Quản lý nhà nước đối với tổ chức phi chính phủ trong lĩnh vực giáo dục từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh - Pdf 46

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN ĐÌNH TĂNG

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ
TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN ĐÌNH TĂNG

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ
TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 60.38.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN THỊ VIỆT HƯƠNG


MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUẢN
LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ TRONG LĨNH
VỰC GIÁO DỤC............................................................................................. 8
1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của quản lý nhà nước đối với tổ chức phi
chính phủ trong lĩnh vực giáo dục ................................................................. 8
1.2. Nội dung quản lý nhà nước đối với tổ chức phi chính phủ trong lĩnh
vực giáo dục ................................................................................................. 15
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý nhà nước đối với tổ chức
Phi chính phủ trong lĩnh vực giáo dục ......................................................... 21
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI TỔ
CHỨC PHI CHÍNH PHỦ TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC TẠI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH .................................................................... 27
2.1. Một số yếu tố đặc thù của thành phố Hồ Chí Minh có tác động đến quản
lý nhà nước đối với tổ chức phi chính phủ trong lĩnh vực giáo dục............... 27
2.2. Thực trạng quản lý nhà nước đối với tổ chức phi chính phủ trong lĩnh
vực giáo dục tại thành phố Hồ Chí Minh..................................................... 32
2.3. Đánh giá chung về thực trạng quản lý nhà nước đối với tổ chức phi
chính phủ trong lĩnh vực giáo dục tại thành phố Hồ Chí Minh ................... 45
Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ
TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ
CHÍ MINH ..................................................................................................... 54
3.1. Quan điểm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với tổ chức phi
chính phủ trong lĩnh vực giáo dục từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh .... 54


3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với tổ chức phi
chính phủ trong lĩnh vực giáo dục từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh .... 57
KẾT LUẬN .................................................................................................... 74


XHCN:

Xã hội chủ nghĩa


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, trên thế giới, các tổ chức phi chính phủ (PCP) đã trở thành
một nhân tố quan trọng hoạt động trên nhiều lĩnh vực, nhất là lĩnh vực cứu trợ
nhân đạo và phát triển xã hội. Trong thời gian qua, các tổ chức PCP đã phát
triển rất mạnh mẽ, trở thành một hiện tượng có tính toàn cầu đến mức người
ta đã nói tới một “cộng đồng PCP” mà quan hệ đối ngoại của các quốc gia cần
phải tính đến. Trong quá trình phát triển xã hội bên cạnh nỗ lực của các chính
phủ và tổ chức quốc tế, các tổ chức PCP cũng đã góp một phần công sức đáng
kể nhằm cải thiện cuộc sống của những người nghèo và những người bị thiệt
thòi trong xã hội. Vai trò của các tổ chức PCP ngày càng được khẳng định, sự
tham gia của họ trên các diễn đàn về kinh tế, xã hội và phát triển ngày một
tăng. Tiếng nói của các tổ chức PCP đối với các vấn đề thuộc mối quan tâm
chung của cộng đồng quốc tế ngày càng được các nước và các tổ chức quốc tế
lớn như Liên hợp quốc (UN), Chương trình phát triển của Liên hợp quốc
(UNDP) và đặc biệt các tổ chức ngân hàng, tài chính thế giới như Ngân hàng
thế giới (WB) và Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) quan tâm. Chính phủ nhiều nước
ngày càng nhận thức sâu sắc hơn về vai trò và ảnh hưởng của các tổ chức PCP,
tăng cường thông qua các tổ chức PCP triển khai các dự án viện trợ nhằm
thực hiện chính sách đối ngoại của mình.
Việt Nam có quan hệ với các tổ chức PCP từ khá lâu và trên nhiều lĩnh
vực như cứu trợ thiên tai, y tế, giáo dục đào tạo, trao đổi văn hóa và kỹ thuật,
xóa đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường… Mức độ tham gia của các tổ chức
này vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam ngày càng trở nên

công tác quản lý đối với tổ chức PCP trong lĩnh vực này tại thành phố; tổ
chức bộ máy quản lý đối với tổ chức PCP chưa được kiện toàn; nhân sự chưa
đảm bảo tính chuyên môn nghiệp vụ; cơ chế quản lý chưa thống nhất từ trung
2


