VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐỖ VĂN TÍN
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
TỪ THỰC TIỄN TỈNH BÌNH THUẬN
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI - 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐỖ VĂN TÍN
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
TỪ THỰC TIỄN TỈNH BÌNH THUẬN
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 60 34 04 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS LÊ NGỌC HÙNG
HÀ NỘI - 2017
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung của luận văn theo quy định của
pháp luật.
Tác giả luận văn
Đỗ Văn Tín
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT ...................................................................7
1.1. Khái quát về chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật.....................................7
1.2. Khái niệm, vị trí, vai trò của việc thực hiện chính sách phổ biến, giáo dục
pháp luật ................................................................................................................22
1.3. Nội dung thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật ..........................................22
1.4. Quy trình thực hiện chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật ........................23
1.5. Các yếu tố tác động đến thực hiện chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật 27
Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHỔ BIẾN, GIÁO
DỤC PHÁP LUẬT TẠI TỈNH BÌNH THUẬN ....................................................30
2.1. Các yếu tố tác động đến thực hiện chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật 30
2.2. Thực trạng tổ chức thực hiện chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật.........41
2.3. Kết quả thực hiện chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật ..........................47
Chương 3: TĂNG CƯỜNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHỔ BIẾN, GIÁO
DỤC PHÁP LUẬT TẠI TỈNH BÌNH THUẬN ....................................................63
3.1. Quan điểm, mục tiêu tăng cường thực hiện chính sách phổ biến, giáo dục
pháp luật ................................................................................................................63
3.2. Giải pháp tăng cường thực hiện chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật ....64
KẾT LUẬN ..............................................................................................................70
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................71
PHỤ LỤC
Quy phạm pháp luật
TGPL:
Trợ giúp pháp lý
TTV:
Tuyên truyền viên
TVPL:
Tư vấn pháp luật
UBND:
Ủy ban nhân dân
XHCN:
Xã hội chủ nghĩa
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật 17
Hình 2.1: Bản đồ ranh giới hành chính tỉnh Bình Thuận .........................................30
Bảng 2.1: Số lượng Báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh tại các sở, ban, ngành, đoàn thể
cấp tỉnh từ năm 2014 đến năm 2016 .........................................................................35
Bảng 2.2: Số lượng Báo cáo viên pháp luật cấp huyện trên địa bàn tỉnh từ năm 2014
đến năm 2016 ............................................................................................................35
Tại tỉnh Bình Thuận, trong những năm qua công tác PBGDPL nhìn chung đã
được các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương quan tâm, đạt được nhiều kết quả
quan trọng, hầu hết các văn bản QPPL được phổ biến bằng nhiều hình thức phong
phú, phù hợp với từng đối tượng và địa bàn, từng bước đáp ứng nhu cầu tìm hiểu
pháp luật của đông đảo cán bộ và nhân dân. Từ đó, hiểu biết pháp luật và ý thức
1
chấp hành pháp luật của CBCC, viên chức và nhân dân từng bước được nâng lên.
Tuy nhiên, việc thực hiện chính sách PBGDPL trên địa bàn tỉnh Bình Thuận vẫn
còn bộc lộ những khó khăn, hạn chế ở nhiều mặt như về nhận thức, về nhân lực, về
kinh phí, về hình thức, nội dung, phương pháp thực hiện… Những khó khăn, hạn
chế trong triển khai thực hiện chính sách này đang đặt các cấp ủy Đảng, chính
quyền địa phương các cấp và đội ngũ những người làm công tác PBGDPL trước
những boăn khoăn, trăn trở và mong muốn tìm ra nguyên nhân cũng như những giải
pháp hiệu quả, đồng bộ để thực hiện tốt hơn công tác này trong thời gian tới.
