VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ CẨM
NHÂN THÂN NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI XÂM
PHẠM SỞ HỮU TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN BÌNH TÂN,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ CẨM
NHÂN THÂN NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI XÂM
PHẠM SỞ HỮU TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN BÌNH TÂN,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm
Mã số: 60 38 01 05
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. TRẦN HỮU TRÁNG
KẾT LUẬN ..............................................................................................................71
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................73
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
QP-AN:
Quốc phòng – An ninh
XPSH:
Xâm phạm sở hữu
BLHS
Bộ luật Hình sự
TAND
Tòa án nhân dân
VKSND
Viện kiểm sát nhân dân
Tp. HCM
Thành phố Hồ Chí Minh
tháng 11 năm 2003 của Chính phủ trên cơ sở tách 3 xã: Bình Hưng Hòa, Bình Trị
Đông, Tân Tạo và thị trấn An Lạc thuộc huyện Bình Chánh.
Phía Bắc: giáp quận 12, huyện Hóc Môn; Phía Nam: giáp quận 8, xã Tân
Kiên, xã Tân Nhựt thuộc huyện Bình Chánh; Phía Đông: giáp quận Tân Phú, quận
6; Phía Tây: giáp xã Vĩnh Lộc A, Vĩnh Lộc B, Lê Minh Xuân thuộc địa phận huyện
Bình Chánh.
Toàn quận có 10 phường trực thuộc: An Lạc, An Lạc A, Bình Hưng Hòa,
Bình Hưng Hòa A, Bình Hưng Hòa B, Bình Trị Đông, Bình Trị Đông A, Bình Trị
Đông B, Tân Tạo, Tân Tạo A.
Diện tích toàn quận là 5.188,67 ha diện tích tự nhiên với 254.635 nhân khẩu
sinh sống và hiện nay đã tăng lên 699.713 nhân khẩu trong đó, người dưới 18 tuổi
có 109.580 người. Cơ cấu bao gồm nhiều dân tộc khác nhau, trong đó chủ yếu là
dân tộc Kinh chiếm 91,27%, dân tộc Hoa chiếm 8,45%, còn lại là các dân tộc khác.
Tôn giáo có Phật giáo, Thiên chúa giáo, Tin Lành, Cao Đài, Hòa Hảo, Hồi giáo…
trong đó phật giáo chiếm 27,26% trong tổng số dân có theo đạo.
Quận Bình Tân nằm ở cửa ngõ phía Tây của thành phố, có quốc lộ 1A chạy
ngang qua vành ngoài của thành phố, ngoài ra còn có tuyến đường Hồng Bàng và
Hùng Vương đi các quận nội thành. Đồng thời Bến xe Miền Tây là bến xe chính đi
các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Trong những năm qua, Đảng bộ và chính quyền
quận Bình Tân đã ban hành nhiều chính sách phù hợp thu hút nguồn vốn đầu tư
trong và ngoài nước, tốc độ đô thị hoá diễn ra khá nhanh, hầu như các phường
không còn đất nông nghiệp. Hiện nay nhiều mặt kinh tế - xã hội của quận phát triển
nhanh theo hướng đô thị. Trên địa bàn quận Bình Tân hiện có hai khu công nghiệp
do Ban quản lý các khu công nghiệp thành phố quản lý là khu công nghiệp Tân Tạo
và khu công nghiệp Vĩnh Lộc. Một công ty giày da POUYUEN Việt Nam, là khu
công nghiệp 100% vốn nước ngoài chuyên sản xuất giày da, diện tích 62 ha, với
1
2
tình hình tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện nói chung và tình hình tội XPSH
do người dưới 18 tuổi thực hiện nói riêng. Tuy nhiên những giải pháp này vẫn chưa
đạt được hiệu quả mong muốn. Tình hình tội XPSH do người dưới 18 tuổi thực hiện
trên địa bàn quận Bình Tân vẫn có diễn biến hết s c ph c tạp và có chiều hướng gia
tăng. Thực tế đó đã đặt ra nhu cầu cấp bách cần nâng cao hiệu quả công tác đấu
tranh phòng chống tội XPSH do người dưới 18 tuổi gây ra trên địa bàn quận Bình
Tân trong thời gian tới. Để làm được điều này, một trong những vấn đề cần thực
hiện là tiến hành các nghiên c u về nhân thân người dưới 18 tuổi phạm tội XPSH.
