VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THỊ PHƢƠNG DUNG
MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI
NGƢỜI DƢỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI THEO PHÁP LUẬT
HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THỊ PHƢƠNG DUNG
MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI
NGƢỜI DƢỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI THEO PHÁP LUẬT
HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành
: Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số
NAM VỀ MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI NGƢỜI DƢỚI 18
TUỔI PHẠM TỘI ........................................................................................... 8
1.1. Khái niệm, đặc điểm, căn cứ và ý nghĩa của miễn trách nhiệm hình sự
đối với người dưới 18 tuổi phạm tội ........................................................... 8
1.2. Khái quát lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam từ khi ban hành Bộ luật
hình sự năm 1985 đến Bộ luật hình sự năm 2015 về miễn trách nhiệm
hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội ............................................ 17
1.3. Khái quát quy phạm pháp luật về miễn trách nhiệm hình sự đối với
người dưới 18 tuổi phạm tội trong pháp luật hình sự một số nước trên thế
giới ............................................................................................................ 22
Chƣơng 2. QUY ĐỊNH CỦA LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH
VỀ MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI NGƢỜI DƢỚI 18
TUỔI PHẠM TỘI VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ
CHÍ MINH .................................................................................................... 28
2.1. Quy định của luật hình sự về miễn trách nhiệm hình sự đối với người
dưới 18 tuổi phạm tội ................................................................................ 28
2.2. Thực tiễn miễn trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm
tội tại Thành phố Hồ Chí Minh ................................................................. 48
Chƣơng 3. CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP
LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ
ĐỐI VỚI NGƢỜI DƢỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI ........................................ 62
3.1. Hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về miễn
trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội ........................ 62
3.2. Nâng cao ý thức pháp luật, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của người
có thẩm quyền quyết định việc áp dụng miễn trách nhiệm hình sự ......... 68
3.3. Tăng cường vai trò của Viện kiểm sát trong việc kiểm tra, giám sát
việc đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án do miễn trách nhiệm hình sự ......... 70
3.4. Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện tòa án chuyên xét xử các vụ án có
Bảng 2.3: Cơ cấu các loại tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện đã bị khởi
tố tại Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2012 đến năm 2016 ........................... 50
Bảng 2.4: Số vụ và số bị can được đình chỉ điều tra do Cơ quan Điều tra và
Viện kiểm sát áp dụng ..................................................................................... 52
Bảng 2.5: Tỷ lệ tổng số bị can được đình chỉ điều tra do miễn trách nhiệm
hình sự trên tổng số bị can bị đình chỉ điều tra ............................................... 53
Bảng 2.6: Số bị cáo dưới 18 tuổi được Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt từ năm 2012 đến năm 2016
......................................................................................................................... 54
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, tình trạng người dưới 18 tuổi vi phạm pháp
luật xảy ra rất phổ biến, điều đáng lưu ý là hành vi vi phạm pháp luật hình sự
của người dưới 18 tuổi ngày càng gia tăng và có tính chất nghiêm trọng. Việc
xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội là một việc khá phức tạp bởi người dưới 18
tuổi chưa phát triển đầy đủ về nhận thức, hành vi của họ thường mang tính
chất bột phát do bị lôi kéo hoặc kích động, họ chưa đủ khả năng làm chủ hành
vi hay suy nghĩ của mình hơn nữa họ còn có một tương lai dài phía trước. Do
đó không thể áp dụng các biện pháp xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội giống
với người đã thành niên.