Trong giai đoạn phát triển mới của đất nước nói chung và tại Bình Thuận nói
riêng, yêu cầu tăng cường, phát huy vai trò, hiệu lực của pháp luật theo tinh thần
Nghị quyết Đại hội XI và phát huy dân chủ XHCN theo tinh thần Nghị quyết Đại
hội XII của Đảng, đòi hỏi công tác PBGDPL phải thực sự có chuyển biến căn bản,
toàn diện. Chất lượng và hiệu quả thực hiện công tác PBGDPL chỉ được cải thiện
và tạo được sự chuyển biến khi công tác này được nhìn nhận và giải quyết một cách
khoa học từ thực tiễn và mang tính hệ thống, qua đó góp phần ngày càng hoàn thiện
chính sách PBGDPL. Xuất phát từ lý do đó, tác giả chọn đề tài “Thực hiện chính
sách phổ biến, giáo dục pháp luật từ thực tiễn tỉnh Bình Thuận” làm luận văn
thạc sĩ chuyên ngành Chính sách công.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Với vị trí và vai trò quan trọng trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp
quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, tăng cường pháp chế
xã, phường, thị trấn trên địa bàn thủ đô Hà Nội, đáng chú ý là tác giả phân tích yêu
cầu khách quan phải nâng cao chất lượng công tác PBGDPL tại cấp cơ sở.
- Nguyễn Quốc Sửu, Giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức
hành chính trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam [22]. Luận án trình bày khái niệm, vai trò và các đặc trưng của giáo dục pháp
luật cho đội ngũ CBCC hành chính. Qua đánh giá thực trạng giáo dục pháp luật, tác
giả đưa ra các quan điểm giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật cho đội
ngũ CBCC hành chính trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích của luận văn
3
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận về tổ chức thực hiện chính sách
công, luận văn tập trung phân tích thực trạng thực hiện chính sách PBGDPL tại tỉnh
Bình Thuận, từ đó đề xuất các quan điểm, mục tiêu và các giải pháp tăng cường
thực hiện chính sách PBGDPL nói chung và tại tỉnh Bình Thuận nói riêng.
3.2. Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:
Thứ nhất, hệ thống hóa và phân tích cơ sở lý luận, pháp lý về thực hiện chính
sách PBGDPL.
Thứ hai, khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng thực hiện chính sách
PBGDPL tại tỉnh Bình Thuận nhằm tìm ra những kết quả đạt được, những mặt hạn
chế, cũng như những kết luận về thực trạng thực hiện chính sách PBGDPL.
Thứ ba, đề xuất một số quan điểm, kiến nghị các giải pháp cơ bản góp phần
tăng cường thực hiện chính sách PBGDPL.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là việc thực hiện chính sách PBGDPL
chính sách PBGDPL nói riêng. Các kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm
sáng tỏ, bổ sung thêm những tư liệu nghiên cứu, kết quả khảo sát thực tế tại tỉnh
Bình Thuận, qua đó làm phong phú thêm luận cứ khoa học cho hệ thống lý luận,
pháp lý về thực hiện chính sách PBGDPL.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn chỉ ra những mặt đạt được cũng như những khó khăn, hạn chế
trong việc thực hiện chính sách PBGDPL. Các giải pháp, đề xuất trong luận văn góp
phần giải quyết vấn đề thực tiễn hiện nay trong việc tổ chức thực hiện chính sách
PBGDPL tại tỉnh Bình Thuận, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả công tác chỉ đạo,
điều hành, tham mưu và triển khai thực hiện công tác PBGDPL. Luận văn còn có
thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu về chính sách công nói
chung và chính sách PBGDPL nói riêng.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận
văn được cơ cấu thành 3 chương, gồm:
5
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách PBGDPL.
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách PBGDPL tại tỉnh Bình Thuận.
Chương 3: Tăng cường thực hiện chính sách PBGDPL.
6
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
1.1. Khái quát về chính sách PBGDPL
Theo James Anderson (2003): “Chính sách là một quá trình hành động có
mục đích mà một cá nhân hoặc một nhóm theo đuổi một cách kiên định trong việc
giải quyết vấn đề mà họ quan tâm”.
