THUẾ NHẬP KHẨU
1.
Thuế nhập khẩu
Thuế nhập khẩu là một loại thuế mà một quốc gia hay vùng lãnh thổ đánh vào hàng
hóa có nguồn gốc từ nước ngoài trong quá trình nhập khẩu. Khi phương tiện vận tải (tàu
thủy, máy bay, phương tiện vận tải đường bộ hay đường sắt) đến cửa khẩu biên giới (cảng
hàng không quốc tế, cảng sông quốc tế hay cảng biển quốc tế, cửa khẩu biên giới bộ) thì
các công chức hải quan sẽ tiến hành kiểm tra hàng hóa so với khai báo trong tờ khai hải
quan đồng thời tính số thuế nhập khẩu phải thu theo các công thức tính thuế nhập khẩu đã
quy định trước.
2. Hiện trạng trốn thuế nhập khẩu (Ở Việt Nam)
Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước, là quyền lợi và nghĩa vụ của mọi
tổ chức, doanh nghiệp và công dân. Tuy nhiên, hiện nay tình trạng trốn thuế đang diễn ra
phổ biến ở hầu hết các đối tượng nộp thuế với các mức độ khác nhau, đặc biệt là tình
trạng trốn thuế trong lĩnh vực xuất nhập khẩu. Đây là lĩnh vực mà việc trốn thuế diễn ra
rất nghiêm trọng và phổ biến với nhiều phương thức và thủ đoạn rất tinh vi, phức tạp, gây
thiệt hại cho ngân sách Nhà nước mỗi năm hàng trăm tỷ đồng. Việc trốn thuế xảy ra ở tất
cả các con đường xuất nhập khẩu, từ đường bộ, đường biển, đường hàng không đến
đường bưu điện, tại hầu hết các cửa khẩu quốc tế, quốc gia…
a. Đánh giá chung
Theo đánh giá của Tổng cục Hải quan, trong thời gian qua tình trạng gian lận thuế
xuất nhập khẩu ngày càng trở nên phức tạp. Trung bình hằng năm có khoảng 10.000 mẫu
hàng hóa được phân tích phân loại, trong đó mẫu khai sai khoảng 53%, giảm thuế khoảng
7,4%. Bên cạnh đó, tình trạng DN câu kết với đối tác nước ngoài làm giả hồ sơ, khai báo
cao hơn thực tế một số mặt hàng có thuế nhập khẩu bằng 0% để giảm trị giá tính thuế các
mặt hàng có thuế suất nhập khẩu cao cũng được sử dụng để gian lận thuế.
b. Nguyên nhân
phục vụ thay thế, sữa chữa tàu biển, tàu bay nước ngoài, tạm xuất để phục vụ thay thế,
sửa chữa tàu biển, tàu bay Việt Nam ở nước ngoài, máy móc thiết bị NK để phục vụ thử
nghiệm nghiên cứu phát triển sản phẩm, hàng hóa tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập
để bảo hành, sửa chữa theo hợp đồng mua bán hàng hóa, phương tiện chứa hàng hóa tạm
nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập theo phương thức quay vòng không phải thanh toán.
Cũng theo phản ánh của Hải quan địa phương, một số nội dung của Luật Thuế Xuất khẩu,
thuế Nhập khẩu hiện hành cần được sửa đổi, bổ sung để thực hiện mục tiêu cải cách hành
chính, giảm vướng mắc cho thực hiện, nâng cao tính pháp lý của các quy định về thuế
XK, thuế NK đã được Chính phủ quy định chi tiết thi hành các Luật có liên quan và triển
khai có hiệu quả trên thực tế, như:
Luật chưa quy định đại lý hải quan, người bảo lãnh, người sử dụng hàng hóa NK nhưng
chưa nộp thuế, người thu gom hàng hóa của cư dân biên giới là đối tượng nộp thuế nên
thực tế nhiều trường hợp không thu được thuế của các đối tượng này. Hoặc Luật quy định
về thời điểm tính thuế là ngày đăng ký tờ khai hải quan chưa phù hợp với trường hợp
chuyển đổi đối tượng sử dụng; quy định tách riêng miễn thuế và xét miễn thuế thành 2
điều (1 điều miễn thuế, 1 điều xét miễn thuế là không cần thiết, gây hiểu nhầm là phải
“xin cho” mới được miễn thuế. Việc quy định phải nộp thuế trước khi thông quan đối với
hàng XK, NK để kinh doanh chưa phân biệt mức độ chấp hành tốt pháp luật của DN như
Luật Quản lý thuế là chưa khuyến khích DN chấp hành tốt pháp luật...