Đảng và Nhà nước ta đã đề ra và thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ,
thông qua hoạt động của nhiều cấp ngành nhằm giáo dục, ngăn chặn và hạn
chế tình trạng người dưới 18 tuổi phạm tội và luôn có sự quan tâm đặc biệt
đến việc hoạch định chính sách hình sự. Hệ thống pháp luật hình sự nước ta
có những quy định xử lý riêng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, bao gồm
cả chế định miễn trách nhiệm hình sự cho họ nhằm thực hiện chính sách nhân
đạo của Đảng và Nhà nước trong đường lối xử lý đối với người dưới 18 tuổi
phạm tội, những quy định này đã đem lại lợi ích cho những người dưới 18
lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước, nhiều vấn đề của luật hình sự,
trong đó có chế định miễn trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi
phạm tội cũng luôn vận động và phát triển đòi hỏi phải được tiếp tục nghiên
cứu, giải quyết. Trước tình hình đó, việc nghiên cứu một cách có hệ thống,
toàn diện những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến chế định miễn trách
nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, trên cơ sở đó đưa ra
những giải pháp để góp phần hoàn thiện BLHS năm 2015 và giải quyết những
2
vướng mắc của thực tiễn áp dụng PLHS là việc làm cần thiết, không những có
ý nghĩa quan trọng về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa cả về thực tiễn trong giai
đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền hiện nay ở Việt Nam. Với những lý do
trên học viên đã lựa chọn đề tài: “Miễn trách nhiệm hình sự đối với ngƣời
dƣới 18 tuổi phạm tội theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn
Thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ luật
học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Miễn trách nhiệm hình sự là một chế định có liên quan chặt chẽ và mật
thiết với chế định TNHS và nhiều chế định khác trong luật hình sự. Ở Việt
Nam, cho đến nay đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề này, đáng
chú ý là các công trình sau đây:
- Lê Cảm (2001), Về các dạng miễn trách nhiệm hình sự được quy
định tại Điều 25 Bộ luật Hình sự năm 1999, Tạp chí Tòa án nhân dân, (số 1)
- Lê Cảm (2001), Về sáu dạng miễn trách nhiệm hình sự khác (ngoài
Điều 25) trong BLHS năm 1999, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, (số 2)
- Lê Cảm (2002), Chế định miễn trách nhiệm hình sự trong luật hình
sự Việt Nam, trong sách: “Nhà nước và pháp luật Việt Nam trước thềm thế kỷ
XXI”, do TS. Lê Cảm chủ biên, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội
- Nguyễn Ngọc Chí (1997), Chế định miễn trách nhiệm hình sự trong
nay, định hướng đến năm 2020.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu miễn trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18
tuổi phạm tội theo luật hình sự Việt Nam. Cụ thể nghiên cứu các vấn đề như:
khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của miễn trách nhiệm hình sự đối với người
dưới 18 tuổi phạm tội. Luận văn cũng đi vào đánh giá, nhận xét số liệu từ
thực tiễn việc áp dụng pháp luật hình sự về miễn trách nhiệm hình sự đối với
4
người dưới 18 tuổi phạm tội. Từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật
hình sự và nâng cao hiệu quả việc áp dụng các quy định pháp luật hình sự về
miễn trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn chỉ xem xét và giải quyết một số vấn
đề xung quanh chế định miễn trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi
phạm tội như: khái niệm, bản chất pháp lý và các đặc điểm cơ bản của miễn
trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi; nội dung và điều kiện áp
dụng những trường hợp miễn trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi
phạm tội trong BLHS năm 1999 hiện hành, những quy định mới trong BLHS
năm 2015 kết hợp với thực tiễn áp dụng và có tham khảo pháp luật hình sự
của một số nước trên thế giới.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là phân tích để làm rõ về mặt khoa
học các quy phạm của chế định miễn trách nhiệm hình sự đối với người dưới
18 tuổi phạm tội ở khía cạnh lập pháp và vấn đề áp dụng chúng trong thực
tiễn tại Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2016,
từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện các quy phạm của chế định này trong
PLHS Việt Nam.
Với mục đích nghiên cứu nêu trên, trong luận văn này học viên tập
trung vào giải quyết những nhiệm vụ chính như sau:
phương pháp lịch sử, so sánh, tổng hợp, thống kê. Đồng thời, việc nghiên cứu
đề tài còn dựa vào số liệu thống kê trong các báo cáo của Tòa án nhân dân tối
cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ
Chí Minh và các vụ án hình sự trong thực tiễn xét xử, cũng như thông tin trên
mạng Internet để phân tích, tổng hợp các tri thức khoa học luật hình sự và
luận chứng các vấn đề nghiên cứu.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
6
Thông qua luận văn học viên làm rõ khái niệm, bản chất pháp lý và các
đặc điểm cơ bản của miễn trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi
phạm tội, nội dung và điều kiện áp dụng của những trường hợp miễn trách
nhiệm hình sự cho người dưới 18 tuổi phạm tội trên cơ sở xem xét các quy
định của pháp luật hình sự hiện hành, đồng thời đưa ra các kiến nghị hoàn
thiện các quy phạm của chế định này ở khía cạnh lập pháp và việc áp dụng
chúng trong thực tiễn.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Trên cơ sở phân tích, đánh giá những số liệu thống kê trên thực tế,
những thiếu sót, khuyết điểm và những vướng mắc của việc áp dụng PLHS
liên quan đến chế định miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội tác
giả đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm góp phần tạo sự nhận thức và áp
dụng pháp luật được thống nhất.