Với cương vị là một cán bộ phụ trách công tác bảo vệ chăm sóc trẻ em, học viên
luôn luôn mong muốn các em dù ở hoàn cảnh nào cũng được chăm sóc tốt nhất,
được giáo dục tốt nhất để trở thành những công dân tốt cho xã hội góp phần xây
dựng đất nước Việt Nam ngày một giàu đẹp. Từ quan điểm đó, học viên quyết định
chọn đề tài Nhân thân người dưới 18 tuổi phạm tội xâm phạm sở hữu từ thực
tiễn quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài luận văn thạc sỹ với
mong muốn, đề ra các giải pháp hữu hiệu phòng ngừa tội XPSH từ khía cạnh nhân
thân, góp phần thực hiện có hiệu quả chương trình hành động bảo vệ, chăm sóc,
giáo dục, trẻ em tốt hơn.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm gần đây, đã có một số công trình nghiên c u được thực
hiện liên quan đến nhân thân người phạm tội, có thể kể đến các nghiên c u tiêu biểu
sau đây:
2.1. Nhóm những công trình nghiên cứu làm rõ vấn đề nhân thân người
phạm tội phục vụ quá trình áp dụng các quy định của BLHS
- Luận án Tiến sĩ Luật học: Nhân thân người phạm tội trong trong luật hình
sự Việt Nam của Nguyễn Thị Thanh Thủy, năm 2005;
Bài viết: Các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự liên quan đến nhân
thân người phạm tội” của tác giả Đinh Văn Quế, Tạp chí Toà án, số 13/2009, tr. 2327 và số 14,tr. 19-28;
- Luận văn Thạc sĩ luật học: Nhân thân người thực hiện các tội xâm phạm
tình dục trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu của Bùi Ai Giôn (2017), Học viện
khoa học xã hội;
5
- Luận văn Thạc sĩ luật học: Nhân thân người phạm tội giết người trên địa
bàn thành phố Hồ Chí Minh của Phan Ái nhi (2016), Học viện khoa học xã hội;
- Luận văn Thạc sĩ luật học: Nhân thân người phạm tội xâm phạm sở hữu
trên địa bàn tỉnh Kiên Giang của Hồ Thanh Lam (2016), Học viện khoa học xã hội;
- Luận văn Thạc sĩ luật học: Phòng ngừa tội phạm cướp tài sản trên địa bàn
tỉnh Vĩnh Long từ góc độ nhân thân người phạm tội của Nguyễn Chí Công 2013),
Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh;
- Luận văn Thạc sĩ luật học: Nhân thân người phạm tội trên địa bàn Quận 7,
thành phố Hồ Chí Minh của Phạm Uyên Thy 2015), Học viện khoa học xã hội;
- Luận văn Thạc sĩ luật học: Đặc điểm nhân thân người phạm tội hiếp dâm
trẻ em trên địa bàn tỉnh Đồng Nai dưới góc độ tội phạm học của Ngô Minh Hải
2015), Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh;
- Luận văn thạc sĩ Luật học: Nhân thân người phạm tội xâm phạm sở hữu
trên địa bàn quận Bình Tân của Lê Thành Công;
- Bài viết: Một số đặc điểm chú ý về nhân thân của người phạm tội về ma
tuý ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Tuyết Mai, Tạp chí Luật học, số 11/2006, tr.
32-37;
- Bài viết: Một số vấn đề nhân thân người phạm tội” của tác giả Nguyễn
Quang Hạnh, Tạp chí Nghề luật, số 1/2013, tr. 52-57;
- Bài viết: Đặc điểm nhân thân người phạm tội và phương thức thực hiện tội
trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Gia Lai” của tác giả Lê Văn Định, Tạp chí Kiểm
sát, số 6/2015, tr. 47-53
2.4. Nhóm các công trình nghiên cứu làm rõ một số đặc điểm tâm sinh lí,
đặc điểm nhân thân xấu ở người phạm tội, luận văn hướng đến mục đích đưa ra các
giải pháp tăng cường phòng ngừa tội XPSH do người dưới 18 tuổi thực hiện trong
thời gian tới ở địa bàn quận Bình Tân, TP. Hồ Chí Minh.
