PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO CÁC ĐƠN VỊ DỰ TOÁN NGÂN SÁCH TỪ THỰC TIỄN NGÀNH KIỂM SÁT NHÂN DÂN - Pdf 46

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

CHU THỊ QUYÊN

PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO
CÁC ĐƠN VỊ DỰ TOÁN NGÂN SÁCH TỪ THỰC TIỄN NGÀNH
KIỂM SÁT NHÂN DÂN
Chuyên ngành: Luật Kinh Tế
Mã số

:

60.38.01.07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. PHẠM THỊ GIANG THU

HÀ NỘI, 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi. Các số
liệu trích dẫn trong luận văn dựa trên số liệu bảo đảm độ tin cậy, chính xác và trung
thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác.

Tác giả



Nghị quyết

TW

Trung ương

NSNN

Ngân sách nhà nước

KSND

Kiểm sát nhân dân

TT

Thông tư



Nghị định

CP

Chính phủ

BTC

Bộ Tài chính


Viện kiểm sát nhân dân tối cao

ĐVDT

Đơn vị dự toán

KTNN

Kiểm toán nhà nước


DANH MỤC BẢNG BIỂU
Hình 2.1: Tổ chức đơn vị dự toán ngân sách ngành Kiểm sát nhân dân ..................33
Bảng 2.1: Kinh phí cấp cho ngành Kiểm sát nhân dân từ năm 2012-2015 ..............38
Hình 2.2: Phân cấp lập dự toán ngân sách nhà nước ngành Kiểm sát nhân dân.......40
Hình 2.3: Phân cấp giao dự toán ngân sách nhà nước ngành Kiểm sát nhân dân.....43
Hình 2.4: Phân cấp quyết toán ngân sách nhà nước ngành Kiểm sát nhân dân ........46
Bảng 2.2: Kết quả kiểm toán chi ngân sách nhà nước giai đoạn 2012-2015 ............51


Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngân sách nhà nước là nguồn lực tài chính của quốc gia. Việc quản lý quá
trình hình thành và phân bổ một cách có hiệu quả ngân sách nhà nước là vấn đề
quan trọng và cấp thiết của các quốc gia trên thế giới. Quản lý ngân sách nhà nước
là một bộ phận cấu thành của quản lý nhà nước trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội và
được thực hiện bởi hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước từ trung ương đến địa
phương.
Trên phương diện lý thuyết cũng như tổng kết thực tiễn, phân cấp quản lý

vụ các khâu công tác nghiệp vụ, tạo đột phá trong thực hiện nhiệm vụ chuyên môn
thì thực tiễn đặt ra trong công tác quản lý tài chính là phải nâng cao hiệu quả phân
cấp quản lý ngân sách nhà nước cho các đơn vị dự toán trong ngành Kiểm sát nhân
dân nhằm đảm bảo tốt hơn nữa điều kiện cơ sở, vật chất, kinh phí của ngành, tăng
tính chủ động, trách nhiệm của đơn vị dự toán ngân sách các cấp trong quản lý sử
dụng ngân sách nhà nước nhằm sử dụng tiết kiệm, hiệu quả ngân sách nhà nước.
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn nêu trên, học viên đã lựa chọn đề tài: “Phân cấp
quản lý ngân sách nhà nước cho các đơn vị dự toán ngân sách từ thực tiễn ngành
Kiểm sát nhân dân" làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Phân cấp quản lý nói chung và phân cấp quản lý ngân sách nhà nước nói riêng
là đề tài được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu trong những năm vừa qua. Cụ thể
như:
- Cuốn "Phân cấp ở Đông Á để chính quyền địa phương phát huy tác dụng"
của Ngân hàng Thế giới do Nhà xuất bản Văn hoá thông tin ấn hành năm 2005 đã
cung cấp nhiều vấn đề mang tính lý thuyết về phân cấp.
- Cuốn sách “Trao quyền trong thực tế – từ sự phân tích đến thực hiện” của
Ngân hàng thế giới, Nhà xuất bản văn hóa thông tin (năm 2006) đề cập đến vấn đề
trao quyền-cách hiểu và áp dụng trong thực tiễn.
Đề tài: “Thực hiện tốt sự phân cấp giữa chính quyền Trung ương với chính
quyền địa phương" Viện quản lý kinh tế Trung ương thực hiện (2005). Cuốn sách
“Phân cấp quản lý nhà nước - Lí luận và thực tiễn" của PGS.TS Võ Kim Sơn, do
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành năm 2004. Cuốn sách “Phân cấp ngân sách
cho chính quyền địa phương - Thực trạng và giải pháp” của tác giả PGS.TS Lê Chi
Mai (2006) do Nhà xuất bản chính trị quốc gia phát hành. Cuốn sách “Điều hòa
ngân sách giữa trung ương và địa phương” của tác giả TS Bùi Đường Nghiêu (chủ
biên 2006) do Nhà xuất bản chính trị quốc gia phát hành. Ngoài ra còn nhiều công