Ngoài ra, ở một chừng mực nhất định có thể khẳng định rằng, đây là
nghiên cứu chuyên khảo đồng bộ đầu tiên ở cấp độ một luận văn thạc sĩ đề
cập đến chế định miễn trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên
phạm tội trong khoa học luật hình sự Việt Nam kể từ khi Bộ luật hình sự năm
2015 ra đời, do đó nó còn có ý nghĩa làm tài liệu tham khảo cần thiết cho các
người chưa đủ mười tám tuổi”. Điều 161 Luật Lao động năm 2013 quy định:
“người lao động chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuổi”. Như vậy
có thể thống nhất một quan điểm là người chưa thành niên là người dưới 18
tuổi. Quan niệm này hoàn toàn phù hợp với Công ước Quốc tế về quyền trẻ
em ngày 20/02/1990 mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành
viên. Việc quy định một người ở vào độ tuổi như vậy mới được coi là “người
chưa thành niên phạm tội” dựa trên cơ sở kết quả của nhiều công trình nghiên
cứu khoa học, vào sự khảo sát về tâm lý-xã hội và lứa tuổi, đồng thời tổng kết
kinh nghiệm của thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm, cũng như căn cứ
vào chính sách hình sự của Nhà nước ta đối với người chưa thành niên phạm
tội. Mặt khác, xuất phát ở chỗ người chưa thành niên có những đặc điểm riêng
về tâm-sinh lý, sự hiểu biết, khả năng nhận thức về cuộc sống xã hội và pháp
8
luật còn hạn chế, chưa đầy đủ... nên việc xử lý đối tượng này chủ yếu nhằm
giáo dục họ có ý thức tôn trọng pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội,
giúp đỡ họ có điều kiện sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành
một công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.
Theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 thì người chưa thành niên
là những người chưa đủ 18 tuổi, nhưng chỉ những người chưa thành niên từ
đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi mới phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi
phạm tội, còn người chưa thành niên dưới 14 tuổi thì không phải chịu trách
nhiệm hình sự. Trong đó, người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi
chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc
tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, còn người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu
trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm (Điều 12 BLHS năm 1999).
Người dưới 18 tuổi là một dạng chủ thể thực hiện hành vi phạm tội đặc
biệt. Các quốc gia trên thế giới và ngay trong hệ thống pháp luật Việt Nam
trước đây cũng chưa thống nhất về khái niệm người chưa thành niên, vị thành
nên, để tìm hiểu khái niệm và bản chất pháp lý của miễn trách nhiệm hình sự,
thì không thể không xem xét khái niệm trách nhiệm hình sự và những nội
dung xung quanh vấn đề này. Bởi lẽ, việc nhận thức khoa học đúng đắn về
trách nhiệm hình sự sẽ tạo cơ sở vững chắc cho nhận thức về miễn trách
nhiệm hình sự. Do vậy, trước khi đi vào nghiên cứu khái niệm và bản chất
pháp lý của chế định miễn trách nhiệm hình sự cần phải hiểu khái niệm và
một số nội dung cơ bản xung quanh chế định trách nhiệm hình sự trong luật
hình sự Việt Nam.
Trách nhiệm hình sự là một thuật ngữ pháp lý và được sử dụng đối với
người có hành vi vi phạm pháp luật hình sự. Trên cơ sở phân tích khoa học
các quan điểm khác nhau về trách nhiệm hình sự, chúng tôi rút ra khái niệm
chung nhất về trách nhiệm hình sự như sau “Trách nhiệm hình sự là là một
dạng trách nhiệm pháp lý, là hậu quả pháp lý bất lợi mà người phạm tội phải
gánh chịu trước Nhà nước do việc người đó thực hiện tội phạm và là kết quả
10
của việc áp dụng các quy phạm của pháp luật hình sự, được thể hiện ở bản án
kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật và một số biện pháp cưỡng chế hình
sự khác do pháp luật hình sự quy định”. Theo đó, trách nhiệm hình sự là hậu
quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm, trách nhiệm hình sự chỉ phát sinh khi
có sự việc phạm tội và chính vì thế, nó là dạng trách nhiệm pháp lý nghiêm
khắc nhất so với bất kỳ dạng trách nhiệm pháp lý nào khác. Trách nhiệm hình
sự chỉ được thực hiện trong phạm vi của quan hệ pháp luật hình sự giữa hai
bên với tính chất là hai chủ thể có các quyền và nghĩa vụ nhất định - một bên
là Nhà nước, còn bên kia là người phạm tội.