3.2. Nội dung nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích nêu trên, luận văn cần thực hiện ba nội dung
sau:
Thứ nhất: Nghiên c u làm rõ những vấn đề lý luận chung về nhân thân người
dưới 18 tuổi phạm tội XPSH;
7
Thứ hai: Phân tích làm rõ thực tiễn nhân thân người dưới 18 tuổi phạm tội
XPSH và các yếu tố tác động đến sự hình thành nhân thân người dưới 18 tuổi phạm
tội XPSH trên địa bàn quận Bình Tân, giai đoạn 2012 - 2016;
Thứ ba: Nghiên c u đề xuất các giải pháp tăng cường phòng ngừa tội XPSH
từ khía cạnh nhân thân người dưới 18 tuổi phạm tội trên địa bàn quận Bình Tân, TP.
Hồ Chí Minh.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên c u của đề tài là những vấn đề lý luận và thực tiễn về nhân
thân người dưới 18 tuổi phạm tội XPSH trên địa bàn quận Bình Tân. Để nghiên c u
về nhân thân người dưới 18 tuổi phạm tội XPSH trên địa bàn quận Bình Tân, học
viên dựa trên các số liệu thống kê xét xử hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận
Bình Tân giai đoạn 2012 - 2016, cũng như trên cơ sở kết quả nghiên c u 48 bản án
xét xử sơ thẩm của TAND quận Bình Tân giai đoạn 2012 - 2016 được thu thập đầy
đủ.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên c u nhân thân người dưới 18 tuổi phạm tội XPSH dưới góc độ
tội phạm học và phòng ngừa tội phạm trên địa bàn quận Bình Tân, TP. Hồ Chí
trên địa bàn quận Bình Tân giai đoạn 2012 - 2016.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm, phân tích, suy luận logic… được sử
dụng để nhằm đưa ra kiến nghị việc hoàn thiện các giải pháp phòng ngừa tình hình
tội XPSH từ góc độ nhân thân người phạm tội.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Ý nghĩa lý luận của đề tài: Luận văn là công trình nghiên c u đầu tiên ng
dụng lý thuyết về nhân thân người phạm tội, người chưa thành niên vào việc phân
tích nhân thân người dưới 18 tuổi phạm tội XPSH trên địa bàn quận Bình Tân, TP.
Hồ Chí Minh. Kết quả nghiên c u được sẽ góp phần bổ sung, hoàn thiện lý luận tội
phạm học nói chung và lý luận phòng ngừa tội XPSH do người dưới 18 tuổi thực
hiện nói riêng.
- Ý nghĩa thực tiễn của đề tài: Những biện pháp phòng ngừa đưa ra trong đề
tài rút ra được từ đặc điểm nhân thân người dưới 18 tuổi phạm tôi XPSH có thể
9
được tham khảo trong thực tiễn công tác phòng, chống tội phạm XPSH nói riêng và
tội phạm nói chung trên địa bàn quận Bình Tân trong thời gian tới. Kết quả nghiên
c u của luận văn cũng có thể được dùng làm tài liệu tham khảo trong các cơ sở đào
tạo luật trong cả nước.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn được cấu trúc thành ba chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về nhân thân người dưới 18 tuổi phạm tội
xâm phạm sở hữu.
Chương 2: Thực trạng nhân thân người dưới 18 tuổi phạm tội xâm phạm sở
hữu trên địa bàn quận Bình Tân, TP. Hồ Chí Minh, giai đoạn 2012-2016.
Chương 3: Các giải pháp tăng cường phòng ngừa các tội xâm phạm sở hữu
do người dưới 18 tuổi thực hiện trên địa bàn quận Bình Tân, TP. Hồ Chí Minh từ
Đối tượng nghiên cứu của tội phạm học là con người phạm tội chứ không
phải là con người nói chung. Người phạm tội là người thực hiện hành vi nguy hiểm
cho xã hội mà luật hình sự quy định là tội phạm” [48, tr.149]. Người phạm tội cũng
là con người của xã hội, cho dù tội phạm mà họ thực hiện có nghiêm trọng đến đâu.