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể
để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Chính sách được thực hiện trong một thời gian
nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó. Bản chất nội dung và phương hướng
của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế,
văn hóa…”
Theo Vũ Cao Đàm: “Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa,
mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một
hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hướng
hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược
phát triển của một hệ thống xã hội” [8].
Như vậy, có thể hiểu chính sách là chương trình hành động do các nhà lãnh
đạo hoặc quản lý đề ra để giải quyết một hoặc một số vấn đề nào đó thuộc thẩm
quyền. Tác giả đồng tình với khái niệm về chính sách của Vũ Cao Đàm.
1.1.1.2. Khái niệm chính sách công
Khái niệm chính sách công là một trong những đối tượng nghiên cứu của
khoa học chính sách công. Tuy nhiên, do bị ảnh hưởng bởi những đặc điểm của thể
chế chính trị và hình thái nhà nước khác nhau nên cho đến nay có rất nhiều cách
định nghĩa khác nhau về chính sách công. Có thể nêu ra một số quan niệm sau:
Chính sách công bao gồm các hoạt động thực tế do chính phủ tiến hành
(Peter Aucoin, 1971).
Chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau của một
nhà chính trị hay một nhóm các nhà chính trị gắn liền với việc lựa chọn các mục
tiêu và các giải pháp để đạt các mục tiêu đó (William Jenkin, 1978).
Chính sách công là cái mà chính phủ lựa chọn làm hay không làm (Thomas
R. Dye, 1984).
8
hội”[36].
9
Theo Đỗ Phú Hải: “Chính sách công là một tập hợp các quyết định chính trị
có liên quan của Nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể với các giải pháp và
công cụ thực hiện giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác
định của đảng chính trị cầm quyền”[36].
Theo Lê Chi Mai (Học viện Hành chính Quốc gia) cho rằng: “Cho đến nay
trên thế giới, cuộc tranh luận về định nghĩa chính sách công vẫn là một chủ đề sôi
động và khó đạt được sự nhất trí rộng rãi” và “chính sách công có những đặc
trưng cơ bản nhất như: chủ thể ban hành chính sách công là Nhà nước; chính sách
công không chỉ là các quyết định (thể hiện trên văn bản) mà còn là những hành
động, hành vi thực tiễn (thực hiện chính sách); chính sách công tập trung giải quyết
các vấn đề đang đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội theo mục tiêu xác định; chính
sách công gồm nhiều quyết định chính sách có liên quan lẫn nhau”. Đồng thời, Lê
Chi Mai còn đưa ra khái niệm “chính sách tư” là các chính sách do các cơ quan, tổ
chức ban hành nhằm giải quyết những vấn đề nội bộ cơ quan, tổ chức và không có
hiệu lực thi hành bên ngoài phạm vi cơ quan, tổ chức.
Từ các quan niệm trên, chính sách công được Đặng Ngọc Lợi nhìn nhận
trong bài viết đăng trên Tạp chí Kinh tế và Dự báo (số tháng 01 năm 2002) như sau:
Trước hết, là một chính sách của nhà nước, của chính phủ (do nhà nước, do
chính phủ đưa ra), là một bộ phận thuộc chính sách kinh tế và chính sách nói chung
của mỗi nước. Thứ hai, về mặt kinh tế, chính sách công phản ánh và thể hiện hoạt
động cũng như quản lý đối với khu vực công, phản ánh việc đảm bảo hàng hóa, dịch
vụ công cộng cho nền kinh tế. Thứ ba, là một công cụ quản lý của nhà nước, được
nhà nước sử dụng để: Khuyến khích việc sản xuất, đảm bảo hàng hóa, dịch vụ công
cho nền kinh tế, khuyến khích cả với khu vực công và cả với khu vực tư; Quản lý
nguồn lực công một cách hiệu quả, hiệu lực, thiết thực đối với cả kinh tế, chính trị,
yếu mới chỉ dừng ở các văn bản dùng để chỉ đạo, hướng dẫn, đôn đốc thực hiện
PBGDPL, chưa có hành lang pháp lý cụ thể, rõ ràng nên việc triển khai PBGDPL
gặp nhiều khó khăn, nhất là thiếu cơ sở pháp lý để xác định trách nhiệm và cơ chế
phối hợp, huy động nguồn lực có hiệu quả giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp
và tư pháp cũng như các tổ chức chính trị - xã hội trong PBGDPL, chưa có cơ chế
pháp lý để thực hiện xã hội hóa hiệu quả công tác này theo quan điểm, chủ trương
của Đảng.