Nghiên cứu TNHS, không thể không đề cập đến vấn đề cơ sở và những
điều kiện của nó. Bởi lẽ, việc làm rõ các nội dung này là yêu cầu quan trọng
trong việc đảm bảo nguyên tắc pháp chế trong luật hình sự, bảo đảm quyền và
lợi ích hợp pháp của công dân, cũng như loại trừ việc áp dụng TNHS theo
giúp họ trở thành người có ích cho xã hội. Hiện nay, cũng giống như khái
niệm TNHS, trong khoa học luật hình sự xung quanh khái niệm miễn TNHS
vẫn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau. Tuy nhiên dưới góc độ khoa học luật
hình sự có thể định nghĩa: “Miễn TNHS là một chế định nhân đạo của PLHS
Việt Nam và được thể hiện bằng văn bản với nội dung hủy bỏ hậu quả pháp lý
của việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm đối với
người đối với người bị coi là có lỗi trong việc thực hiện hành vi đó, do các cơ
quan tư pháp hình sự có thẩm quyền tùy thuộc vào giai đoạn tố tụng hình sự
tương ứng áp dụng khi có đầy đủ căn cứ pháp lý và những điều kiện luật
định.” [8, tr. 3]
Từ khái niệm miễn TNHS nói chung trong luật hình sự, chúng ta có thể
hiểu khái niệm miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong luật
hình sự như sau: Miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là một chế
định nhân đạo của luật hình sự Việt Nam và được thể hiện bằng văn bản với
nội dung hủy bỏ hậu quả pháp lý của việc thực hiện hành vi phạm tội đối với
12
người dưới 18 tuổi phạm tội bị coi là có lỗi trong việc thực hiện hành vi đó,
do các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền tùy thuộc vào giai đoạn tố tụng
hình sự tương ứng áp dụng khi có đầy đủ căn cứ pháp lý và những điều kiện
luật định.
1.1.2. Đặc điểm của miễn trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18
tuổi phạm tội
Xuất phát từ khái niệm nêu trên và trên cơ sở nghiên cứu các quy định
của pháp luật hình sự hiện hành có liên quan đến miễn trách nhiệm hình sự,
tác giả có thể chỉ ra một số đặc điểm cơ bản của nó như sau:
Thứ nhất, đây là trường hợp miễn TNHS đặc biệt dành riêng cho người
dưới 18 tuổi phạm tội, là một trong những chế định phản ánh rõ nét nhất
sơ thẩm trong trường hợp miễn TNHS hoặc miễn hình phạt cho bị cáo (điểm a
khoản 1 Điều 249).
Thứ năm, người dưới 18 tuổi phạm tội được miễn TNHS đương nhiên
không phải chịu các hậu quả pháp lý bất lợi của việc phạm tội do mình thực
hiện như không bị truy cứu TNHS, không phải chịu hình phạt, không bị coi là
có án tích. Như vậy người dưới 18 tuổi phạm tội vẫn có thể phải chịu một
hoặc nhiều biện pháp tác động về mặt pháp lý thuộc các ngành luật tương ứng
khác như: buộc phải phục hồi lại tình trạng ban đầu, buộc bồi thường thiệt
hại.
Thứ sáu, pháp luật hình sự Việt Nam quy định chế định miễn TNHS
đối với người dưới 18 tuổi phạm tội có ý nghĩa quan trọng trong áp dụng pháp
luật cũng như giáo dục cải tạo người dưới 18 tuổi phạm tội, không những
động viên, khuyến khích người phạm tội lập công chuộc tội, chứng tỏ khả
năng giáo dục, cải tạo nhanh chóng hòa nhập cộng đồng mà còn tạo cơ sở
pháp lý cho sự kết hợp các biện pháp cưỡng chế hình sự của nhà nước với các
14
biện pháp tác động xã hội trong việc giáo dục, cải tạo người phạm tội, giúp họ
trở thành người có ích trong xã hội.