ương đến địa phương, đặc biệt là chưa có cơ chế quản lý đặc thù cho
TP.HCM nhằm quản lý đối với tổ chức PCP nói chung và đối với tổ chức
PCP trong lĩnh vực giáo dục nói riêng tại thành phố một cách hiệu quả nhất…
Vì những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài: “Quản lý nhà nước đối với
tổ chức phi chính phủ trong lĩnh vực giáo dục từ thực tiễn thành phố Hồ
Chí Minh” là cần thết, có ý nghĩa cả về lý luận lẫn thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong thời gian qua có một số công trình nghiên cứu công tác QLNN
đối với tổ chức phi chính phủ và nghiên cứu về vấn đề QLNN trên lĩnh vực
giáo dục, điển hình như:
- Đề tài khoa học cấp Bộ “Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác
QLNN đối với hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài trên địa
bàn thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Phạm Ngọc Phương, năm 2008.
- Đề tài khoa học cấp cơ sở “Thực trạng viện trợ của Hoa Kỳ với Việt
Nam – Những vấn đề đặt ra cho công tác QLNN” của tác giả Ngô Nhất Phong,
năm 2005.
- Luận văn thạc sĩ “Những vấn đề phức tạp về an ninh, trật tự trên lĩnh
vực giáo dục đào tạo của cộng đồng người Hoa ở TP.HCM - thực trạng và
giải pháp” của tác giả Nguyễn Thành Phương, năm 2009.
- Luận văn thạc sĩ “Công tác đảm bảo an ninh trật tự trên lĩnh vực giáo
dục đào tạo tại Đồng Nai – Thực trạng và giải pháp” của tác giả Nguyễn Văn
Chung, năm 2011.
- Luận văn thạc sĩ “Hợp tác Việt Nam – Hòa Kỳ trên lĩnh vực giáo dục
và đào tạo ở thành phố Hồ Chí Minh - những vấn đề đặt ra đối với công tác

- Đề xuất và lập luận thuyết phục về các giải pháp nâng cao hiệu quả
QLNN đối với tổ chức phi chính phủ trong lĩnh vực giáo dục từ thực tiễn
thành phố Hồ Chí Minh.
4


4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Hiện nay, trên địa bàn TP.HCM có rất nhiều tổ chức PCP gồm các tổ
chức PCP nước ngoài hoặc các hội, quỹ từ thiện đọc thành lập tại Việt Nam....
Ngoài ra, còn có các quỹ tín thác, các Trung tâm liên kết và các tổ chức quốc
tế mang nhiều quốc tịch khác nhau hoạt động tài trợ trong lĩnh vực giáo dục.
Tuy nhiên, trong phạm vi đề tài chỉ tập trung nghiên cứu các tổ chức phi
chính phủ nước ngoài (PCPNN) có dự án tài trợ trong lĩnh vực giáo dục tại
TP.HCM hiện nay.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ tập trung vào nội dung QLNN đối với các tổ chức PCP được
cấp phép hoặc có dự án đã được phê duyệt thực hiện trên địa bàn TP.HCM từ
đầu năm 2011 đến hết năm 2016.
Ngoài ra, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu các tổ chức PCP hoạt động
trong những lĩnh vực được pháp luật nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam
cho phép, cụ thể là lĩnh vực giáo dục chứ không nghiên cứu các tổ chức PCP
hoạt động trên các lĩnh vực khác như y tế, môi trường, tôn giáo, nhân quyền,
môi giới con nuôi….
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để xem xét các vấn đề liên quan một cách
khách quan, toàn diện.
Quan điểm tiếp cận nghiên cứu đề tài là những luận điểm về QLNN ở

văn có kết cấu 3 chương, cụ thể như sau:

6


Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về quản lý nhà nước đối
với tổ chức phi chính phủ trong lĩnh vực giáo dục.
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước đối với tổ chức phi chính phủ
trong lĩnh vực giáo dục tại thành phố Hồ Chí Minh.
Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà
nước đối với tổ chức phi chính phủ trong lĩnh vực giáo dục từ thực tiễn thành
phố Hồ Chí Minh.