-
Bất cập với thực tế
Cũng theo đánh giá của Cục Thuế XNK, Luật Thuế Xuất khẩu, thuế Nhập khẩu hiện
hành chưa đáp ứng yêu cầu của tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, cần
được cải cách, đổi mới hơn nữa, như: Quy định mức khung thuế suất, bao gồm cả mức tối
thiểu và mức tối đa như hiện nay không có ý nghĩa, vì thực chất mức thuế suất trần tối đa
thực tế và chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước.
Ngoài ra, hệ thống cơ sở dữ liệu của hải quan còn nghèo nàn, đa số chỉ dựa vào thông tin
do DN khai báo, độ tin cậy còn thấp. Danh mục rủi ro về giá mang tính dàn trải, phạm vi
quá rộng. Các mức giá kiểm tra xây dựng tại danh mục chủ yếu là mức giá khai báo, độ
tin cậy chưa cao. Việc sử dụng nguồn thông tin do DN khai báo vô hình chung đã hợp
thức hóa cho tình trạng gian lận thương mại.
Thứ nhất, gian lận thuế xuất nhập khẩu ngày càng phức tạp.
Theo đánh giá của Tổng cục Hải quan, trong vài năm trở lại đây, tình trạng gian lận
thuế xuất nhập khẩu ngày càng trở nên phức tạp. Ý kiến các chuyên gia trong lĩnh vực tài
chính cho rằng nguyên nhân nằm ở chỗ ý thức chấp hành pháp luật của doanh nghiệp
chưa cao, trong khi đó cơ chế chính sách trong lĩnh vực quản lý hải quan còn nhiều kẽ hở,
thiếu tính đồng bộ.
Tổng cục Hải quan cho biết trong thời gian vừa qua, hình thức gian lận qua giá để
trốn thuế ngày càng được nhiều doanh nghiệp sử dụng bằng cách: khai không đúng thuế
suất, chủng loại, giá trị đối với hàng hóa nhập khẩu… Tính trung bình hằng năm có
khoảng 10.000 mẫu hàng hóa được phân tích phân loại. Trong đó, mẫu khai đúng chiếm
khoảng 47%, sai khoảng 53%, giảm thuế khoảng 7,4%. Điểm đáng lưu ý, có những mặt
hàng thay đổi thuế suất từ 0% lên tới 30% là mặt hàng ống lưu máu; mặt hàng isopropyl
alcohol (một loại cồn có độ bay hơi cao) tăng từ 0% lên 40%, hoặc tăng tới 50% như mặt
hàng card TV dùng cho máy tính.
Thứ hai, về thực tiễn áp dụng pháp luật về giá tính thuế nhập khẩu.
Một số thủ đoạn gian lận giá có tính phổ biến và điển hình trong quá trình áp dụng
pháp luật về giá tính thuế nhập khẩu như là khai báo không trung thực, khai thấp về chất
lượng hàng hóa, khai báo hàng không thanh toán, thủ đoạn đánh đồng tên hàng nhưng
chất lượng và phẩm cấp thương mại cao hơn…
- Hiện tượng khai báo giá không trung thực.
Với cách này bên nhập khẩu sẽ thông đồng với nhà sản xuất để khai báo giá trị
hàng hóa nhập khẩu thấp hơn so với giá trị hàng hóa trong thực tế. Và trên thực tế là có
rất nhiều chiêu gian lận thuế qua giá…Biểu hiện rõ nhất là việc DN khai báo giá trị hàng
bán thực tế của chiếc xe này trên thị trường là từ 1,65 tỷ đồng đến 1,7 tỷ đồng...
Như vậy, các doanh nghiệp này vừa khai báo giá trị nhập khẩu thấp với cơ quan
Hải quan để trốn thuế nhập khẩu và thuế GTGT khâu nhập khẩu, đồng thời vừa khai báo
giá bán rất thấp trên thị trường nội địa của hàng hóa nhập khẩu với cơ quan Thuế để trốn
thuế GTGT trong nội địa và thuế thu nhập doanh nghiệp. Tình trạng trên dẫn đến sự thất
thoát nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước, và hiện nay khi các vụ việc được phát hiện
việc truy thu thuế đối với các doanh nghiệp vi phạm cũng không hề dễ dàng.