1.1.3. Ý nghĩa của việc quy định miễn trách nhiệm hình sự
Thứ nhất, dưới góc độ chính trị-xã hội, việc quy định những trường hợp
miễn trách nhiệm hình sự trong pháp luật hình sự giúp cho các cơ quan tư
pháp hình sự có thẩm quyền xác định được chính xác và đúng đắn trường hợp
nào người phạm tội và hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa,
hoặc không cần thiết phải áp dụng TNHS mà vẫn đảm bảo yêu cầu đấu tranh
phòng và chống tội phạm, hạn chế tới mức thấp nhất sự lạm dụng và tùy tiện
khi áp dụng, qua đó tôn trọng và bảo đảm nguyên tắc pháp chế xã hội chủ
nghĩa, nguyên tắc công bằng trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Đặc biệt, ngoài
phạm tội là một trong những chế định phản ánh rõ nét nhân đạo của PLHS
Việt Nam và nguyên tắc bảo đảm lợi ích tốt nhất cho người chưa thành niên.
Miễn TNHS là một biện pháp hữu hiệu của Nhà nước để thực hiện chính sách
phân hóa và thể hiện mục đích của việc xử lý người chưa thành niên phạm tội,
đó là giáo dục, giúp đỡ người chưa thành niên sửa chữa sai lầm, phát triển
lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội, đây là nguyên tắc xuyên
suốt, cần phải tuân thủ cho dù áp dụng biện pháp xử lý nào đối với người
chưa thành niên. Còn nguyên tắc vì lợi ích tốt nhất của người chưa thành niên
là một nguyên tắc có ý nghĩa định hướng cho cán bộ tiến hành tố tụng khi
quyết định lựa chọn biện pháp xử lý cụ thể đối với người chưa thành niên,
nhằm tìm ra biện pháp phù hợp nhất đối với người chưa thành niên phạm tội.
16
1.2. Khái quát lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam từ khi ban hành Bộ
luật hình sự năm 1985 đến Bộ luật hình sự năm 2015 về miễn trách
nhiệm hình sự đối với ngƣời dƣới 18 tuổi phạm tội
1.2.1. Giai đoạn từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến pháp
điển hóa lần thứ nhất – Bộ luật hình sự năm 1985
Cho đến BLHS năm 1985, chế định miễn TNHS đối với người dưới 18
tuổi phạm tội mới được nhà làm luật nước ta ghi nhận chính thức, còn trước
đó chưa được ghi nhận với tính chất là một chế định độc lập trong pháp luật
hình sự nhưng trong thực tiễn xét xử và một số văn bản pháp lý đã thừa nhận
và áp dụng với nhiều tên gọi khác nhau như: “xá miễn”, “tha miễn trách
nhiệm hình sự”, “miễn tố”, “tha bổng bị cáo”, “miễn nghị cho bị cáo”, “miễn
hết cả tội”... cũng được áp dụng cho người dưới 18 tuổi phạm tội. Có thể liệt
kê đến một số văn bản thời kỳ trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985
có đề cập vấn đề miễn TNHS như: Sắc lệnh số 52/SL ngày 20/10/1945 xá
miễn cho một số tội phạm trước ngày 19/08/1945; Thông tư số 314-TTg ngày
thuyền bị phạt do luật lao động; 4. Tội phạm trong khi đình công; 5. Tội
phạm vào luật lệ về quan thuế và thương mại, rượu lậu, thuốc phiện lậu, muối
lậu và các hàng hóa lậu khác; 6. Tội phạm vào luật lệ kiểm lâm; 7. Tội vô ý
giết người hoặc đánh người có thương tích; và 8. Tội vi cảnh”. Theo đó, đại
xá là một biện pháp khoan hồng của Nhà nước, có tác dụng tha tội – thường là
hoàn toàn và triệt để – cho hàng loạt những người phạm những tội nhất định
nào đó, có ý nghĩa chính trị rất to lớn, thường chỉ được ban hành vào những
dịp có những sự kiện đặc biệt quan trọng trong đời sống chính trị của đất
nước. Như vậy, miễn TNHS được áp dụng trong trường hợp xá miễn. Và
cũng theo Điều 4 Sắc lệnh số 52/SL này thì “Những tội được xá miễn đều coi
như không phạm bao giờ; quyền công tố sẽ tiêu hủy, những chính hình và phụ
hình mà Tòa án đã tuyên đều bỏ hết. Những tiền phạt hoặc án phí mà công
18