11
Vì vậy, khi đề cập đến nhân thân người phạm tội là nói đến các đặc điểm của nhân
thân con người nói chung và cả những đặc điểm đặc trưng của nhân thân người
phạm tội, chính những đặc điểm, dấu hiệu này thể hiện tính nguy hiểm cho xã hội
của họ. Dấu hiệu đặc trưng trong nhân thân người phạm tội khác với nhân thân con
người bình thường trước hết ở chỗ trong nhân thân của họ bao gồm tất cả các dấu
hiệu mà luật hình sự quy định về chủ thể của tội phạm nói chung. Có nghĩa rằng, tại
thời điểm thực hiện tội phạm họ có năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi theo
luật định và đặc biệt là họ đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Ngoài ra,
nhân thân người phạm tội còn có dấu hiệu, đặc điểm liên quan đến sự việc phạm tội
như tâm lí, tính cách, thói quen, sở thích, quan điểm, thái độ đối với xã hội, ý th c
pháp luật…[48, tr.151].
Cũng như nhân thân con người, nhân thân người phạm tội bao gồm hệ thống
các đặc điểm tâm, sinh lý. Các đặc điểm tâm, sinh lý phụ thuộc vào những điều kiện
sống, của sự giáo dục, của những mối quan hệ… nhất định. Chính các đặc điểm đó
dưới sự tác động của các điều kiện và hoàn cảnh bên ngoài, của tình huống cụ thể,
tạo thành động lực thúc đẩy việc thực hiện tội phạm.
Như vậy, nhân thân người phạm tội là t c là người có lỗi trong việc thực hiện
hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự quy định là tội phạm được hiểu là tổng
hợp tất cả các dấu hiệu, những đặc điểm,có ý nghĩa về mặt xã hội, trong sự kết hợp
với điều kiện, hoàn cảnh bên ngoài ảnh hưởng đến hành vi phạm tội của người đó
[62, tr.131].
Trên cơ sở khái niệm nhân thân người phạm tội, khái niệm người chưa thành
góp phần làm cho quá trình định tội, định khung và quyết định hình phạt được chính
xác.
Nhân thân người phạm tội tuy không phải là một trong những yếu tố cấu
thành tội phạm nhưng các đặc điểm của nhân thân người phạm tội có ý nghĩa quan
trọng trong việc xác định các vấn đề: Truy c u trách nhiệm hình sự, quyết định hình
phạt, yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt,… Theo khoa học luật hình sự:
nhân thân người phạm tội được hiểu là tổng thể tất cả các đặc điểm có ý nghĩa về
mặt xã hội của người thực hiện tội phạm được cân nhắc để giải quyết những vấn đề
của trách nhiệm hình sự (cá thể hóa hình phạt, miễn trách nhiệm hình sự, miễn và
13
giảm hình phạt)” [64, tr.194]. Chính vì vậy, pháp luật tố tụng hình sự quy định, các
đặc điểm nhân thân người phạm tội phải được các cơ quan tiến hành tố tụng thu
thập đầy đủ trong hồ sơ vụ án và phải được thể hiện trong bản Kết luận điều tra của
Cơ quan điều tra, bản Cáo trạng của Viện kiểm sát và Bản án của Tòa án.
Các đặc điểm nhân thân người dưới 18 tuổi phạm tội XPSH có ý nghĩa trong
việc định tội và định khung hình phạt đối với tội XPSH, như: Trong một số trường
hợp, các yếu tố về nhân thân người phạm tội đã được nhà làm luật quy định là yếu
tố loại trừ trách nhiệm hình sự, yếu tố miễn hình phạt, yếu tố định tội, định khung
hình phạt hoặc quy định là tình tiết tăng nặng hoặc tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự như: Người phạm tội từ đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu
trách nhiệm hình sự về các tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội đặc biệt nghiêm
trọng khoản 2 Điều 12 BLHS 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009)) riêng tại khoản 2
điều 12 của Bộ Luật hình sự năm 2015 thì quy định rõ hơn: Người đủ 14 tuổi tuổi
trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ chịu trách nhiệm hình sự vè tội giết người, tội cố
ý gây thương tích hoặc gây tổn hại đến sức khỏe của người khác, tội hiếp dâm, tội
hiếp dâm người dưới 16 tuổi, tội cưỡng dâm người đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, tội
cướp tài sản, về tội rất nghiêm trọng, tội đặn biệt nghiêm trọng quy định tại một
gia đình, nhà trường, môi trường kinh tế, văn hóa, xã hội vĩ mô đến sự hình thành
các đặc điểm nhân thân tiêu cực của người phạm tội XPSH. Nghiên c u cụ thể về
các đặc điểm và những yếu tố tác động đến quá trình hình thành các đặc điểm tiêu
cực của nhân thân người dưới 18 tuổi phạm tội XPSH sẽ cho thấy rõ những nguyên
nhân và điều kiện làm phát sinh hành vi phạm tội XPSH.