7


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ
TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC
1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của quản lý nhà nước đối với tổ
chức phi chính phủ trong lĩnh vực giáo dục
1.1.1. Khái niệm quản lý nhà nước đối với tổ chức phi chính phủ
trong lĩnh vực giáo dục
Để nghiên cứu chuyên sâu và làm rõ hơn khái niệm QLNN đối với tổ
chức PCP trong lĩnh vực giáo dục, trước hết cần phải nghiên cứu khái niệm tổ
chức PCP đồng thời làm rõ thuật ngữ “Quản lý nhà nước”.
Tổ chức phi chính phủ nước ngoài là các tổ chức phi chính phủ, tổ chức
phi lợi nhuận, các quỹ xã hội, quỹ tư nhân, hoặc các hình thức tổ chức xã hội,
phi lợi nhuận khác, được thành lập theo luật pháp nước ngoài, có hoạt động

lợi và khó khăn trong quá trình du học tại Mỹ. Hoạt động này thường được
thực hiện bởi các tổ chức: “Viện giáo dục quốc tế” – Institute of International
Education (IIE), FETP, VEF,...
Ba là, hợp tác giảng dạy
Thực tế cho thấy, thời gian qua các tổ chức PCP trong lĩnh vực giáo
dục tại TP.HCM ngoài việc trao tặng, cấp học bổng thì còn hợp tác giảng dạy
với các trường đại học, cao đẳng tại TP.HCM. Trong đó chủ yếu là đưa giáo
viên và tình nguyện viên vào giảng dạy, đào tạo đội ngũ cán bộ, giáo viên về
chuyên môn. Điển hình như các tổ chức VEF hàng năm liên kết với trường
Đại học Khoa học tự nhiên và trường Đại học Bách Khoa giảng dạy về các
vấn đề khoa học kỹ thuật.
Bốn là, tài trợ về vật chất, phương tiện kỹ thuật, học tập.

9


Ngoài các hình thức trên thì các tổ chức PCP cũng rất chú ý về việc tài
trợ về vật chất, phương tiện kỹ thuật, học tập cho Sở GD&ĐT TP.HCM. Chủ
yếu là tài trợ cho việc xây dựng mới các trường học, thư viện hoặc sửa chữa
các trường học mà cơ sở vật chất, phương tiện giảng dạy học tập còn hạn chế.
Điển hình như tổ chức Britany’s Hope – BH và tổ chức World Vision
International – WVI.
Về thuật ngữ “Quản lý nhà nước”, theo giáo trình quản lý hành chính
nhà nước của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.
Quản lý nhà nước: “QLNN là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước
do các cơ quan nhà nước tiến hành đối với tất cả mọi cá nhân và tổ chức
trong xã hội, trên tất cả các mặt trong đời sống xã hội bằng cách sử dụng
quyền lực nhà nước có tính cưỡng chế đơn phương nhằm thực hiện mục tiêu
phục vụ lợi ích chung của cả cộng đồng, duy trì ổn định, an ninh trật tự thúc
đẩy xã hội phát triển theo một hướng thống nhất của Nhà nước”.

số đặc điểm chính như:
1.1.2.1. Tính lệ thuộc vào chính trị và hệ thống chính trị
Việc quản lý đối với tổ chức PCP trong lĩnh vực giáo dục trước hết
phải đảm bảo đúng đường lối, chính sách chỉ đạo của Đảng về đối ngoại nói
chung và đối ngoại nhân dân nói riêng; phải đảm bảo sự quản lý thống nhất,
tăng cường sự tham gia của nhân dân trong công tác quản lý, phát huy cơ chế
hợp tác 3 bên: chính quyền – đối tượng được hưởng lợi – tổ chức PCP. Do
vậy, QLNN đối với tổ chức PCP trong lĩnh vực giáo dục phải luôn song hành
với hệ thống chính trị, phù hợp với các quyết sách chính trị của Đảng và Nhà
nước.
1.1.2.2. Tính pháp quyền
Mọi hoạt động QLNN phải đảm bảo nằm trong khuôn khổ quy định của
pháp luật. Việc quản lý đối với tổ chức PCP trong lĩnh vực giáo dục phải dựa
11