- Hiện tượng khai báo hàng không thanh toán.
Theo công văn hướng dẫn của ngành hải quan, nếu doanh nghiệp nhập hàng và
kèm theo hàng khuyến mãi thì đều được chấp nhận. Ví dụ cụ thể như nhập máy lạnh,
khuyến mại một chảo chống dính thì vẫn được chấp nhận, vì khi cán bộ giá khảo sát trên
thị trường qua các cửa hàng kim khí điện máy cho thấy thực tế có hình thức khuyến mãi
này. Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp lợi dụng hình thức trên để nhập số lượng chảo chống
dính nhiêu gấp 5 lần số lượng máy lạnh trong cùng một lô hàng thì đây chính là hình thức
gian lận. Một số công ty còn tranh thủ thêm tỷ lệ hàng khuyến mãi 10%, thường xảy ra
với hàng hóa là rượu, bia, mỹ phẩm, thực phẩm đóng gói, thuốc tân dược.
- Thủ đoạn đánh đồng tên hàng nhưng chất lượng và phẩm cấp thương mại cao hơn.
Trị giá thanh toán hay sẽ phải thanh toán của nhà nhập khẩu cho nhà xuất khẩu sẽ
được khai báo thấp hơn so với giá trị giao dịch thực tế nhờ sự thông đồng của cả hai bên
như đã phân tích ở trên.
Việc xác định mối quan hệ đặc biệt trong giao dịch có ảnh hưởng đến trị giá giao
dịch đối với những người này trong gia đình theo mô hình công ty me-con. Đối với
những tình huống này đòi hỏi cán bộ hải quan phải có nguồn thôngin sẵn, phải có nghiệp
vụ kiểm toán và được quyền đọc sổ sách tài chính của công ty nếu không rất khó bác bỏ
trị giá giao dịch mà doanh nghiệp đã khai báo.
Thứ ba, về thực tiễn áp dụng pháp luật về thuế suất thuế nhập khẩu.
Thuế suất thuế nhập khẩu là căn cứ quan trọng nhất để xác định số thuế nhập khẩu
mà doanh nghiệp phải nộp cho nhà nước. Trong quá trình hội nhập kinh tế chúng ta đã
tạp tại các cảng biển. Tình hình càng nghiêm trọng hơn khi Việt nam phổ biến áp giá tính
thuế theo những cam kết với WTO, doanh nghiệp tự khai báo , tự xác định trị giá tính
thuế trên tờ khai. Chính vì vậy, các đối tượng đã sử dụng nhiều thủ đoạn tinh vi, đặc biệt
là thông đồng làm giả hợp đồng thương mại, khai báo giá trị thấp so với thực thế, nhằm
áp mã sai đối với những mặt hàng nhạy cảm để được hưởng mức thuế suất thấp. Nhiều
doanh nghiệp, cá nhân nhập khẩu đã lợi dụng chính sách thông thoáng, miễn hoặc kiểm
tra theo tỷ lệ để nhập hàng thừa so với hợp đồng, khai báo hải quan không đúng, nhập
nguyên liệu để sản xuất hàng suất khẩu nhưng lại đem tiêu thụ trái phép trong nước, giả
hợp đồng gia công…
Kết quả tháng 4/2012, Chi cục QLTT TP.HCM đã xử phạt vi phạm hành chính 445
vụ, thu hơn 6,8 tỉ đồng, tăng 72% so với tháng trước. Lũy kế từ đầu năm 2012 đến nay,
Chi cục QLTT TP.HCM đã xử phạt 1.623 vụ, thu hơn 57,4 tỉ đồng, tiêu hủy hàng hóa trị
giá hơn 4,2 tỉ đồng.
Hiện nay, thủ đoạn trốn thuế ngày càng tinh vi hơn, giá trị trốn thuế ngày càng lớn,
đòi hỏi việc xây dựng pháp luật phải ngày càng chặt chẽ, nhưng đồng thời cũng phải đơn
giản hóa các thủ tục sao cho vừa có thể ngăn ngừa được tình trạng lợi dụng kẽ hở của
pháp luật để trón thuế nhập khẩu mà vẫn không rườm rà, ảnh hưởng tới hoạt động nhập
khẩu nói chung.