Cùng với quá trình phát triển của đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra
nhiều chủ trương, thể chế chính sách và pháp luật về công tác này như Chỉ thị số
02/1998/CT-TTg “về việc tăng cường công tác PBGDPL trong giai đoạn hiện
12
nay” và Quyết định số 03/1998/QĐ-TTg, ngày 07 tháng 01 năm 1998 của Thủ
tướng Chính phủ “về việc ban hành Kế hoạch triển khai công tác PBGDPL từ năm
1998 đến năm 2002 và thành lập Hội đồng phối hợp công tác PBGDPL”. Tiếp đó,
ngày 17 tháng 01 năm 2003, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số
13/2003/QĐ-TTg, phê duyệt Chương trình PBGDPL từ năm 2003- 2007. Để tiếp
tục đưa công tác PBGDPL lên một tầm cao mới, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, Ban Bí thư Trung
ương Đảng khóa IX đã ban hành Chỉ thị số 32-CT/TW, ngày 09 tháng 12 năm
2003 “về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác PBGDPL, nâng cao ý
thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân” (Chỉ thị số 32-CT/TW). Chỉ thị
thể hiện sự đổi mới về nhận thức của Đảng ta đối với công tác PBGDPL và yêu
cầu các cấp uỷ, tổ chức đảng các cấp, các ngành phải “xác định rõ PBGDPL là
một bộ phận của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, là nhiệm vụ của toàn bộ hệ
thống chính trị đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng và công tác PBGDPL cần được
tăng cường thường xuyên, liên tục” [1].
Để triển khai thực hiện Chỉ thị này, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số
Đảng và Nhà nước ta trong việc đẩy mạnh thực hiện chính sách PBGDPL, làm
chuyển biến nhận thức, từng bước nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ,
nhân dân, góp phần tăng cường pháp chế XHCN, quản lý xã hội bằng pháp luật
trong thời kỳ đổi mới.
Quy trình thực hiện hoạt động PBGDPL:
Một chính sách sau khi được thể chế hóa thành luật, sẽ chuyển đến các cơ
quan hành pháp để huy động các nguồn lực tài chính, nhân lực triển khai thực hiện.
Đây là một giai đoạn quan trọng mà chính sách công được đưa vào thực tiễn, thực
sự tác động đến đời sống xã hội nhằm đạt được các mục tiêu nhà nước đã đề ra.
Chính sách PBGDPL sau khi được thể chế hóa thành Luật PBGDPL, được
chuyển đến các cơ quan hành pháp từ Trung ương đến địa phương (Chính phủ, Thủ
tướng, các bộ, ban, ngành Trung ương có liên quan; HĐND, UBND, các sở, phòng,
ban các cấp) huy động các nguồn lực tài chính, nhân lực triển khai thực hiện. Theo
đó, quy trình thực hiện chính sách PBGDPL gồm những khâu sau: xây dựng kế
hoạch triển khai thực hiện; phổ biến, tuyên truyền chính sách; phân công phối hợp
14
thực hiện chính sách; duy trì chính sách; điều chỉnh chính sách; theo dõi, kiểm tra,
đôn đốc việc thực hiện chính sách và cuối cùng là đánh giá, tổng kết, rút kinh
nghiệm thực hiện chính sách.
