VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM THỊ THÚY DUNG
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẦU TƢ GIỮA NHÀ ĐẦU TƢ
NƢỚC NGOÀI VÀ NHÀ NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
VIỆT NAM BẰNG TRỌNG TÀI THƢƠNG MẠI
THEO PHÁP LUẬT VIÊT NAM
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60.38.01.07
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội - 2017
Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học xã hội
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Bùi Nguyên Khánh
Phản biện 1: PGS.TS. Nguyễn Văn Vân
Phản biện 2: TS. Trần Minh Đức
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ
họp tại: Học viện Khoa học xã hội lúc 9 giờ 00 ngày 10 tháng 10
năm 2017
Có thể tìm hiểu luận văn tại: Thư viện Học viện Khoa học xã hội
Agreement between the European Union and the Socialist Republic
of Vietnam on Trade Relations - EVFTA)…sẽ giúp các hoạt động
hợp tác thương mại và đầu tư giữa Việt Nam và các nước không
ngừng gia tăng. Cùng với đó, các tranh chấp về thương mại, đầu tư,
đặc biệt là tranh chấp giữa NĐTNN và cơ quan có thẩm quyền của
Việt Nam cũng sẽ xuất hiện nhiều hơn.
Giải quyết tranh chấp đầu tư giữa nhà đầu tư nước ngoài và
nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một vấn đề khó,
điều này đòi hỏi vừa để bảo vệ lợi ích chính đáng của nhà đầu tư
nước ngoài, vừa để đảm bảo lợi ích của nhà nước. Xuất phát từ tầm
quan trọng và tính chất thời sự của vấn đề, tác giả chọn đề tài: “Giải
quyết tranh chấp đầu tư giữa nhà đầu tư nước ngoài và Nhà nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bằng trọng tài thương mại theo
pháp luật Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Các học giả Việt Nam cũng đã có bình luận về cơ chế giải
quyết tranh chấp giữa NĐTNN và NTNĐT như: Cơ chế và thực tiễn
giải quyết tranh chấp đầu tư của Trung tâm giải quyết các tranh
chấp đầu tư quốc tế của tác giả Đỗ Hoàng Tùng (Tạp chí Nhà nước
và Pháp luật số 4/2008); Giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực đầu tư
nước ngoài ở Việt Nam, thực trạng và phương hướng hoàn thiện của
Đỗ Thị Ngọc… Các bài viết này mới chỉ dừng lại ở việc đưa ra
những đặc điểm về cơ chế giải quyết tranh chấp và cung cấp một số
kiến giải cho việc hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp giữa
NĐTNN và NTNĐT. Tuy nhiên, ta có thể thấy các nghiên cứu này
đều là các công trình được thực hiện từ lâu, các số liệu cũng như tài
liệu tham khảo dẫn chiếu đều là các luật cũ, các Hiệp định xúc tiến
2
- Nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về giải
quyết tranh chấp đầu tư giữa nhà đầu tư nước ngoài và và quốc gia
tiếp nhận đầu tư;
- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về giải
quyết tranh chấp đầu tư giữa nhà đầu tư nước ngoài và Nhà nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bằng trọng tài thương mại;
- Phân tích, đánh giá thực tiễn về giải quyết tranh chấp đầu
tư giữa nhà đầu tư nước ngoài và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam bằng trọng tài thương mại theo pháp luật Việt Nam;
- Đề xuất các phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp
luật Việt Nam về giải quyết tranh chấp đầu tư giữa nhà đầu tư nước
ngoài và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bằng trọng
tài thương mại.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu vào các quy định về giải
quyết tranh chấp đầu tư giữa nhà đầu tư nước ngoài và Nhà nước
CHXHCN Việt Nam thông qua các Hiệp định tự do thương mại thế
hệ mới mà Việt Nam tham gia ký kết thời gian gần đây (như TPP,
EVFTA…), đối chiếu với các quy định này trog Luật Trọng tài
thường mại 2010 về cơ chế này. Bên cạnh, tác giả liên hệ với thực
tiễn trong quá trình giải quyết các tranh chấp này tại Việt Nam, từ đó
rút ra các vấn đề pháp luật cần phải sửa đổi hoàn thiện.
Phạm vi của luận văn là sự đánh giá toàn diện công tác giải
quyết tranh chấp đầu tư giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà nước Việt
Nam trong thời gian qua trên phương diện quy định của pháp luật và
thực tiễn áp dụng, qua đó, rút ra những điểm tích cực và hạn chế của
các quy định này tại Việt Nam.
