nhận, đưa ra các biện pháp gợi ý cho việc giải quyết. Các bên có thể xem xét
ý kiến của hòa giải viên, người trung gian để đi đến quyết định cho bản thân
mình, tránh sự kéo dài hay căng thẳng hơn tình hình tranh chấp bằng cách sử
dụng các biện pháp tố tụng.
Nội dung giải quyết tranh chấp
Việc giải quyết tranh chấp sẽ phải tiến tới giải quyết triệt để vấn đ
tranh chấp giữa các bên. Theo đó, hoặc các bên tự thương ượng, hòa giải để
chấm dứt tranh chấp, hoặc sẽ thông qua cơ quan tài phán (Trọng tài) đưa ra
một phán quyết v xử lý tranh chấp giữa các bên. Kể cả khi các bên tự thương
ượng, hòa giải hay việc tranh chấp được chấm dứt bằng một phán quyết thì
v nội dung, việc giải quyết tranh chấp sẽ hướng tới việc đảm bảo quy n của
các bên, bên có hành vi gây tổn hại tới bên còn lại phải bồi thường.
Tại đi u TPP, nguyên tắc công bằng và bình đẳng đã được đ cập, như
vậy, việc giải quyết tranh chấp đầu tư sẽ phải được thực hiện toàn toàn và triệt
để theo nguyên tắc này. Nội dung của việc giải quyết tranh chấp chủ yếu tập
trung vào vấn đ tìm ra một phương án tối ưu, hay một thỏa thuận thương
ượng hòa giải tối ưu nhất dành cho các bên tranh chấp. Thông qua việc giải
quyết tranh chấp, có thể sẽ xuất hiện một phán quyết (đối với trường hợp giải
quyết tranh chấp bằng con đường trọng tài hoặc Tòa án) buộc các bên phải
13


thực hiện. Khi các bên đã thống nhất áp dụng biện pháp giải quyết tranh chấp
tư pháp thì phải tuân thủ với những phán quyết do các cơ quan tài phán này
đưa ra. Trong việc giải quyết tranh chấp này, các bên phải tự nhận ra được
những bất cập hạn chế cũng như những việc mình đã thực hiện đúng theo hợp
đồng, theo Hiệp định đầu tư, từ đó, đưa ra một tiếng nói chung, một cách giải
quyết “đôi bên cũng có ợi” trong các phương thức giải quyết bằng ngoại giao.
Hoặc, cơ quan tài phán ra một phán quyết v tính đúng đắn của các bên dựa
trên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, những bằng chứng, lập luận của cả

Do đó, phạm vi giải quyết tranh chấp trong các trường hợp này chủ
yếu là các yêu cầu của bên nguyên đơn. Đối với việc giải quyết tranh chấp
bằng các biện pháp ngoại giao (thương ượng, hòa giải) thì phạm vi giải quyết
tranh chấp sẽ là tất cả những gì mà NĐT và nước tiếp nhận đầu tư thấy không
ổn. Trong quá trình này sẽ giải quyết tất cả các xung đột, bất đồng đó. Còn
phạm vi giải quyết tranh chấp đối với trường hợp việc giải quyết được thực
hiện tại các cơ quan tài phán sẽ phụ thuộc vào các yêu cầu của nguyên đơn
trong đơn khởi kiện và phản tố của bị đơn (nếu có).
Ngoài ra, khi nhắc tới giải quyết tranh chấp đầu tư không thể bỏ qua
các cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư. Các cơ chế giải quyết này được tập
vào hai nhóm lớn: các biện pháp ngoại giao (thương ượng, hòa giải, trung
gian) và các biện pháp tư pháp (trọng tài, tòa án). Việc phân tích kỹ các nội
dung của từng phương thức giải quyết tranh chấp được tác giả phân tích cụ
thể và àm rõ hơn tại mục 2.2 chương 2 dưới đây.
Trên thực tế, việc giải quyết tranh chấp v đầu tư giữa một chính phủ
với một doanh nghiệp nước ngoài còn gặp nhi u khó khăn. Đặc biệt tại các
quốc gia thừa nhận quy n mi n trừ tư pháp tuyệt đối (Ví dụ: Trung Quốc, …),
Các NĐTNN cũng như các doanh nghiệp khó có thể khởi kiện chính phủ hoặc
các cơ quan nhà nước ra trước Tòa án quốc gia.
Tuy nhiên, trước nhu cầu toàn cầu hóa và và tự do hóa thương mại
trong đầu tư đã và đang àm gia tăng các hoạt động đầu tư quốc tế nói chung
và tranh chấp v đầu tư giữa nước tiếp nhận đầu tư với nhà đầu tư nước ngoài
nói riêng. Thực ti n này đặt ra yêu cầu phải xây dựng cơ chế phù hợp để giải
quyết loại hình tranh chấp.
15