2


ngân sách nói riêng, đồng thời xây dựng hệ thống các giải pháp nâng cao hiệu quả
phân cấp quản lý ngân sách nhà nước cho các đơn vị dự toán là rất cần thiết.

3


3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Đề tài hệ thống hóa lý thuyết cơ bản về quản lý ngân sách nhà nước, nghiên
cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật phân cấp quản lý ngân sách cho
các đơn vị dự toán ngân sách.
Trên cơ sở tìm hiểu về thực trạng phân cấp quản lý ngân sách cho các đơn vị
dự toán ngân sách trong ngành Kiểm sát nhân dân; đánh giá những kết quả đã đạt
được, những tồn tại, hạn chế trong việc phân cấp quản lý NSNN cho các đơn vị dự
toán ngân sách ngành Kiểm sát nhân dân đưa ra phương hướng và giải pháp chủ yếu
nhằm hoàn thiện phân cấp quản lý ngân sách nhà nước.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nghiên cứu nói trên, luận văn tập trung giải quyết các
nhiệm vụ trọng tâm, chủ yếu sau:
- Hệ thống hóa, làm rõ thêm một số vấn đề lý luận cơ bản, các căn cứ pháp lý,
cơ chế điều hành, quản lý của nhà nước về quản lý ngân sách nhà nước trong ngành
Kiểm sát nhân dân dân hiện nay.
- Phân tích, đánh giá thực trạng phân cấp quản lý ngân sách nhà nước cho các
đơn vị dự toán NS ngành Kiểm sát nhân dân trong giai đoạn 2012 - 2015 từ đó đề
xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện phân cấp quản lý NSNN cho các đơn vị
dự toán ngân sách trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu của luận văn
Luận văn tập trung nghiên cứu về phân cấp quản lý ngân sách nhà nước cho
các đơn vị dự toán ngân sách.

nước cho các đơn vị dự toán trong ngành Kiểm sát nhân dân.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Luận văn góp phần hệ thống hóa, phân tích và làm rõ thêm một số vấn đề lý
luận; các qui định quản lý ngân sách nhà nước, phân cấp quản lý ngân sách cho các
đơn vị dự toán ngân sách.
- Phân tích, làm rõ thực trạng phân cấp quản lý ngân sách nhà nước cho đơn vị
dự toán các cấp trong ngành Kiểm sát nhân dân, đánh giá những kết quả đạt được,
chỉ rõ những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân.
- Đề xuất phương hướng và hệ thống giải pháp chủ yếu hoàn thiện phân cấp
quản lý ngân sách nhà nước cho các đơn vị dự toán của ngành Kiểm sát nhân dân
nhằm sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nguồn vốn ngân sách nhà nước, góp phần nâng
cao hiệu quả hoạt động của bộ máy cơ quan Viện kiểm sát nhân dân để hoàn thành

5


tốt các mục tiêu, nhiệm vụ trính trị mà Đảng và Nhà nước đã giao cho ngành Kiểm
sát nhân dân gắn với yêu cầu đẩy mạnh cải cách tư pháp.
7. Cơ cấu của luận văn
Chương 1. Cơ sở lý luận của phân cấp quản lý ngân sách nhà nước cho các
đơn vị dự toán ngân sách.
Chương 2. Thực trạng phân cấp quản lý ngân sách cho các đơn vị dự toán
ngân sách ngành Kiểm sát nhân dân.
Chương 3. Phương hướng và giải pháp hoàn thiện phân cấp quản lý ngân sách
cho các đơn vị dự toán ngành Kiểm sát nhân dân.