5. Phƣơn pháp luận và phƣơn pháp n hi n cứu
5
Luận văn có thể trở thành tài liệu tham khảo cho các sinh
viên, các nhà nghiên cứu và những nhà hoạt động thực tiễn trong
việc nghiên cứu và áp dụng các quy định của pháp luật trọng tài Việt
Nam nhằm giải quyết tranh chấp có thể phát sinh trong thời gian tới.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham
khảo, nội dung của luận văn gồm 03 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về giải quyết tranh
chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và nước tiếp nhận đầu tư
Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam và thực tiễn giải
quyết tranh chấp đầu tư giữa nhà đầu tư nước ngoài và Nhà nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bằng trọng tài thương mại
Chương 3: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật
Việt Nam về giải quyết tranh chấp đầu tư giữa nhà đầu tư nước ngoài
và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bằng trọng tài
thương mại.
6
Chƣơn 1
NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
GIỮA NHÀ ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI VÀ NƢỚC TIẾP NHẬN
ĐẦU TƢ
Cơ chế giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và
nước tiếp nhận đầu tư (Investor – State Dispute settlement – ISDS)
này đã xuất hiện từ những năm cuối thập niên 90 của thế kỷ XIX.
trần trước hội đồng thành phố… (tất cả những biện pháp mà nước
tiếp nhận đầu tư có thể áp dụng) và kiện nước tiếp nhận đầu tư trước
một “Hội đồng trọng tài” tư nhân (Giống như Thẩm phán, các Trọng
tài viên có quyền đưa ra các quyết định trong các trường hợp. Tuy
nhiên, họ không được bầu cử hay đề cử, bổ nhiệm, và họ không phải
chịu áp lực từ bất cứ các thế lực chính trị nào).
1.1.2 Đặc điểm cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư giữa
nhà đầu tư nước ngoài và nước tiếp nhận đầu tư
Chủ thể tranh chấp
Chủ thể trong tranh chấp đầu tư giữa NĐTNN và NTNĐT
được xác định rõ ràng ngay trong tên gọi, bao gồm: nhà đầu tư nước
ngoài và nước tiếp nhận đầu tư.
Nhà đầu tư nước ngoài được hiểu là công dân hoặc tổ chức
của một quốc gia tiến hành hoạt động đầu tư tại một quốc gia khác.
Theo Luật Đầu tư năm 2014 “Nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân có
quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài
thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam”.
Bên còn lại trong tranh chấp – nước tiếp nhận đầu tư – là
các cá nhân, cơ quan quản lý nhà nước, đó là các cá nhân, cơ quan
được cơ quan Nhà nước (CQNN) giao quyền, có chức năng và nhiệm
8
vụ để thay mặt chính phủ nước tiếp nhận đầu tư của NĐTNN khi họ
đầu tư vào nước mình.
Nội dung giải quyết tranh chấp
Việc giải quyết tranh chấp sẽ phải tiến tới giải quyết triệt để
vấn đề tranh chấp giữa các bên. Theo đó, hoặc các bên tự thương
lượng, hòa giải để chấm dứt tranh chấp, hoặc sẽ thông qua cơ quan
tài phán (trọng tài) đưa ra một phán quyết về xử lý tranh chấp giữa
và tòa án).
1.2.1 Thương lượng
Thương lượng là phương thức mà theo đó, các bên
phán với nhau để giải quyết một hoặc nhiều tranh chấp phát
giữa các bên. Trong việc giải quyết tranh chấp đầu tư, đặc biệt
NĐTNN và nước tiếp nhận đầu tư, thương lượng là phương
được chú trọng và là ưu tiên hàng đầu.
đàm
sinh
giữa
thức
1.2.2 Hòa giải – Trung gian
Phương hòa giải và trung gian ít khi được vận dụng riêng lẻ
trong việc giải quyết tranh chấp kinh tế nói chung và tranh chấp đầu
tư nói riêng. Các phương thức giải quyết tranh chấp này thường được
kết hợp với các phương thức giải quyết tranh chấp khác (như thương
lượng, trọng tài, tòa án) nhằm đảm bảo đáp ứng được mong muốn
của các bên khi giải quyết tranh chấp.