• Về miễn, giảm thuế nhập khẩu:
Một trong những nội dung quan trọng của quá trình hành thu thuế phập khẩu là vấn
đề xác định hàng hóa nhập khẩu nào nằm trong diện được miễn thuế nhập khẩu. Lợi dụng
những ưu đãi của pháp luật, nhiều người đã nhập khẩu hàng hóa dưới chiêu bài “hàng
miễn thuế” trá hình. Cụ thể là:
Theo quy định tại khoản 5 điều 16 Luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu năm 2005, hàng
hóa nhập khẩu trong tiêu chuẩn hành lý miễn thuế của người nhập cảnh được miễn thuế.
Lợi dụng quy định này của Luật, nhiều người đã thực hiện hành vi buôn lậu của mình
bằng việc nhập lậu điện thoại di động từ Hồng Kông về nước qua đường phi mậu dịch và
xách tay qua các sân bay với những thỏa thuận ăn chơi nhất định. Cùng với đó là những
hành vi tiếp tay của một số cán bộ nhân viên hải quan, các phi công hay tiếp viên hàng
không Việt Nam…
nhân và tổ chức đã cố tình nợ đọng kéo dài, chây ì, chiếm dụng thuế rồi bỏ trốn hoặc chỉ
thực hiện một vài hợp đồng nhập khẩu rồi giải thể doanh nghiệp hoặc chuyển sang lĩnh
vực khác; Trốn thuế qua việc khai sai xuất xứ hàng hóa, xuất trình giấy xuất xứ giả,
không đúng xuất xứ hàng hóa để được áp mã số thuế thấp hơn để trốn thuế NK; Trốn thuế
qua chính sách hàng đổi hàng hoặc việc kinh doanh hàng tạm nhập tái xuất, kinh doanh
hàng miễn thuế, kho ngoại quan...
-Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài lợi dụng việc góp vốn liên doanh bằng vật
tư, thiết bị máy móc để tạo tài sản cố định đã đưa thêm vật tư thiết bị, máy móc vào Việt
Nam rồi bán ra thị trường nội địa để trốn thuế nhập khẩu. Các doanh nghiệp cũng thường
kê khai nguyên phụ liệu nhập khẩu để gia công hàng cho nước ngoài và sản xuất hàng
xuất khẩu cao hơn thực tế tiêu hao đều tạo ra dư thừa nguyên liệu bán ở thị trường trong
nước nhằm trốn thuế.
d.
Các ví dụ điển hình về tình trạng trốn thuế
Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Q.K đang làm thủ tục nhập khẩu qua cảng Cát Lái
TP.Hồ Chí Minh. Theo khai báo của DN, hàng nhập khẩu gồm 2.580 bộ ống thủy tinh,
dùng cho máy nước nóng năng lượng mặt trời, trị giá trên 100 triệu đồng. Tuy nhiên,
trong quá trình kiểm tra toàn bộ lô hàng không đúng với khai báo hải quan. Thay vào đó
là 66 bộ máy điều hòa nhiệt độ, hiệu Panasonic, xuất xứ Malaysia, mới 100%; gần 8.000
lon sản phẩm dinh dưỡng Ensure loại nước và loại bột, trên sản phẩm không thể hiện xuất
xứ. Theo quy định, toàn bộ số hàng vi phạm nêu trên khi nhập khẩu phải có giấy phép tự
động của Bộ Công Thương và phải thực hiện kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm (đối với
sản phẩm dinh dưỡng). Thống kê ban dầu cho thấy, trị giá hàng vi phạm trên 1,1 tỉ đồng,
ẩn lậu thuế gần 450 triệu đồng.
trị lô hàng giầy Valentino là 1,8 tỷ đồng, nếu làm thủ tục trót lọt thì DN đã "né" được
khoản tiền thuế vài trăm triệu đồng.
Hải quan Lạng Sơn cho biết, một số DN lợi dụng chính sách ân hạn thuế 30 ngày theo
quy định của Luật Quản lý thuế để NK hàng hóa, sau đó bỏ trốn, trây ỳ không nộp phần
thuế đã kê khai. Một số DN lợi dụng chính sách không phải nộp khoản đảm bảo để tham
vấn đã không nộp số tiền thuế truy thu sau tham vấn. Sau khi kiểm tra sau thông quan,
nhiều DN đã không nộp bổ sung số tiền thuế ấn định, việc phát hiện xử lý sau thông quan
thường chậm do DN đã bán hết hàng, đã hạch toán chi phí và thậm chí không còn hoạt
động. Cùng gặp khó khăn tương tự, Hải quan Hà Tĩnh cho biết, trong quá trình thực hiện
Luật Thuế Xuất khẩu, thuế Nhập khẩu và các văn bản hướng dẫn còn tồn tại một số khó
khăn vướng mắc liên quan đến công tác thu đòi nợ thuế. Hiện Cục Hải quan Hà Tĩnh
đang theo dõi nợ thuế của 27 DN bỏ trốn khỏi địa chỉ kinh doanh để trốn thuế. Trong khi
đó, công tác đôn đốc, thu hồi nợ thuế đối với nhóm DN này gặp nhiều khó khăn, nhưng
chưa mang lại hiệu quả thiết thực. Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là các DN đã
lợi dụng chính sách về ân hạn thời hạn nộp thuế quy định tại Điều 15 Luật Thuế Xuất
khẩu, thuế Nhập khẩu, thực hiện xuất khẩu hàng hóa được nợ thuế rồi sau đó bỏ trốn.
3. Phát hiện và ngăn chặn hành vi trốn thuế
Những hình thức gian lận thuế NK phổ biến hiện nay có thể điểm qua như:
*Thứ nhất, thất thu thuế qua gian lận trị giá tính thuế; phân loại và áp mã hàng hóa;
Khai báo xuất xứ đối với hàng hóa XK, NK.
- Điều 7 Hiệp định chung về thương mại và thuế quan (GATT), đã tạo điều kiện thuận lợi
nhiều cho DN song trên thực tế nhiều DN đã lợi dụng chính sách đó để trốn, lậu thuế với
các hình thức như:
+ Khai giá thấp so với giá thực tế, khai sai tên hàng, sai kích thước của mặt hàng thực
nhập, gian lận trong hàng khuyến mại...
+ Lợi dụng việc được trừ các khoản được trừ: Đây chính là điểm để các DN lợi dụng tối
đa khoản được trừ để khai báo hải quan.
+ Chia nhỏ linh kiện, phụ tùng của sản phẩm nguyên chiếc để gian lận giá: Lợi dụng
máy quay phim, máy tính xách tay... Phương thức, thủ đoạn chủ yếu là cất giấu hàng hoá
trong người, trong hành lý; Tách bill, lợi dụng định mức miễn thuế, hàng quà biếu, quà
tặng để vận chuyển trái phép hàng lậu.
Tính đến tháng 6/2014, cơ quan hải quan đã phát hiện xử lý 8.915 vụ, trị giá hàng vi
phạm ước tính 168,904 tỷ đồng (tăng 14,3% so với cùng kỳ 2013); Khởi tố hình sự 6 vụ,
chuyển các cơ quan khác khởi tố 27 vụ; Thu nộp ngân sách nhà nước 59,652 tỷ đồng.
*Thứ ba, thất thu thuế với loại hình kinh doanh tạm nhập tái xuất.
Hoạt động kinh doanh tạm nhập tái xuất chủ yếu tạm nhập qua cảng Hải phòng, tái xuất
đi Trung quốc. Hiện các DN kinh doanh trong lĩnh vực này chủ yếu làm dịch vụ cho DN
Trung Quốc, cho nên thường xuyên bị động từ nguồn hàng, thanh toán, chi phí, thời
gian…
Cơ chế, chính sách quản lý và thủ tục hải quan đối với hàng kinh doanh tạm nhập - tái
xuất quá thoáng, nên đối tượng hoạt động kinh doanh tạm nhập tái xuất hàng hóa rộng.
Trong những mặt hàng tạm nhập tái xuất, có những mặt hàng có nguy cơ thẩm lậu cao
như: thuốc lá, rượu ngoại, bia. Cung đường vận chuyển lại dài, thời gian vận chuyển lâu,
trong khi đó công tác phối kết hợp giữa cửa khẩu nhập và cửa khẩu xuất có lúc, có nơi
chưa chặt chẽ, còn nhiều sơ hở, nên một số DN đã lợi dụng để bán hàng trong nội địa,
xuất hàng không đúng nơi được cho phép…
*Thứ tư, thất thu thuế qua lợi dụng hoạt động của các khu kinh tế phi thuế quan thuộc
khu kinh tế cửa khẩu.