Thứ ba, nghiên c u làm rõ nhân thân người dưới 18 tuổi phạm tội XPSH,
giúp đề ra các biện pháp phòng ngừa tội XPSH nói riêng và tội phạm nói chung.
Nhiệm vụ của phòng ngừa là loại trừ các điều kiện thuận lợi cho việc phát
sinh tội phạm, hạn chế các nhân tố tội phạm, hoặc nhân tố có ảnh hưởng đến sự
hình thành các phẩm chất cá nhân tiêu cực của con người. Nghiên c u làm rõ các
đặc điểm trong nhân thân của mỗi người, như giới tính, tuổi, nghề nghiệp, trình độ
văn hóa, quan điểm… đặc biệt là làm rõ các nguyên nhân dẫn đến sự hình thành các
đặc điểm nhân thân xấu, sai lệch của người phạm tội sẽ giúp cho việc đề ra các biện
pháp phù hợp nhằm tác động loại bỏ dần các đặc điểm nhân thân xấu, góp phần
15
hình thành các đặc điểm nhân thân tốt, qua đó làm biến chuyển người phạm tội
thành người có ích cho xã hội.
Thứ tư, nghiên c u làm rõ nhân thân người phạm tội XPSH, giúp đề ra các
biện pháp giáo dục, cải tạo người dưới 18 tuổi phạm tội XPSH một cách phù hợp và
hiệu quả. Có thể dựa vào đặc điểm nhân thân của người dưới 18 tuổi phạm tội
XPSH để phân loại và áp dụng các biện pháp giáo dục, cải tạo phù hợp với từng
nhóm người. Từ các đặc điểm nhân thân có thể cải thiện hoặc loại trừ các đặc điểm
nhân thân tiêu cực có vai trò quan trọng đối với việc phát sinh tội XPSH, từ đó có
thể giáo dục, cải tạo họ thành người tốt, không tái phạm tội. Nghiên c u các đặc
điểm nhân thân người dưới 18 tuổi phạm tội cũng giúp cho việc tư vấn cho phạm
nhân việc học nghề phù hợp, chuẩn bị tốt nhất cho quá trình tái hòa nhập.
Thứ năm, nghiên c u làm rõ nhân thân người phạm tội XPSH còn góp phần
thường phạm tội nhiều hơn so với nữ giới. Nam giới có một số đặc điểm đặc thù và
được xã hội thừa nhận, đó là mạnh mẽ, quyết đoán nhưng cũng đi đôi với khả năng
kiềm chế kém, dễ bị kích động… Trong khi đó, nữ giới thường ôn hòa, dịu dàng, có
khả năng chịu đựng tốt nhưng cũng hay để ý, nhỏ nhặt. Ngoài ra, việc nam giới
phạm tội nhiều hơn nữ giới không phải do đặc điểm sinh lý của nam giới khác với
nữ giới, mà còn do những điều kiện hình thành phẩm chất cá nhân và sự tiếp nhận
giáo dục của nam giới có những đặc điểm khác với nữ giới. Nam giới và nữ giới
đều bình đẳng như nhau trong việc tiếp nhận giáo dục, đồng thời họ cùng có khả
năng nhận th c như nhau. Tuy nhiên, do sự ảnh hưởng của tư tưởng lạc hậu trọng
nam khinh nữ” đang tồn tại trong nhiều gia đình. Nam giới thường nhận được sự
nuông chiều nhiều hơn. Nghiên c u các đặc điểm giới tính của người phạm tội là
nam giới đã chỉ ra, nam giới dễ bị ảnh hưởng bởi các thói hư tật xấu, dễ bị tiêm
nhiễm tệ nạn xã hội và dễ hình thành phẩm chất cá nhân tiêu cực, trạng thái tâm lý
tiêu cực hơn so với nữ giới. Đối chiếu với các đặc điểm của nhóm tội XPSH, phần
nào cho thấy được t lệ phạm các tội cũng như phạm nhóm tội XPSH do nam giới