6


Chương 1

làm ra theo một trình tự riêng, không hoàn toàn giống với trình tự lập pháp thông
7


thường; thứ hai, hiệu lực về thời gian của đạo luật ngân sách thường xác định là một
năm trong khi hiệu lực của các đạo luật thông thường là vô hạn. [3, tr.11-15]
Luật Ngân sách nhà nước của Việt Nam năm 2015 quy định: “Ngân sách nhà
nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong
một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để
bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước".
Các đặc điểm của ngân sách nhà nước
NSNN vừa là nguồn lực để nuôi dưỡng bộ máy nhà nước, vừa là công cụ hữu
hiệu để Nhà nước quản lý, điều tiết nền kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội,
NSNN có các đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, ngân sách nhà nước là một kế hoạch tài chính khổng lồ nhất cần
được Quốc hội biểu quyết thông qua trước khi thi hành. Đặc điểm này cho thấy việc
thiết lập NSNN không chỉ là kỹ thuật nghiệp vụ kinh tế (lập dự toán các khoản thu
và chi định thực hiện trong một năm) mà còn là vấn đề mang tính kỹ thuật pháp lý
(nghĩa là phải trải qua giai đoạn xem xét, biểu quyết thông qua tại Quốc hội giống
như việc ban hành một đạo luật để làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ pháp lý
nhất định cho các chủ thể tham gia vào hoạt động ngân sách). Do ngân sách nhà
nước bắt buộc phải được quốc hội biểu quyết thông qua như một kỹ thuật pháp lý
nên ngân sách nhà nước khác hẳn với các loại ngân sách thông thường (ví dụ: ngân
sách gia đình, ngân sách của các tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị - xã hội...). Sự
khác biệt thể hiện ở chỗ, ngân sách nhà nước vừa phản ánh các hành vi kinh tế (lập
dự trù các khoản thu, chi sẽ thực hiện trong tương lai), vừa thể hiện các hành vi
pháp lý của các chủ thể có thẩm quyền (cơ quan hành pháp có trách nhiệm lập dự
toán ngân sách và cơ quan lập pháp có thẩm quyền quyết định bản dự toán đó).
Trong khi đó, các loại ngân sách của các chủ thể khác thì chỉ phản ánh các hành vi
thuần túy kinh tế (mang tính chất kỹ thuật tài chính) như lập dự trù kế hoạch thu chi

thể khác như ngân sách của các tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị - xã hội, ngân sách
cá nhân hay ngân sách của hộ gia đình. Sự khác biệt này thể hiện ở chỗ, việc thiết
lập và thi hành ngân sách nhà nước rất cần có sự tham gia kiểm soát của dân chúng
(có thể bằng cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua cơ quan đại diện cho mình là
quốc hội) với mục đích nhằm bảo vệ lợi ích chung, trong khi đối với các loại ngân
sách của các chủ thể khác thì nhà nước cần phải để cho chính chủ thể đó tự quyết
định và tự chịu trách nhiệm về các hậu quả xảy ra cho mình trong quá trình xây
dựng và thực thi ngân sách trên cơ sở tôn trọng quyền tự định đoạt đối với lợi ích
riêng của các chủ thể đó. Trong trường hợp cần thiết, việc thi hành ngân sách của
các chủ thể này cũng chỉ chịu sự kiểm tra, giám sát của một số cơ quan hành pháp
nhưng cũng bị giới hạn trong một phạm vi hợp lý theo quy định của pháp luật.
9