Hòa giải
Điều 1 Luật Mẫu của UNCITRAL về Hoà giải thương mại quốc
tế năm 2002 nhận định: Hòa giải là quá trình trong đó bên thứ ba, do
các bên tranh chấp chỉ định, hỗ trợ các bên tranh chấp giải quyết các
tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan tới quan hệ hợp đồng hoặc
quan hệ pháp lý giữa các bên. Với sự hỗ trợ hòa giải của các hòa giải
viên các bên sẽ trình bày quan điểm, lập luận cũng như nguyện vọng
10
1.3 Sự hình thành và phát triển của cơ chế giải quyết
tranh chấp đầu tƣ iữa Nhà đầu tƣ nƣớc n oài và nhà nƣớc Việt
Nam
Ở Việt Nam cơ chế giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư
và Chính phủ nước tiếp nhận đầu tư được luật hóa rất muộn. Loại
hình tranh chấp này chỉ phát sinh trong giải đoạn khi Đảng và Nhà
nước ta thực hiện chính sách đổi mới, mở cửa cho các nhà đầu tư
nước ngoài đầu tư vào Việt Nam.
Trải dài từ Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ngày
29/12/1987, đến Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996,
Luật Đầu tư năm 2005, Luật Đầu tư năm 2014, Luật Trọng tài
Thương mại 2010 cho tới các Hiệp định thương mại Việt Nam ký kết
với các quốc gia khác trên thế giới, cơ chế giải quyết tranh chấp đầu
tư giữa Nhà đầu tư nước ngoài và nhà nước Việt Nam ngày càng
được hoàn thiện hơn.
1.4 Những yếu tố tác độn đến việc giải quyết tranh
chấp giữa nhà đầu tƣ nƣớc n oài và nƣớc tiếp nhận đầu tƣ bằng
trọn tài thƣơn
ại.
Cơ chế giải quyết tranh chấp giữa Nhà nước và nhà đầu tư
(ISDS) xuất hiện trong các thỏa thuận đầu tư quốc tế, nhằm giải
quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và Nhà nước phát sinh
trong lĩnh vực đầu tư. Điều khoản ISDS cho phép nhà đầu tư của một
nước thành viên được khởi kiện Nhà nước nơi mà họ thực hiện hoạt
động đầu tư trước cơ quan trọng tài quốc tế. Khi nhà đầu tư khởi kiện
Nhà nước ra trọng tài quốc tế, thì nhà đầu tư phải chỉ ra các hành vi
vi phạm của Nhà nước tiếp nhận đầu tư trái với các quy định trong
Hiệp định. Các yếu tố tác động đến việc giải quyết tranh chấp dạng
này thông qua TTTM được thể hiện qua các mặt sau:
ại th o pháp luật Việt Na
2.2.1 Số lượng giải quyết
Số lượng vụ việc tranh chấp mà các Trung tâm trọng tài thụ
lý giải quyết đã tăng lên 30% so với trước đây. Theo số liệu thống
kê, trong 4 năm (từ năm 2011 đến 31/12/2015) các trung tâm trọng
tài đã ban hành 1.831 phán quyết trọng tài, riêng trong năm 2015, các
trung tâm trọng tài đã giải quyết được 1.255 vụ tăng 389 vụ việc so
với năm 2014. Trong đó, VIAC đã thụ lý, giải quyết 226 vụ, trung
bình gần 60 vụ/năm; Trung tâm Trọng tài thương mại thành phố Hồ
Chí Minh (TRACENT) thụ lý, giải quyết 291 vụ, trung bình hơn 70
vụ/năm. Các trung tâm trọng tài khác chỉ giải quyết từ 5 đến 10
vụ/năm.
16
Tại Việt Nam, trong những năm qua, số vụ tranh chấp
thương mại được giải quyết bằng trọng tài mà tiêu biểu là tại VIAC
liên tục tăng, từ 18 vụ/năm (giai đoạn 1993 – 2003) lên 42 vụ/năm
(giai đoạn 2004 – 2010). Đội ngũ trọng tài viên không ngừng được
mở rộng.
2.2.2 Một số tồn tại, hạn chế của phương thức giải quyết
tranh chấp đầu tư bằng trọng tài
Thứ nhất, pháp luật Trọng tài thương mại 2010 còn nhiều
khoảng trống.
Thứ hai, chất lượng đội ngũ trọng tài viên tuy đã được cải
thiện nhưng vẫn còn hạn chế.