1.2 Các phƣơng thức giải quyết tranh chấp giữa Nh đầu tƣ nƣớc
ngo i v nh nƣớc Việt Nam
Để giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế, đặc biệt là các tranh chấp


việc xây dựng và đảm bảo môi trường đầu tư nhằm thu hút các nhà đầu tư
khác sẽ được các ý kiến đóng góp v cách thực hiện các biện pháp xúc tiến
đầu tư của mình, và cũng giữ được ni m tin của quốc gia mình trong việc tiếp
nhận đầu tư, việc này sẽ giúp cho các NĐTNN khác nhìn vào thấy được sự
chủ động, hội nhập và chịu thương ượng với NĐTNN khi có bất kỳ tranh
chấp nào. Việc NĐTNN và nước tiếp nhận đầu tư, hai chủ thể ở hai địa vị bất
bình đẳng lại “ngang bằng nhau” khi cùng ngồi vào bàn giải quyết tranh chấp.
Đi u này thể hiện sự chú trọng đến đầu tư không quản ngại việc nhà nước
cũng ngồi với NĐT để tiếp nhận tâm tự nguyện vọng của NĐT và khắc phục
những sơ suất trong quá trình ban hành hay thực hiện các chính sách pháp luật
trong nước của mình. Sự thành công của con đường thương ượng phụ thuộc
rất nhi u vào thái độ hợp tác xây dựng giữa hai bên, phụ thuộc vào sự hiểu
biết của các bên v phương thức giải quyết tranh chấp khác nhau như Trọng
tài và Tòa án. NĐTNN biết rằng khi khởi kiện một Chính phủ ra Trọng tài
hoặc Tòa án thì tỷ lệ rủi ro sẽ cao hơn và việc NĐTNN theo các vụ kiến này
cũng rất mất thời gian. Việc hai bên tranh chấp cùng thương ượng sẽ là một
hình ảnh đẹp cho cả hai bên tranh chấp.NĐTNN giải quyết được vướng mắc
của mình, chính phủ nước tiếp nhận đầu tư xây dựng được thương hiệu quốc
gia biết lắng nghe nhưng không nhu nhược (không tiếp nhận đầu tư bằng mọi
giá).
Có thể thấy, ưu điểm rõ ràng nhất của việc giải quyết tranh chấp đầu
tư bằng thương ượng là tiết kiệm thời gian và giảm thiểu chi phí. Các bên
tranh chấp cùng đàm phán, thương ượng, nêu ra quan điểm của mình, những
xung đột và cùng tìm cách giải quyết. Việc giải quyết như vậy giúp các bên
tiết kiệm chi phí hơn so với phương thức giải quyết tranh chấp thông qua
Trọng tài hay tòa án. NĐTNN có thể phải mất một khoản chi phí lớn để khởi
kiện nước tiếp nhận đầu tư ra Trọng tài hoặc Tòa án quốc gia đó. Mặt khác,
NĐTNN cũng phải đối mặt với khả năng nước tiếp nhận đầu tư viện dẫn
quy n mi n trừ tư pháp của mình để từ chối tham gia vào quá trình giải quyết

Lan)
1.2.2 Hòa giải – Trung gian
Trong thực ti n, phương hòa giải và trung gian ít khi được vận dụng
riêng lẻ trong việc giải quyết tranh chấp kinh tế nói chung và tranh chấp đầu
tư nói riêng. Các phương thức giải quyết tranh chấp này thường được kết hợp
với các phương thức giải quyết tranh chấp khác (như thương ượng, trọng tài,
18


tòa án) nhằm đảm bảo đáp ứng được mong muốn của các bên khi giải quyết
tranh chấp.
Hòa giải
Theo Đi u 1 Luật Mẫu của UNCITRAL v Hoà giải thương mại quốc
tế năm 2002 thì Hòa giải à quá trình trong đó bên thứ ba, do các bên tranh
chấp chỉ định, hỗ trợ các bên tranh chấp giải quyết các tranh chấp phát sinh từ
hoặc liên quan tới quan hệ hợp đồng hoặc quan hệ pháp lý giữa các bên. Với
sự hỗ trợ hòa giải của các hòa giải viên các bên sẽ trình bày quan điểm, lập
luận cũng như nguyện vọng của mình nhằm giải quyết tranh chấp. Từ đó, các
bên có thể tìm được một giải pháp có lợi cho cả hai bên trên cơ sở sự thỏa
hiệp của cả hai.
Như đã phân tích tại mục 1.2.1, khi các bên bất đồng v quan điểm thì
việc giải quyết tranh chấp bằng hòa giải sẽ không còn. Lúc này, các bên tranh
chấp không còn được sự thỏa mái khi tiến hành hòa giải nữa, các bên sẽ phải
cân nhắc, tính toán nhi u hơn giữa lợi ích của mình và quan điểm lợi ích của
bên tranh chấp còn lại.
So với phương thức giải quyết tranh chấp bằng thương ượng, giải
quyết tranh chấp bằng phương thức hoà giải giúp các bên tranh chấp d dàng
tìm được tiếng nói chung thông qua sự tư vấn cũng như hỗ trợ của bên thứ ba.
Mặt khác, thủ tục giải quyết tranh chấp bằng phương thức hòa giải khá m m
dẻo và linh hoạt hơn do quá trình hoà giải hoàn toàn trên cơ sở thỏa thuận của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status