Thứ tư, ngân sách nhà nước được thiết lập và thực thi hoàn toàn vì mục tiêu
mưu cầu lợi ích chung cho toàn thể quốc gia, không phân biệt người thụ hưởng các
lợi ích đó là ai, thuộc thành phần kinh tế này hay đẳng cấp xã hội nào. Lợi ích
chung là yếu tố ảnh hưởng mang tính quyết định đến việc tiến hành các nghiệp vụ
tài chính (nghiệp vụ thu, chi ngân sách) của chính phủ mà ở đó chính phủ luôn tìm
cách thỏa mãn tối đa các nhiệm vụ chi, tiêu đã được hoạch định và cho phép thực
hiện bởi quốc hội. Đôi khi, vì mục tiêu thỏa mãn lợi ích chung của toàn thể quốc gia
mà chính phủ buộc phải tiến hành những nhiệm vụ chi không chắc chắn đem lại
một lợi ích cụ thể nào cho riêng mình, ví dụ như việc trợ cấp cho nhân dân các vùng
bị thiên tại, địch họa hay việc tài trợ cho các doanh nghiệp trong nước bằng biện
pháp trợ giá nhằm phục hồi một ngành sản xuất quan trọng nào đó của đất nước.
Đặc điểm này khiến cho ngân sách nhà nước khác biệt đáng kể với ngân sách của
các tổ chức khác, các cá nhân hay hộ gia đình, bởi lẽ ngân sách của các chủ thể này
liên quan trực tiếp đến lợi ích riêng tư của mỗi chủ thể đó và bao giờ chúng cũng
được thiết lập, thực hiện vì mục tiêu đem lại những lợi ích cụ thể cho chính họ. Suy
cho cùng, điểm khác biệt này giữa ngân sách nhà nước với ngân sách tư nhân thể

phối của ngân sách cấp trên và được trợ cấp từ ngân sách cấp trên nhằm đảm bảo
cân đối ngân sách của ngân sách cấp mình.
Tính dân chủ: thể hiện dự toán và quyết toán ngân sách phải được tổng hợp từ
ngân sách cấp dưới, đồng thời mỗi cấp chính quyền có một ngân sách và được
quyền chi phối ngân sách cấp mình.
1.1.3. Đơn vị dự toán ngân sách nhà nước
Đơn vị dự toán ngân sách là cơ quan, tổ chức, đơn vị được cấp có thẩm quyền
giao dự toán ngân sách.
Điểm 1.1 Khoản 1 Mục V Thông tư số 59/2003/TT-BTC ngày 23/6/2003
hướng dẫn thực hiện Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 6/6/2003 của Chính phủ
quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Ngân sách nhà nước quy định về đơn
vị dự toán các cấp như sau:
“Đơn vị dự toán cấp I: là đơn vị trực tiếp nhận dự toán ngân sách hàng năm do
Thủ tướng Chính phủ hoặc Ủy ban Nhân dân giao. Đơn vị dự toán cấp I thực hiện
phân bổ, giao dự toán ngân sách cho đơn vị cấp dưới trực thuộc; chịu trách nhiệm
trước nhà nước về việc tổ chức, thực hiện công tác kế toán và quyết toán ngân sách
của đơn vị mình và công tác kế toán và quyết toán ngân sách của các đơn vị cấp
dưới trực thuộc.
Đơn vị dự toán cấp II: là đơn vị cấp dưới đơn vị dự toán cấp I, được đơn vị dự
toán cấp I giao dự toán và phân bổ dự toán giao cho đơn vị dự toán cấp III (Trường
hợp được ủy quyền của đơn vị dự toán cấp I), chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện
11


công tác kế toán và quyết toán ngân sách của đơn vị mình và công tác kế toán và
quyết toán của đơn vị cấp dưới.
Đơn vị dự toán cấp III: là đơn vị trực tiếp sử dụng ngân sách, được đơn vị dự
toán cấp I hoặc cấp II giao dự toán ngân sách, có trách nhiệm tổ chức, thực hiện
công tác kế toán và quyết toán ngân sách của đơn vị mình.
Đơn vị cấp dưới của đơn vị dự toán cấp III được nhận kinh phí để thực hiện