1.1.2. Vấn đề của chính sách PBGDPL
Theo Đỗ Phú Hải thì: “Việc xác định vấn đề chính sách được bắt đầu bằng
cảm nhận vấn đề so với cấu trúc vấn đề, đó là cảm nhận về các trở ngại, khó khăn,
vướng mắc trong xã hội cần được giải quyết bằng chính sách hoặc các bất hợp lý
gây mâu thuẫn, mất cân bằng, mất ổn định về kinh tế, xã hội, tăng trưởng kinh tế
hoặc những nhu cầu trong tương lai cần đạt được bằng chính sách” [11].
Trước yêu cầu ngày càng cao và phức tạp của quản lý nhà nước và phục vụ
chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước đã đặt hoạt động thực thi chính
của quá trình đưa ra những quyết định liên quan đến lợi ích, cuộc sống của nhân
dân”. [9, tr.270].
1.1.4. Các nhóm giải pháp chính sách PBGDPL
Giải pháp về tổ chức và cán bộ làm công tác PBGDPL: Căn cứ nhu cầu công
tác PBGDPL, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ quyết định thành lập tổ
chức làm công tác PBGDPL trực thuộc Vụ Pháp chế thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ.
Ngoài việc thực hiện trách nhiệm quy định tại Điều 38 Luật PBGDPL, Bộ trưởng,
Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch
UBND các cấp có trách nhiệm bố trí đủ công chức làm công tác PBGDPL cho các
đối tượng đặc thù thuộc lĩnh vực, địa bàn quản lý; chỉ đạo các trường, cơ sở dạy
nghề thuộc phạm vi quản lý bố trí đủ giáo viên dạy môn giáo dục công dân, giáo
viên, giảng viên dạy pháp luật [6].
Giải pháp bảo đảm kinh phí PBGDPL: Kinh phí PBGDPL của các cơ quan,
tổ chức thụ hưởng ngân sách và Hội đồng phối hợp PBGDPL do ngân sách nhà
nước bảo đảm theo quy định tại Khoản 1, Điều 39 Luật PBGDPL. Việc lập dự toán
kinh phí được thực hiện theo quy định tại Khoản 2, Điều 39 Luật PBGDPL. Bộ Tài
chính chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp hướng dẫn việc quản lý, sử dụng và quyết
toán kinh phí bảo đảm cho công tác PBGDPL; quy định cụ thể về chế độ của BCV,
TTV pháp luật, người được mời tham gia PBGDPL và người làm công tác
PBGDPL cho các đối tượng đặc thù phù hợp với từng thời kỳ.
16
1.1.5. Chủ thể chính sách PBGDPL
Chủ thể của chính sách PBGDPL ở Việt Nam bao gồm Đảng Cộng sản Việt
Nam, Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và
các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức phi
chính phủ và các tổ chức, cá nhân trực tiếp hoặc gián tiếp hoạch định và thực thi
chính sách này.
biến, giáo dục pháp luật; chủ trì xây
dựng, trình Thủ tướng Chính phủ ban
17
Bộ Tư pháp
hành chương trình, kế hoạch dài hạn,
trung hạn về phổ biến, giáo dục pháp
luật; chủ trì xây dựng cơ sở dữ liệu
quốc gia về pháp luật.
Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn
của mình có trách nhiệm phối hợp với
Bộ Tư pháp thực hiện quản lý nhà
Các bộ, cơ quan ngang bộ
nước về phổ biến, giáo dục pháp luật.
UBND các cấp có trách nhiệm thực
hiện quản lý nhà nước về phổ biến,
Địa phương
Ủy ban nhân dân
giáo dục pháp luật tại địa phương.
Nguồn: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật số 14/2012/QH13, ngày 20/6/2012
Các cá nhân có trách nhiệm về công tác PBGDPL bao gồm: