Quản lý Nhà nước về Trợ giúp pháp lý từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh - Pdf 46

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ VĂN THẮNG

QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ VĂN THẮNG

QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Luật Hành chính và Luật Hiến pháp
Mã số: 60.38.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. TRẦN KIM LIỄU

HÀ NỘI - 2017



MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI
VỚI HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP PHÁP LÝ ............................................................7
1.1. Khái niệm, đặc điểm của quản lý Nhà nước đối với hoạt động trợ giúp pháp
lý .............................................................................................................................7
1.2. Vai trò của quản lý nhà nước với hoạt động trợ giúp pháp lý .......................15
1.3. Nội dung quản lý nhà nước đối với hoạt động trợ giúp pháp lý ....................17
1.4. Chủ thể quản lý nhà nước đối với hoạt động trợ giúp pháp lý ......................23
1.5. Các yếu tố tác động đến quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý .....................28
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG
TRỢ GIÚP PHÁP LÝ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ...............................32
2.1. Các yếu tố đặc thù về vị trí địa lý, kinh tế - xã hội của thành phố Hồ Chí
Minh ảnh hưởng đến hoạt động quản lý nhà nước về Trợ giúp pháp lý ở thành
phố Hồ Chí Minh ..................................................................................................32
2.2. Thực trạng pháp luật về quản lý nhà nước đối với hoạt động trợ giúp pháp lý
...............................................................................................................................33
2.3. Thực trạng về công tác tổ chức bộ máy quản lý nhà nước đối với hoạt động
trợ giúp pháp lý ở thành phố Hồ Chí Minh ..........................................................37
Chƣơng 3: GIẢI PHÁP TĂNG CƢỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI
HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP PHÁP LÝ ...................................................................60
3.1. Các quan điểm tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động trợ
giúp pháp lý ..........................................................................................................60
3.2. Những giải pháp hoàn thiện pháp luật về trợ giúp pháp lý............................61
3.3. Những giải pháp hoàn thiện cơ cấu, tổ chức của chủ thể quản lý trợ giúp
pháp lý tại thành phố Hồ Chí Minh ......................................................................64
3.4. Một số giải pháp khác ....................................................................................66
KẾT LUẬN ..............................................................................................................68

Trợ giúp pháp lý

TGVPL

Trợ giúp viên pháp lý

THPL

Thi hành pháp luật

TTHC

Thủ tục hành chính

UBND

Ủy ban nhân dân

XHCN

Xã hội chủ nghĩa


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1: Mô hình bộ máy QLNN về TGPL ...........................................................24
Bảng 2.1: Mô hình tổ chức bộ máy hoạt động của Sở Tư pháp TP. Hồ Chí Minh. .39
Bảng 2.2: Mô hình cơ cấu, tổ chức Trung tâm TGPL thành phố Hồ Chí Minh. .....41





như của người nghèo là cần thiết đối với việc duy trì trật tự pháp luật, do đó, cần
phải tư vấn và đại diện pháp lý phù hợp cho những người mà cuộc sống, tài sản, tự
do, danh dự bị đe doạ nhưng không có khả năng chi trả dịch vụ pháp lý…".[69]
Ở Việt Nam năm 1997, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định số 734/TTg ngày
06/9/1997 thành lập hệ thống tổ chức trợ giúp pháp lý cho người nghèo, đối tượng
chính sách. Năm 2006, Quốc hội khóa 11 đã thông qua Luật Trợ giúp pháp lý đã tạo
cơ sở pháp lý cho việc hình thành và hoàn chỉnh hệ hoạt động trợ giúp pháp lý tại
Việt Nam. Tại thành phố Hồ Chí Minh, ngày 21/9/1998, Ủy ban nhân dân thành
phố Hồ Chí Minh đã ra quyết định số 4899/QĐ-UBND về việc thành lập Trung tâm
trợ giúp pháp lý của Nhà nước với nhiệm vụ thực hiện trợ giúp pháp lý trên địa bàn
thành phố Hồ Chí Minh. Từ đó đến nay, quy mô tổ chức và chất lượng vụ việc ngày
một hoàn thiện hơn.
Mặc dù vậy, trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng
xã hội chủ nghĩa hiện nay ở nước ta, khi mà sự phân hóa giàu nghèo diễn ra một
cách sâu sắc, các chủ thể được trợ giúp pháp lý ngày càng khó tiếp cận các dịch vụ
pháp lý thì hoạt động trợ giúp pháp lý trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh vẫn chưa
đạt được mục đích đã đề ra. Nguyên nhân xuất phát từ hệ thống pháp luật về trợ
giúp pháp lý vẫn còn nhiều bất cập, nhất là về vị trí, vai trò của trợ giúp viên pháp
lý trong hoạt động tố tụng, gây cản trở trong quá trình tác nghiệp của đội ngũ này.
Việc thu hút người thực hiện trợ giúp pháp lý và tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý
tham gia hoạt động này vẫn còn yếu. Đồng thời, hệ thống cơ quan Quản lý Nhà
nước về trợ giúp pháp lý chưa được sắp xếp, quy định một cách cụ thể, đội ngũ
quản lý còn yếu kém.
Xuất phát từ những nguyên nhân trên, tôi cho rằng nghiên cứu vấn đề về hoạt
động quản lý nhà nước đối với hoạt động trợ giúp pháp là cần thiết nhằm góp phần
nâng cao năng lực quản lý nhà nước và thực hiện trợ giúp pháp lý trên địa bàn thành
phố Hồ Chí Minh nói riêng cũng như cả nước nói chung. Hơn nữa, thực hiện tốt vấn
đề trợ giúp pháp lý là nhằm đảm bảo quyền được bảo vệ của công dân trước pháp

- Luận văn “Hoạt động trợ giúp pháp lý tại thành phố Hồ Chí Minh và một
số kiến nghị” của tác giả Lê Thị Diệu. Tác giả cũng đã đưa ra các cơ sở lý luận kết
3


hợp với thực trạng phát triển TGPL ở thành phố Hồ Chí Minh để đưa ra các giải
pháp nhằm hoàn thiện hoạt động trợ giúp pháp lý ở thành phố Hồ Chí Minh.
- Luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện pháp luật về người thực hiện Trợ giúp pháp
lý ở Việt Nam” của tác giả Vũ Hồng Tuyến. Tác giả đã đưa ra các cơ sở lý luận,
hoạt động của người trợ giúp pháp lý ở Việt Nam để từ đó đưa ra các giải pháp
nhằm hoàn thiện các quy định về người trợ giúp phá lý ở Việt Nam.
- Luận văn thạc sĩ “Trợ giúp pháp lý từ thực tiễn tỉnh Ninh Bình” của tác giả
Ngô Thị Lý. Tác giả đã nêu ra cơ sở lý luận, các quy định pháp luận liên quan đến
trợ giúp pháp lý kết hợp với việc nghiên cứu thực tiễn trợ giúp pháp lý ở tỉnh Ninh
Bình để từ đó đưa ra các giải pháp nhằm hàn thiện công tác Trợ giúp pháp lý nói
chung và ở tỉnh Ninh Bình nói riêng.
- Luận văn thạc sĩ “Các giải pháp nâng cao hiệu quả họa động trợ giúp pháp
lý” của tác giả Nguyễn Bích Ngọc. Tác giả đã tập trung vào việc nghiên cứu và
đánh giá quá trình tổ chức và hoạt động trợ giúp pháplý ở Việt Nam trong thời gian
qua rồi từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện.
Các đề tài, bài báo nghiên cứu liên quan: Đỗ Xuân Lân với “Chuyên viên
trợ giúp pháp lý với việc đại diện, bào chữa trước Toà án”; Tạ Thị Minh Lý với
“Bàn về khái niệm trợ giúp pháp lý” và “Chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý”,...
Ngoài ra, cũng có đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ mã số 96-98-034/ĐT: “Mô
hình tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý, phương hướng thực hiện trong điều
kiện hiện nay” của Viện nghiên cứu khoa học pháp lý (Bộ Tư pháp).
Điểm chung của các công trình nghiên cứu trên là chưa nghiên cứu hoạt
động TGPL dưới góc độ quản lý nhà nước, nếu có đề cập cũng chỉ một phần của
hoạt động quản lý nhà nước. Tuy nhiên, để nghiên cứu và thực hiện đề tài này thì
cần phải kế thừa, vận dụng những kết quả nghiên cứu của các công trình nêu trên.

học Mácxit về chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng. Đồng
thời, tác giả còn sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê thu thập được
trên Internet, sách, báo, tạp chí,…để giải quyết các nhiệm vụ nhằm đạt được mục
đích của luận văn đặt ra.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về khoa học: Có giá trị tham khảo đối với nghiên cứu giảng dạy về TGPL.
5


Về thực tiễn: Giải pháp có ý nghĩa đối với các cơ quan thực thiện hoạt động
trợ giúp pháp lý.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục,
luận văn được chia thành 3 chương:
Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận về quản lý nhà nước đối với hoạt động trợ
giúp pháp lý.
Chƣơng 2: Thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động trợ giúp pháp lý
tại thành phố Hồ Chí Minh.
Chƣơng 3: Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động trợ
giúp pháp lý.

6


Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ
NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP PHÁP LÝ
1.1. Khái niệm, đặc điểm của quản lý Nhà nƣớc đối với hoạt động trợ
giúp pháp lý
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm trợ giúp pháp lý

Theo nghĩa rộng: TGPL được hiểu là sự giúp đỡ miễn phí của Nhà nước và
xã hội cho người nghèo, đối tượng chính sách và đồng bào dân tộc thiểu số tiếp cận
với các dịch vụ pháp lý (tư vấn pháp luật, đại diện, bào chữa), nhằm bảo đảm cho
mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật và thực hiện công bằng xã hội [61].
Theo nghĩa hẹp: TGPL được hiểu là việc thực hiện các dịch vụ pháp lý miễn
phí của các tổ chức TGPL cho người nghèo và người được hưởng chính sách ưu đãi
và một số đối tượng khác [62]. Ngoài ra cũng có quan niệm cho rằng TGPL là việc
giúp đỡ pháp luật miễn phí cho người nghèo và đối tượng được hưởng chính sách
ưu đãi của Nhà nước để họ có điều kiện tiếp cận, sử dụng pháp luật bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của mình [65].
Qua các khái niệm được ghi nhận trong các văn bản pháp luật của các nước,
cũng như các khái niệm đang tồn tại ở nước ta có thể nhận thấy, TGPL được hiểu là
sự giúp đỡ về mặt pháp lý, bằng nhiều hình thức khác nhau, của Nhà nước và xã hội
cho những người không có khả năng chi trả cho các chi phí pháp lý.
TGPL, trước hết về mặt ngữ nghĩa thì “trợ giúp” là sự giúp đỡ, hỗ trợ, giúp
cho ai việc gì, đem cho ai cái gì trong lúc khó khăn, đang cần đến [64] hoặc cũng có
thể là giúp để làm giảm bớt khó khăn, nghĩa là làm cho một ai đó một việc mà
người đó đang cần [37]. Còn thuật ngữ “pháp lý” được hiểu là lý lẽ, lẽ phải theo
pháp luật nói một cách khái quát; pháp lý là lý luận, luận điểm cơ bản đối với pháp
luật của một chế độ [51]. Trong điều kiện hiện nay, pháp luật là hệ thống các quy
phạm do Nhà nước ban hành để quản lý xã hội. Mọi người dân phải lấy pháp luật
làm chuẩn mực để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Theo hướng tiếp cận này,
TGPL là sự giúp đỡ thực hiện một việc, hay nói cách khác là cung cấp một dịch vụ
pháp lý cho những người đang cần sự giúp đỡ về mặt pháp lý bảo vệ các quyền và
lợi ích của mình theo quy định của pháp luật.
8


Qua phân tích ở trên, trợ giúp pháp lý được hiểu là việc nhà nước, tổ chức và
cá nhân thực hiện cung cấp các dịch vụ pháp lý miễn phí hoặc giảm phí qua các

thế) được thụ hưởng một dịch vụ pháp lý từ chuyên gia pháp luật mà không phải chi
trả tài chính hoặc chi trả khoản tài chính thấp hơn mức bình thường.
Hai là, việc cung cấp dịch vụ pháp lý này nhằm mục đích giúp người được
TGPL bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý
thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần vào việc phổ biến, giáo dục pháp
luật, bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và
vi phạm pháp luật.
Ba là, dịch vụ pháp lý này được thực hiện xuất phát từ trách nhiệm của Nhà
nước đối vối công dân, đặc biệt là những người trong tình trạng không thể tự bảo vệ
mình, nhưng cũng có thể xuất phát từ trách nhiệm của xã hội đối với thành viên của
cộng đồng. Ngoài ra, trách nhiệm nghề nghiệp, của những cá nhân có khả năng
chuyên môn cũng thực hiện TGPL như là sự đóng góp cho xã hội.
Bốn là, Trợ giúp pháp lý là hoạt động không mang tính quyền lực nhà nước,
không mang tính lợi nhuận nên khác với hoạt động quản lý hành chính thông
thường và khác với hoạt động dịch vụ tư vấn – đó chính là tính nhân văn trong vai
trò của Nhà nước.
1.1.2. Khái niệm và đặc điểm của quản lý nhà nước đối với hoạt động trợ
giúp pháp lý
1.1.2.1. Khái niệm quản lý nhà nước đối với hoạt động trợ giúp pháp lý
Trong xã hội có nhiều kiểu quản lý khác nhau và kiểu quản lý nào cũng quan
trọng. Song vai trò quản lý của Nhà nước và sự quản lý của nó thì quản lý nhà nước
đối với các quá trình phát triển xã hội đã nổi lên, chiếm một vị trí đặc biệt quan
trọng. Quản lý nhà nước là sự biểu hiện khả năng mà xã hội có thể sử dụng để tổ
chức và điều chỉnh cuộc sống của mình. Trong tác phẩm “Bàn về quyền uy”,
Ph.Ăngghen đã viết: “Muốn tiêu diệt quyền uy trong đại công nghiệp, chính là
muốn tiêu diệt ngay cả bản thân công nghiệp, chính là tiêu diệt nhà máy sợi để quay
để về với cái xa kéo sợi” [35].
Quản lý nhà nước được hiểu theo hai nghĩa [63]:

10

11


hành pháp luật nhằm thực hiện trong cuộc sống hàng ngày các chức năng của nhà
nước đối với hoạt động TGPL.
1.1.2.2. Đặc điểm của quản lý nhà nước đối với hoạt động trợ giúp pháp lý
Quản lý nhà nước trong hoạt động TGPL cũng có những đặc điểm chung của
QLNN, đó là tính tổ chức và điều chỉnh; tính quyền lực nhà nước; tính khoa học;
tính kế hoạch và tính liên tục. Tuy nhiên, QLNN đối với hoạt động TGPL cũng có
những đặc điểm riêng nhằm khẳng định vị trí và vai trò của nó đối với sự phát triển
của xã hội, đó là:
- Chủ thể QLNN về hoạt động Trợ giúp pháp lý được tiến hành bởi các cơ
quan nhà nước có thẩm quyền. Ở cấp trung ương, đó là Chính phủ, Bộ Tư pháp (có
cơ quan giúp việc là Cục TGPL), UBND cấp tỉnh và cấp huyện, Sở Tư pháp và
phòng Tư pháp.
Theo Điều 40, Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 quy định như sau: Chính phủ
thống nhất quản lý nhà nước về TGPL. Bộ Tư pháp là cơ quan đầu mối giúp Chính
phủ thực hiện quản lý nhà nước về TGPL và có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: Chủ
trì xây dựng, ban hành hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn
bản quy phạm pháp luật về TGPL; Xây dựng, ban hành hoặc trình cơ quan có thẩm
quyền ban hành chiến lược, kế hoạch phát triển TGPL và tổ chức triển khai thực
hiện; Ban hành các quy định hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ, mẫu giấy tờ
trong hoạt động TGPL; tiêu chí xác định vụ việc TGPL phức tạp, điển hình; thực
hiện chế độ báo cáo, thống kê về trợ giúp pháp lý; Hướng dẫn, tổ chức và theo dõi
việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về TGPL; Tổ chức đào tạo, bồi
dưỡng, tập huấn kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ cho người thực hiện TGPL; Tổ
chức công tác truyền thông về TGPL và việc thẩm định, đánh giá chất lượng vụ việc
TGPL; Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện hoạt động TGPL; khen thưởng, kỷ luật và
xử lý vi phạm trong hoạt động TGPL; Tiếp nhận hỗ trợ, đóng góp của tổ chức, cá
nhân cho công tác TGPL; Thực hiện hợp tác quốc tế về trợ giúp pháp lý. Bộ, cơ

được thực hiện thông qua nhiều hình thức khác nhau, đó là:
+ Hoạt động TGPL miễn phí cho người được TGPL do hệ thống TGPL của
nhà nước thực hiện dựa trên quy định của Luật TGPL. Đây là hoạt động mà xét về
bản chất là sự giúp đỡ pháp luật miễn phí mà Nhà nước dành cho các đối tượng nhất
13


định (gồm người nghèo, người có công với cách mạng, người già cô đơn, người tàn
tật và trẻ em không nơi nương tựa; người dân tộc thiểu số thường trú ở vùng có điều
kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn) đối với các dịch vụ pháp lý như dịch vụ tư
vấn pháp luật, dịch vụ thuê luật sư đại diện, bào chữa,...
+ Hoạt động bào chữa miễn phí của luật sư, bào chữa viên nhân dân và người
đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo theo quy định tại Điều 57, Bộ
Luật Tố tụng Hình sự. Quy định nhằm bảo vệ quyền của bị can, bị cáo về tội theo
khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình được quy định tại Bộ Luật Hình sự, bị
can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể
chất. Trong những trường hợp này, người thụ hưởng không phải trả một khoản tiền
thù lao nào cho người bào chữa mà trách nhiệm thuộc về nhà nước.
+ Hoạt động tư vấn pháp luật, giải thích pháp luật của cán bộ, công chức khi
công dân yêu cầu để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của họ. Hơn nữa, trong phạm
vi chức năng, nhiệm vụ của mình, Nhà nước còn phải có trách nhiệm phổ biến,
tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho nhân dân.
+ Các luật sư và tổ chức hành nghề luật sư trong quá trình hành nghề của
mình thực hiện việc miễn hoặc giảm thù lao cho thân chủ là người nghèo,…
+ Hoạt động tư vấn pháp luật miễn phí hoặc giảm phí của các tổ chức chính
trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội-nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, cơ sở
đào tạo, cơ sở nghiên cứu chuyên ngành luật theo quy định tại Nghị định số
77/2008/NĐ-CP của Chính phủ ngày 16/7/2008 về tư vấn pháp luật.
+ Hoạt động trả lời pháp luật trên đài, báo, hộp thư công dân, giải đáp pháp
luật trên các phương tiện thông tin đại chúng khác cũng mang tính chất giúp đỡ về

734/TTg về việc thành lập hệ thống tổ chức TGPL cho người nghèo, đối tượng
chính sách, TGPL tồn tại dưới hình thức “tư pháp bảo trợ”, tập trung ở quyền bào
chữa cho bị can, bị cáo tại phiên tòa và chủ yếu do đội ngũ luật sư thực hiện, các
văn bản quy định về hình thức này rất ít, chủ yếu tồn tại dưới dạng một quy định
nhỏ trong các văn bản pháp luật. Nên hoạt động TGPL chưa thực sự giúp bảo vệ
quyền lợi cho người được TGPL. Trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường
theo định hướng XHCN hiện nay ở nước ta, vai trò QLNN đối với hoạt động TGPL
được đặt ra một cách cấp thiết hơn bao giờ hết.
15


Trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN
hiện nay, có mặt tích cực là thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển nhưng có mặt tiêu
cực là làm gia tăng sự phân hoá giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư, các vùng lãnh
thổ và các nhóm xã hội. Khoảng cách giàu nghèo về kinh tế tất yếu dẫn đến sự bất
bình đẳng trong việc tiếp cận với các điều kiện giáo dục, y tế, văn hoá,...và đặc biệt
là trong việc tiếp cận với dịch vụ pháp lý. Người nghèo thường không có điều kiện
về kinh tế để tiếp cận với các loại dịch vụ pháp lý có thu phí, nên trong nhiều
trường hợp không được tư vấn pháp luật hoặc không mời được luật sư bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm hại. Mặt khác, trong điều kiện hệ thống
pháp luật nước ta đang trong quá trình phát triển và hoàn thiện, số lượng văn bản
pháp luật ngày càng nhiều và thường xuyên được sửa đổi, bổ sung thì việc người
dân tiếp cận với pháp luật để nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật, để xử sự phù
hợp với pháp luật trong các quan hệ xã hội hàng ngày không phải dễ dàng. Do đó,
vai trò QLNN đối với hoạt động TGPL càng được thể hiện một cách rõ nét ở các
khía cạnh sau:
Thứ nhất, nhà nước có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo công bằng
trong việc hưởng các dịch vụ pháp lý. Nền kinh tế thị trường theo định hướng
XHCN có mặt tích cực là thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển nhưng có mặt tiêu cực
là làm gia tăng sự phân hoá giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư, các vùng lãnh thổ

1.3.1. Xây dựng và ban hành quyết định quản lý nhà nước về chiến lược,
kế hoạch phát triển trợ giúp pháp lý, các quyết định quy phạm và quyết định tổ
chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật
Để thực hiện các nhiệm vụ và chức năng QLNN, các chủ thể quản lý sử dụng
nhiều hình thức hoạt động khác nhau, nhưng hình thức cơ bản và quan trọng nhất là
hoạt động xây dựng và ban hành quyết định QLNN. Hoạt động ban hành quyết định
QLNN chiếm vị trí trung tâm trong hoạt động quản lý, bởi vì hầu hết mọi hình thức
hoạt động quản lý khác đều trực tiếp hoặc gián tiếp phục vụ cho hoạt động xây
dựng và ban hành các loại quyết định QLNN, hoặc là để tổ chức thực hiện các quyết
định đó. Quyết định QLNN là phương tiện không thể thiếu và chủ yếu mà các chủ

17


thể quản lý sử dụng để thực hiện hầu hết các nhiệm vụ, chức năng quản lý. Theo
tính pháp lý, quyết định QLNN được phân thành ba loại [63]:
- Quyết định QLNN chủ đạo là loại quyết định đề ra chủ trương, đường lối,
nhiệm vụ, chính sách, các biện pháp lớn có tính chất chung, là công cụ định hướng
chiến lược trong việc thức hiện chức năng lãnh đạo của QLNN.
- Quyết định QLNN quy phạm là loại quyết định làm thay đổi hệ thống quy
phạm pháp luật hành chính. Quyết định quy phạm có vai trò như là công cụ cơ bản
để thực hiện các nhiệm vu, chức năng QLNN, thiết lập trật tự, định “khuôn khổ”
cho việc thực hiện các hoạt động điều hành cụ thể.
- Quyết định QLNN cá biệt, mà còn có thể gọi là “quyết định hành chính”,
có chức năng làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt các quan hệ pháp luật cụ thể
(tức là các quyền và nghĩa vụ cụ thể của các chủ thể cụ thể).
Ở nước ta, trong hoạt động TGPL, để triển khai thực hiện các chủ trương,
chiến lược của Đảng, Luật TGPL của Quốc hội, các cơ quan QLNN đã ban hành
một loạt các văn bản quyết định quản lý nhà nước. Đó có thể là quyết định quản lý
nhà nước chủ đạo dưới dạng quyết định của Thủ tướng Chính phủ nhằm nêu lên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status