pháp trong quản lý ngân sách.
Quản lý ngân sách nhà nước trong đơn vị dự toán ngân sách nhà nước là sự
quản lý kết hợp yếu tố con người và yêu tố tài chính: Các đơn vị dự toán ngân sách
nhà nước vừa là người thụ hưởng ngân sách nhà nước, vừa là người tổ chức các
hoạt động ngân sách, cho nên trước hết phải quản lý con người; các hoạt động ngân
sách nhà nước có liên quan đến tất cả các chủ thể nhằm phục vụ cho việc điều hành
hoạt động của cơ quan nhà nước và thực hiện các nhiệm vụ cụ thể do nhà nước
giao.
Hoạt động ngân sách là hoạt động thu, chi ngân sách nhà nước. Nhưng để hoạt
động thu, chi mang lại hiệu quả tốt, phải có chính sách, cơ chế quản lý ngân sách
đồng bộ và Luật ngân sách nhà nước làm công cụ pháp lý quan trọng để quản lý và
điều hành ngân sách. Trên cơ sở đó, phải không ngừng hoàn thiện cơ chế quản lý
ngân sách. Một cơ chế quản lý ngân sách được coi là hợp lý khi các bộ phận trong
cơ chế đó mang tính hệ thống đồng bộ, không triệt tiêu lẫn nhau, làm hạn chế tác
dụng tích cực của cơ chế.
Hệ thống các phương pháp quản lý ngân sách nhà nước trong đơn vị dự toán
được sử dụng đồng thời, có sự tác động, hỗ trợ, kiểm soát lẫn nhau như chính sách
động viên, chi đầu tư phát triển, phân cấp ngân sách, cân đối ngân sách, quy trình
ngân sách… trong đó quy trình ngân sách và phân cấp quản lý ngân sách nhà nước
cho các đơn vị dự toán ngân sách nhà nước giữ vai trò quan trọng.
1.2. Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước cho các đơn vị dự toán ngân sách
1.2.1. Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật
Hệ thống chính quyền nhà nước được tổ chức thành nhiều cấp, nhiều đơn vị
dự toán và mỗi cấp, mỗi đơn vị dự toán ngân sách đều được phân giao những nhiệm
vụ nhất định. Để thực hiện những nhiệm vụ đó, mỗi cấp, mỗi đơn vị dự toán lại
được phân giao những quyền hạn cụ thể về nhân sự, kinh tế, hành chính và ngân
sách.
Việc hình thành hệ thống ngân sách nhà nước gồm nhiều cấp, nhiều đơn vị dự
toán thì việc phân cấp ngân sách nhà nước là một tất yếu khách quan. Bởi vì mỗi
cấp ngân sách nhà nước, mỗi đơn vị dự toán ngân sách nhà nước đều có nhiệm vụ

sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới từ 3 đến 5 năm.
Sau 2 năm thực hiện, Luật ngân sách nhà nước ngày 20/6/1996 được sửa đổi,
bổ sung bằng Luật NSNN ngày 20/5/1998. Ngày 18/7/1998 Chính phủ ban hành
Nghị định số 51/1998/NĐ-CP sửa đổ, bổ sung một số điều của Nghị định số 87/NĐCP quy định chi tiết việc phân cấp, quản lý, lập, chấp hành và quyết toán NSNN.