trên cơ sở pháp luật của Nhà nước và pháp luật được sử dụng làm công cụ chủ
yếu để quản lý đối với tổ chức PCP trong lĩnh vực giáo dục.
1.1.2.3. Tính thống nhất và linh hoạt
QLNN đối với tổ chức PCP trong lĩnh vực giáo dục phải dựa trên cơ sở
quy định chung của pháp luật; không cho phép các cơ quan quản lý của Nhà
nước thực hiện việc quản lý một cách tùy tiện, theo cảm tính hay theo ý muốn
chủ quan. Do tính chất đa dạng, hoạt động của các tổ chức PCP liên quan đến
rất nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội như chính trị, kinh tế, văn hoá, an ninh,
quốc phòng, ngoại giao nên QLNN trên lĩnh vực này cần có sự thống nhất
trong quản lý. Bên cạnh đó, trong quá trình quản lý cũng cần có sự linh hoạt,
giao một số quyền hạn và trách nhiệm qua đó tạo điều kiện cho các bộ, ngành
và địa phương có thể chủ động, linh hoạt giải quyết một số vấn đề cụ thể nào
đó. Qua đó, phát huy tính sáng tạo, chủ động và quyền làm chủ của các cấp,
các ngành.

Nam. QLNN cũng là để đảm bảo cho các tổ chức PCP trong lĩnh vực này hoạt
động trong khuôn khổ pháp luật và những chính sách hiện hành của Việt Nam,
đồng thời không trái với pháp luật quốc tế.
1.1.3.2. Quản lý nhà nước để thu hút sự hỗ trợ, hợp tác của tổ chức phi
chính phủ, phù hợp với xu hướng hội nhập và hợp tác quốc tế hiện nay
Không chỉ nhằm mục đích quản lý, QLNN còn nhằm mục đích tạo điều
kiện thuận lợi cho các tổ chức PCP hoạt động và phát huy những tác dụng tích
cực của mình và qua đó thu hút tối đa sự hỗ trợ, hợp tác của tổ chức PCP
nhằm đóng góp cho sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam.
Trong bối cảnh hội nhập và hợp tác quốc tế hiện nay, việc thu hút sự hỗ
trợ, hợp tác của tổ chức PCP là tương đối khó khăn. Nguyên nhân do các
vướng mắc về thủ tục và công tác quản lý đã gây khó khăn rất nhiều cho công
tác kêu gọi các hoạt động tài trợ. Vì vậy, Việc tiếp tục thực hiện chính sách
13


đối ngoại rộng mở, đa dạng hóa và đa phương hóa các mối quan hệ hợp tác
của Đảng và nhà nước ta góp phần thúc đẩy, thu hút sự quan tâm hỗ trợ từ bạn
bè quốc tế nói chung và các tổ chức PCP nói riêng. Đa phần họ đều mong
muốn hợp tác với Việt Nam, tôn trọng những quy định của Việt Nam, sẵn
sàng ủng hộ Việt Nam và giúp Việt Nam phát triển kinh tế và giải quyết các
vấn đề xã hội.
1.1.3.3. Quản lý nhà nước để phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu
cực của tổ chức phi chính phủ trong lĩnh vực giáo dục
QLNN còn nhằm mục đích khai thác có hiệu quả nguồn viện trợ của
các tổ chức PCP trong lĩnh vực giáo dục. Nhìn chung nguồn viện trợ này có
tác dụng thiết thực đối với nhiều ngành, địa phương và cơ sở, nhất là những
cơ sở nghèo và là một nguồn bổ sung đáng kể cho ngân sách quốc gia. Do đó
nó có một ý nghĩa nhất định đối với nền kinh tế của Việt Nam, đặc biệt là khi
nguồn viện trợ này được tập trung cho các vùng sâu, vùng xa, vùng bị thiên

ta. Vì vậy, việc QLNN là điều tất yếu và ngày càng trở nên cần thiết đối với
các tổ chức PCP trong lĩnh vực giáo dục tại Việt Nam hiện nay. Thông qua
việc quản lý giúp chúng ta khuyến khích phát huy những ưu điểm và kịp thời
ngăn chặn nhắc nhở những sai phạm của các tổ chức PCP mà cụ thể là trong
lĩnh vực giáo dục.
1.2. Nội dung quản lý nhà nước đối với tổ chức phi chính phủ trong
lĩnh vực giáo dục
1.2.1. Xây dựng và ban hành chính sách, pháp luật về quản lý nhà
nước đối với tổ chức phi chính phủ trong lĩnh vực giáo dục
Để thực hiện tốt việc QLNN của mình, nhà nước cần phải sử dụng rất
nhiều công cụ quản lý như chính sách, pháp luật, bộ máy, tài sản công…Có
thể thấy các nội dung đầu tiên của việc QLNN đối với tổ chức PCP trong lĩnh