Thứ ba số vụ việc được giải quyết bằng trọng tài trong 4
năm qua đã có xu hướng tăng lên.
Thứ tư, công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động trọng
tài còn chưa được quan tâm đúng mức.
TRỌNG TÀI THƢƠNG MẠI
3.1 Phƣơn hƣớn hoàn thiện
Việt Nam muốn hội nhập vào nền kinh tế thế giới một cách
nhanh chóng và bền vững thì phải không ngừng hoàn thiện hệ thống
pháp luật nói chung và pháp luật về trọng tài nói riêng cho phù hợp
với xu thế phát triển chung.
Bên cạnh việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, Nhà nước
cũng cần có hành động cụ thể nhằm hỗ trợ cơ chế cho hoạt động này.
Tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật trọng tài cũng như nâng
cao chất lượng dịch vụ sẽ giúp doanh nghiệp hiểu hơn về bản chất và
ưu thế của trọng tài thương mại, từ đó tạo điều kiện cho cơ chế này
ngày càng phát triển.
Bên cạnh đó, mỗi trung tâm trọng tài cũng phải có kế hoạch
bồi dưỡng đội ngũ trọng tài viên, không chỉ về số lượng mà cả chất
lượng.
3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật giải quyết tranh
chấp đầu tƣ iữa nhà đầu tƣ nƣớc n oài và nhà nƣớc Việt Nam
bằng hình thức trọng tài theo pháp luật Việt Nam
3.2.1 Hoàn thiện quy định pháp luật về thỏa thuận trọng
tài
Thứ nhất, về định nghĩa thỏa thuận trọng tài. Pháp luật nên
quy định rõ các tranh chấp phát sinh từ quan hệ thuộc phạm vi giải
quyết tranh chấp của trọng tài thương mại.
19
Thứ hai, về hình thức của thỏa thuận trọng tài. Pháp luật
trọng tài nên quy định theo hướng mở rộng hình thức đối với thỏa
thuận trọng tài, tránh trường hợp các bên rõ ràng là có thỏa thuận
trọng tài nhưng thỏa thuận đó lại không được công nhận về mặt hình
loại tài sản mà mình sở hữu hoặc có quyền quản lý thực hiện hoạt
động kinh doanh nhằm mục đích lợi nhuận. Việc một nhà đầu tư của
quốc gia này tiến hành hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh trên
lãnh thổ một quốc gia khác rất dễ nảy sinh những tranh chấp với
chính nước tiếp nhận đầu tư. Khi tranh chấp đầu tư phát sinh, vấn đề
đầu tiên là các bên tranh chấp phải mau chóng thực hiện các cơ chế
giải quyết tranh chấp đã được ký kết giữa nước tiếp nhận đầu tư và
nước NĐT mang quốc tịch. Việc áp dụng cơ chế giải quyết tranh
chấp ISDS càng nhanh, càng chuẩn xác giúp hạn chế những thiệt hại
phát sinh hay sự leo thang tranh chấp.
Tranh chấp với nhà đầu tư trong lĩnh vực đầu tư kinh doanh
là một dạng tranh chấp đặc thù. Bởi trong tranh chấp này luôn có một
bên là nhừ đầu tư nước ngoài và lĩnh vực phát sinh tranh chấp cũng
là lĩnh vực đầu tư nước ngoài tại Việt Nam như: tranh chấp phát sinh
từ hợp đồng hợp tác kinh doanh, hợp đồng đối tác công tư… hoặc
cũng có thể là những tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện
dự án đầu tư như việc mua cổ phần hoặc góp vốn để tham gia quản
lý hoạt động đầu tư.
Thời gian qua đã có những vụ tranh chấp trong đầu tư
nước ngoài tại Việt Nam ngày càng gia tăng và đáng lo ngại. Cụ thể:
Trong giai đoạn 2010 – 2013, đã có tới 16 vụ kiện về đầu
tư quốc tế trong đó Chính phủ Việt Nam là bị đơn. Đến nay, mới chỉ
có 2 trong số 16 các vụ kiện đó được giải quyết với phần thắng thuộc
về chính phủ Việt Nam là vụ kiện của ông Michael McLenzie (công
dân Hoa Kỳ) ra Trọng tài Quốc tế về dự án xây dựng khu nghỉ dưỡng
22
tại Bình Thuận và vụ kiện của nhà đầu tư Pháp - Dial Asie trong dự