Các DN hoạt động trong một số khu kinh tế cửa khẩu như Khu kinh tế cửa khẩu Mộc
Bài; Cầu Treo; Lao Bảo… được hưởng nhiều chính sách ưu đãi. Tuy nhiên, hoạt động
của các khu kinh tế này chưa phát triển theo đúng như kỳ vọng. Các DN còn có tâm lý
trông chờ, ỷ lại. Một số DN còn lợi dụng chính sách ưu đãi của nhà nước để gian lận
thương mại, trốn thuế như:
- Bán hàng không đúng tiêu chuẩn, đối tượng được miễn thuế; Cấu kết với DN bên ngoài
để giảm giá hàng khi bán hàng vào nội địa nhằm gian lận thuế; Đưa hàng từ khu phi thuế
quan xuất đi nước ngoài nhưng tiêu thụ tại nội địa; Tổ chức thu gom hàng mua miễn thuế
Những biện pháp cần đưa ra nhằm ngăn chặn nạn trốn thuế
Theo Tổng cục Hải quản, trong thời gian qua để kiểm soát tình trạng này, ngành Hải quan
tiếp tục hoàn thiện cơ sở chính sách để nâng cao hiệu quả quản lý như: sửa Luật Hải
quan, Luật Quản lý thuế theo hướng bổ sung quy định về phân loại hàng hóa, xác định trị
giá, xác định xuất xứ trước khi làm thủ tục hải quan. Đồng thời, sửa đổi quy định về điều
kiện phân loại trước, bảo đảm có thể phân loại trước các mặt hàng phức tạp, dễ lẫn nhằm
khắc phục các vướng mắc trong thời gian qua. Bên cạnh đó, xây dựng quy chế phối hợp
theo hướng phân định rõ trách nhiệm từng bộ phận, từng khâu nghiệp vụ, từng cá nhân,
đồng thời chỉ rõ điều kiện, cách thức phối hợp trong quá trình phân loại hàng hóa.
Ngoài ra, Tổng cục Hải quan cũng yêu cầu cục hải quan các tỉnh, thành phố thực hiện
một số giải pháp nhằm hạn chế các trường hợp lợi dụng sự thông thoáng của chính sách
để trốn thuế như: Rà soát các nguồn thu, tăng cường kiểm tra, kiểm soát hải quan, chống
buôn lậu, gian lận thương mại, phát hiện kịp thời các sai sót và các hành vi gian lận, trốn
thuế, đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thời cho ngân sách Nhà nước.
Đồng thời, có biện pháp quản lý, giám sát chặt chẽ việc kiểm tra hàng hóa xuất khẩu
ngăn ngừa hiện tượng quay vòng hàng hóa xuất khẩu, xuất khẩu khống; chủ động xây
dựng và thực hiện kế hoạch phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư, Cục Thuế, Công an,
Chi cục Quản lý thị trường địa phương… kịp thời đấu tranh, ngăn chặn có hiệu quả các
hành vi gian lận thuế qua hoạt động xuất nhập khẩu.
Bên cạnh đó, kiểm tra kỹ đối tượng, thủ tục hồ sơ, điều kiện miễn, giảm, hoàn thuế, phân
loại hàng hóa, xác định mức thuế, trị giá tính thuế theo đúng qui định. Những trường hợp
chưa rõ phải đề nghị người nộp thuế giải trình, bổ sung tài liệu vào hồ sơ. Đặc biệt chú
trọng tập trung kiểm tra các trường hợp kê khai miễn thuế hàng hóa nhập đầu tư, hoàn
thuế, các mặt hàng mới, dễ lẫn, có thay đổi tên, mức thuế suất thuế nhập khẩu, trị giá tính
thuế.
Ủy ban Tài chính - Ngân sách quốc hội cũng đã yêu phạt tăng lên 2-3 lần so với số tiền
thuế trốn, nếu khai thiếu sẽ bị tăng mức phạt lên 20% - gấp đôi hiện nay. Đối với DN nộp