15


vực giáo dục chính là xây dựng và ban hành các chính sách và các văn bản
pháp luật về QLNN đối với tổ chức PCP trong lĩnh vực giáo dục tại Việt Nam.
Xây dựng và ban hành chính sách là một nội dung quan trọng và phức
tạp trong QLNN đối với các tổ chức PCP trong lĩnh vực giáo dục. Các chính
sách QLNN đối với các tổ chức PCP trong lĩnh vực giáo dục chính là tổng thể
các giải pháp công cụ mà nhà nước sử dụng để tác động lên các tổ chức này
để thực hiện những mục tiêu nhất định theo định hướng của nhà nước.
Bên cạnh đó, QLNN đối với tổ chức PCP trong lĩnh vực giáo dục còn
phải dựa trên cơ sở pháp luật. Pháp luật chính là yếu tố phân biệt QLNN với
những dạng quản lý khác. Điều đó có nghĩa tất cả các tổ chức PCP trong lĩnh
vực giáo dục, không phân biệt hình thức tổ chức, quy mô, lĩnh vực tôn chỉ
hoạt động hoạt động hay quốc gia gốc thì đều phải tổ chức và hoạt động trên
cơ sở pháp luật của Việt Nam.
Cụ thể nội dung này là xây dựng và ban hành hệ thống pháp luật có liên

Nhiệm vụ đầu tiên trong QLNN đối với tổ chức PCP trong lĩnh vực
giáo dục là quyết định cho hay không cho các tổ chức PCP này hoạt động tại
Việt Nam, triển khai các hoạt động của mình trên lãnh thổ Việt Nam, tại địa
phương nào và trong thời gian bao lâu. Nói cách khác, đây là việc quản lý sự
hiện diện của các tổ chức PCP trong lĩnh vực giáo dục thông qua hình thức
quản lý việc xét cấp, gia hạn, sửa đổi, thu hồi giấy phép của các tổ chức PCP.
Giấy phép chính là cơ sở đầu tiên giúp các cơ quan quản lý nắm được
thông tin về các tổ chức PCP trong lĩnh vực giáo dục cũng như hoạt động của
các tổ chức này tại Việt Nam.
Theo Quy chế hoạt động của các tổ chức phi chính phủ tại Việt Nam
ban hành kèm theo Nghị định 12/2012/NĐ-CP ngày 01/02/2012 (trước đây là
Quyết định 340/TTg, ngày 24/05/1996) thì các tổ chức PCP để được tiến hành
các hoạt động hỗ trợ phát triển, viện trợ nhân đạo tại Việt Nam không vì mục
17


đích lợi nhuận hoặc các mục đích khác, phải được phép của Chính phủ Việt
Nam dưới các hình thức: Giấy phép hoạt động, Giấy phép lập Văn phòng dự
án hoặc Giấy phép lập Văn phòng đại diện. Việc QLNN thông qua giấy phép
được thực hiện bằng các hình thức chính sau:
- Quy định cơ quan có thẩm quyền xét cấp, gia hạn, sửa đổi và thu hồi
các loại giấy phép. Theo Quy chế ban hành kèm Nghị định 12/2012/NĐ-CP thì
Ủy ban công tác về các tổ chức PCP là cơ quan có thẩm quyền xét cấp, gia hạn,
sửa đổi, bổ sung và thu hồi các loại giấy phép. Liên hiệp các tổ chức hữu nghị
Việt Nam được chỉ định là cơ quan thường trực về công tác phi chính phủ nước
ngoài chịu trách nhiệm phối hợp cùng các Cục - Vụ chức năng của các Bộ,
ngành trung ương cũng như các địa phương để kiến nghị và đề xuất xử lý các
vấn đề liên quan đến hoạt động của các tổ chức PCP tại Việt Nam [5, tr. 7].
- Quy định điều kiện để được xét cấp giấy phép và thủ tục xin cấp, gia
hạn, sửa đổi, bổ sung và thu hồi giấy phép.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status