thực hiện luôn nhiều hơn nữ giới. Tuy vậy, trong những năm gần đây do sự thay đổi
vị trí, vai trò của nữ giới trong gia đình và xã hội, người phụ nữ được giải phóng
khỏi công việc gia đình, tham gia nhiều vào hoạt động xã hội nên t lệ nữ giới phạm
tội XPSH có xu hướng gia tăng. [48, tr.155]
17
b. Độ tuổi
Độ tuổi là một đặc điểm có mối quan hệ hữu cơ với việc phát triển và hình
thành nhân cách trong đặc điểm nhân thân của người phạm tội. Không những thế,
độ tuổi còn gắn liền với vị trí, vai trò của con người trong xã hội và các mối quan hệ
xã hội chủ yếu mà con người đó tham gia. Nghiên c u đặc điểm l a tuổi trong nhân
thân người phạm tội XPSH sẽ giúp xác định được l a tuổi nào phạm tội XPSH
nhiều nhất, l a tuổi nào thực hiện loại tội phạm này ít nhất, theo đó xác định các
tránh thực hiện hành vi phạm tội và ngược lại đối với những người có trình độ học
vấn thấp thì khả năng hiểu biết các vấn đề xã hội, đặc biệt là nhận th c pháp luật
còn thấp, dẫn đến nguy cơ phạm tội rất cao. Tuy vậy m c độ ảnh hưởng của trình
độ học vấn đối với từng loại tội, từng nhóm tội cũng khác nhau, có những nhóm tội
đòi hỏi phải có học vấn nhất định mới thực hiện được hành vi phạm tội, như nhóm
tội phạm công nghệ cao, nhóm tội phạm tham nhũng,… Đối với nhóm tội XPSH,
người phạm tội không cần phải có trình độ học vấn cao mới có thể thực hiện được
tội phạm. Nhiều nghiên c u tội phạm học cho thấy, những người phạm tội XPSH đa
phần đều có trình độ học vấn tương đối thấp và ng với mỗi tội XPSH khác nhau
thì người phạm tội cũng có trình độ học vấn khác nhau. Dựa vào đặc điểm trình độ
học vấn, người dưới 18 tuổi phạm tội XPSH được chia thành 03 nhóm: 1) Người
không biết chữ và người có trình độ tiểu học, 2) Người có trình độ trung học cơ sở,
3) Người có trình độ trung học phổ thông.
b. Hoàn cảnh gia đình
Hoàn cảnh gia đình có ảnh hưởng rất lớn đến việc hình thành những phẩm
chất tâm lý tiêu cực của con người, dẫn đến họ sẽ có tính chống đối xã hội, và có
những hành vi đi ngược với các chuẩn mực xã hội. Chính yếu tố gia đình trong đa
số trường hợp đã kích thích tính tích cực của mỗi thành viên, đồng thời gia đình giữ
vai trò kiểm sát, giám sát hành vi của những thành viên trong gia đình, hạn chế đến
m c tối đa các hiện tượng tiêu cực phát sinh trong mỗi con người. Nghiên c u đặc
điểm hoàn cảnh gia đình trong nhân thân người phạm tội XPSH là nghiên c u ở các
khía cạnh: quan hệ gia đình, hoàn cảnh kinh tế gia đình với những tác động của
chúng tới người phạm tội XPSH. Mối quan hệ gần gũi, ấm cúng trong gia đình,
cách xử sự văn minh, nhân ái giữa các thành viên trong gia đình, việc mỗi thành
viên luôn nêu cao trách nhiệm với gia đình có ý nghĩa rất lớn tới việc kiểm soát
19
hành vi, định hướng hành vi của mỗi người, giúp hạn chế những hành vi tiêu cực