14


Theo đó, quan hệ giữa ngân sách các cấp được thực hiện theo nguyên tắc bổ
sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới để bảo đảm công bằng, phát
triển cân đối giữa các vùng, các địa phương. Số bổ sung là khoản thu của ngân sách
cấp dưới. Trường hợp cơ quan quản lý nhà nước cấp trên ủy quyền cho cơ quan
quản lý nhà nước cấp dưới thực hiện nhiệm vụ chi thuộc chức năng của mình, thì
phải chuyển kinh phí từ ngân sách cấp trên cho cấp dưới để thực hiện nhiệm vụ đó.
Ngoài việc bổ sung nguồn thu và ủy quyền thực hiện nhiệm vụ chi đã quy
định, không được dùng ngân sách của cấp này để chi cho nhiệm vụ của cấp khác,
trừ một số trường hợp ngoại lệ, ủy ban nhân dân các cấp được sử dụng ngân sách
trong phạm vi được phân cấp để hỗ trợ cho các đơn vị do cấp trên quản lý đóng trên
địa bàn. Quy định về phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi của NSTW và ngân sách
tỉnh, xã, thị trấn cũng được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 51/1998/NĐ-CP cho
phù hợp với tình hình mới.
Năm 2002, nhằm tiếp tục hoàn thiện thể chế quản lý ngân sách nhà nước theo
hướng đổi mới, tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật ngân sách nhà
nước (sửa đổi) và có hiệu lực thi hành từ năm ngân sách 2004. Luật ngân sách nhà
nước năm 2002 đã quy định nguyên tắc phân cấp: Ngân sách trung ương và ngân
sách mỗi cấp chính quyền địa phương được phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi cụ
thể. Ngân sách trung ương giữ vai trò chủ đạo, bảo đảm thực hiện các nhiệm vụ
chiến lược, quan trọng của quốc gia và hỗ trợ những địa phương chưa cân đối được
thu, chi ngân sách. Ngân sách địa phương được phân cấp nguồn thu bảo đảm chủ
động trong thực hiện những nhiệm vụ được giao

của các cơ quan, tổ chức, đơn vị được cấp có thẩm quyền giao dự toán ngân sách.
Phân cấp quản lý Ngân sách nhà nước bao gồm quyền quyết định về ngân sách
và thẩm quyền quản lý ngân sách nhà nước.
Như vậy, phân cấp quản lý ngân sách nhà nước cho các đơn vị dự toán ngân
sách nhà nước là việc xác định phạm vi, trách nhiệm và quyền hạn của các đơn vị
dự toán ngân sách trong việc quản lý ngân sách nhà nước.
Mục tiêu của phân cấp quản lý ngân sách nhà nước cho các đơn vị dự
toán ngân sách
Một là, phát huy tính năng động sáng tạo, quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm
của các đơn vị dự toán nhằm phục vụ tốt nhất nhiệm vụ được giao nhằm góp phần
phát triển kinh tế, đảm bảo an ninh quốc phòng, xóa đói , giảm nghèo, thúc đẩy nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế và
khu vực, đẩy mạnh tiến trình cải cách hành chính.

16


Hai là, tạo ra sự đồng bộ thống nhất trong hệ thống thể chế, văn bản quy phạm
pháp luật gắn với đổi mới cơ chế và đảm bảo quyền tự chủ tự chịu trách nhiệm của
các đơn vị cơ sở. Đảm bảo sự quản lý tập trung, thống nhất về nguồn lực để đảm
bảo khả năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà
nước, phát triển kinh tế-xã hội.
Ba là, làm rõ quyền hạn và trách nhiệm, nguồn lực và nhiệm vụ của đơn vị dự
toán ngân sách trong quản lý sử dụng ngân sách nhà nước, giải quyết mối quan hệ
tài chính giữa các ngành và địa bàn lãnh thổ. Khắc phục những chồng chéo hoặc
thiếu sót trong từng nội dung quản lý.
Bốn là, tạo ra mối liên kết đồng thuận giữa các cơ quan Tài chính, cơ quan Kế
hoạch đầu tư và các ngành chức năng liên quan với chính quyền các cấp, các đơn vị
dự toán ngân sách trong từng nội dung quản lý.
Vai trò của phân cấp quản lý ngân sách nhà nước cho các đơn vị dự toán

sách nhà nước, phục vụ cho sự phát triển kinh tế, xã hội của Quốc gia.
Hai là, phát huy tính chủ động của các đơn vị sử dụng ngân sách: Khi các địa
phương được chủ động về ngân sách sẽ làm tăng hiệu quả sử dụng ngân sách thông
qua việc cung cấp dịch vụ công cộng cũng như phúc lợi kinh tế cho người dân của
địa phương.
Ba là, khuyến khích cung cấp hiệu quả hàng hóa công cộng: Mục đích của
phân cấp quản lý ngân sách nhà nước là khuyến khích các địa phương chi ngân sách
cho việc cung cấp các hàng hóa công cộng quan trọng và có giá trị lâu dài như giáo
dục, y tế…
Bốn là, tăng cường năng lực quản lý cho các cấp chính quyền: Nếu phân cấp
quản lý ngân ngân sách nhà nước tốt hơn sẽ góp phần vào tăng năng lực quản lý nhà
nước của chính quyền trung ương và địa phương qua đó làm tăng hiệu quả quản lý
ngân sách nhà nước.
Năm là, tạo điều kiện cho việc giám sát ngân sách nhà nước: Giám sát là một
trong những chức năng cơ bản của Quốc hội, Hội đồng nhân dân. Giám sát trong
phân cấp quản lý ngân scahs nhà nước là để bảo đảm các yêu cầu luật pháp và chính
sách về ngân sách nhà nước được chấp hành một cách dân chủ, đúng đắn, hiệu quả
và hiệu lực.
Giám sát là cầu nối để qua đó Quốc hội, Hội đồng nhân dân quyết định các
vấn đề quan trọng của quốc gia, của địa phương. Thực tế cho thấy trong công tác
xây dựng pháp luật về ngân sách, nếu chỉ quy định chung có tính nguyên tắc về cơ
chế quản lý, mà không quy định rõ về định mức, tiêu chuẩn phân bổ kinh phí thì
không thể nói đến sự công bằng trong sử dụng ngân sách và càng không thể có đủ
cơ sở để phát hiện các hành vi tiêu cực tham nhũng. Hơn nữa các tiêu chuẩn định
18


mức, thủ tục và chế độ trách nhiệm phải được công khai, minh bạch để các đối
tượng nhận thức, thống nhất hành động và giám sát thực hiện.
Giám sát thực hiện các quy định phân cấp quản lý NSNN sẽ góp phần kịp thời



chi của các cấp ngân sách; bảo đảm tính tập trung dân chủ, phát huy tính chủ động
sáng tạo của ngân sách địa phương.
Hai là, tính chất đặc thù của hệ thống ngân sách nhà nước: Hệ thống ngân
sách nhà nước của mỗi quốc gia thường được phân thành các cấp tương ứng với hệ
thống bộ máy nhà nước.
Ba là, tính đặc thù của hoạt động quản lý nhà nước: điều này được thể hiện tại
các quốc gia mà quyền lực nhà nước có tính chất tập trung cao thì các nguồn thu
ngân sách lớn là của cấp trung ương, địa phương được phân cấp những nguồn thu
nhỏ, tại các quốc gia mà quyền lực nhà nước có sự phân cấp mạnh hơn thì cấp địa
phương có nhiều quyền độc lập tương đối trong việc ban hành và thực thi nhiều
quyết định về ngân sách địa phương.
Bốn là, tính hiệu quả của việc cung cấp hàng hóa công cộng: Trong công tác
quản lý nhà nước, chính quyền trung ương và địa phương vừa đảm bảo chức năng
quản lý nhà nước vừa phải đảm bảo cung cấp các hàng hóa công cộng. Việc cung
cấp hang hóa công cộng ở cấp trực tiếp tiến hành chi trong phân cấp quản lý ngân
sách nhà nước sẽ làm cho việc chi tiêu hiệu quả hơn.
Nguyên tắc phân cấp quản lý ngân sách nhà nước cho các đơn vị dự toán
ngân sách
Để đảm bảo phân cấp quản lý ngân sách nhà nước nói chung và phân cấp quản
lý ngân sách nhà nước cho các đơn vị dự toán đem lại kết quả tốt cần quán triệt đầy
đủ các nguyên tắc cơ bản sau:
Một là, Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước phải phù hợp và đồng bộ với
phân cấp quản lý nhà nước.
Ngân sách nhà nước là công cụ tài chính của Nhà nước để phục vụ cho hoạt
động của bộ máy quản lý nhà nước. Bộ máy quản lý nhà nước được tổ chức thành
nhiều cấp khác nhau thì hệ thống ngân sách nhà nước cũng phải được tổ chức sao
cho phù hợp với cơ cấu của chủ thể sử dụng ngân sách nhà nước.
Hiến pháp và pháp luật của nhà nước thường có những quy định cụ thể về


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status