ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ HỒNG LUYẾN
C¤NG CHøNG HîP §åNG THÕ CHÊP
QUYÒN Sö DôNG §ÊT Vµ THùC TIÔN THùC HIÖN
T¹I TØNH QU¶NG B×NH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2017
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ HỒNG LUYẾN
C¤NG CHøNG HîP §åNG THÕ CHÊP
QUYÒN Sö DôNG §ÊT Vµ THùC TIÔN THùC HIÖN
T¹I TØNH QU¶NG B×NH
Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số
: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Quang Tuyến
10
ĐỒNG THẾ CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Ở VIỆT NAM
1.1.
Lý luận về công chứng
10
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của công chứng
10
1.1.2. Mục đích của hoạt động công chứng
16
1.1.3. Đối tượng của hoạt động công chứng
17
1.1.4. Giá trị của công chứng
19
1.2.
20
34
quyền sử dụng đất
1.3.4. Yêu cầu của hoạt động công chứng hợp đồng thế chấp quyền
38
sử dụng đất
1.3.5. Yêu cầu điều chỉnh của pháp luật đối với hoạt động công
chứng hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất
40
1.3.6. Các yếu tố đảm bảo cho hoạt động công chứng hợp đồng thế
42
chấp quyền sử dụng đất
Chương 2:
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CÔNG CHỨNG HỢP
47
ĐỒNG THẾ CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ THỰC
TIỄN THỰC HIỆN TẠI TỈNH QUẢNG BÌNH
2.1.
chấp quyền sử dụng đất tại tỉnh Quảng Bình
2.2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tác động đến việc thi
62
hành pháp luật về công chứng hợp đồng thế chấp quyền sử
dụng đất tại tỉnh Quảng Bình
2.2.2. Thực trạng thực hiện pháp luật về công chứng hợp đồng thế
70
chấp quyền sử dụng đất tại tỉnh Quảng Bình
2.2.3. Đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật về công chứng hợp
76
đồng thế chấp quyền sử dụng đất tại tỉnh Quảng Bình
Chương 3:
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CÔNG
87
CHỨNG HỢP ĐỒNG THẾ CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ NÂNG
CAO HIỆU QUẢ THI HÀNH TẠI TỈNH QUẢNG BÌNH
3.1.
Định hướng hoàn thiện pháp luật về công chứng hợp đồng
98
công chứng hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất tại tỉnh
Quảng Bình
KẾT LUẬN
103
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
106
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Thế chấp quyền sử dụng đất là một quyền năng cơ bản của người sử
dụng đất. Pháp luật đất đai quy định người sử dụng đất theo hình thức được
Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, được Nhà nước cho thuê đất trả
tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê, nhận chuyển nhượng quyền sử
dụng đất mà tiền nhận chuyển nhượng không có nguồn gốc từ ngân sách nhà
nước hoặc nhận chuyển nhượng toàn bộ hay một phần dự án đầu tư kinh
doanh bất động sản… thì được thế chấp quyền sử dụng đất. Thế chấp quyền
sử dụng đất ra đời cùng với việc ban hành Luật Đất đai năm 1993: "Hộ gia
đình, cá nhân được Nhà nước giao đất có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng,
cho thuê, thừa kế, thế chấp quyền sử dụng đất" [29, Điều 3]. Quy định này
tiếp tục được kế thừa và ghi nhận trong các đạo Luật Đất đai năm 2003 và
năm 2013. Thế chấp quyền sử dụng đất ra đời tạo điều kiện để người sử dụng
đất nói chung và hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nói riêng (đặc biệt là các hộ
gia đình, cá nhân nghèo) (gọi chung là bên vay) được tiếp cận nguồn vốn vay
phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực
chữ ký và chứng thực hợp đồng (sau đây gọi là Nghị định số 23/2015/NĐ-CP
ngày 16/02/2015). Trong khi đó, công chứng loại hợp đồng này do công
chứng viên của Văn phòng công chứng hay Phòng Công chứng thực hiện theo
quy định của Luật Công chứng năm 2014. Giữa hai hoạt động này có sự khác
nhau về nhiệm vụ, về trình tự, thủ tục và hậu quả pháp lý…; cụ thể:
Một là, theo quy định của Luật công chứng năm 2014:
Công chứng là việc công chứng viên của một tổ chức hành
nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp
đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản (gọi là hợp đồng, giao
dịch), tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản
dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ
tiếng nước ngoài sang tiếng Việt (gọi là bản dịch) mà theo quy định
của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu
cầu công chứng [35, Điều 2].
2
Trong khi đó, theo quy định tại Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày
16/02/2015: "Chứng thực hợp đồng, giao dịch là việc cơ quan có thẩm quyền
theo quy định tại Nghị định này chứng thực về thời gian, địa điểm giao kết
hợp đồng, giao dịch; năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc
dấu điểm chỉ của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch" [18, Điều 2]. Như
vậy, bản chất của công chứng là chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp
đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản. Còn chứng thực là việc cơ quan có
thẩm quyền chứng thực về thời gian, địa điểm giao kết hợp đồng, giao dịch;
năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc dấu điểm chỉ của các
bên tham gia hợp đồng, giao dịch. Với phân tích này thì việc công chứng hợp
đồng thế chấp quyền sử dụng đất và chứng thực hợp đồng thế chấp quyền sử
lý luận và thực tiễn về công chứng hợp đồng về quyền sử dụng đất nói chung
và công chứng hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất nói riêng như: Một là,
phân tích khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của công chứng hợp đồng về quyền
sử dụng đất (trong đó có hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất); Hai là, luận
giải yêu cầu của công chứng hợp đồng về quyền sử dụng đất; Ba là, đánh giá
thực trạng pháp luật về công chứng hợp đồng về quyền sử dụng đất và thực
tiễn thi hành nhằm chỉ ra những kết quả; những hạn chế, yếu kém và nguyên
nhân của hạn chế, yếu kém; Bốn là, đưa ra định hướng và giải pháp hoàn
thiện các quy định về công chứng hợp đồng về quyền sử dụng đất và nâng cao
hiệu quả thi hành… Tuy nhiên, xem xét dưới góc độ pháp luật về công chứng
hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất một cách có hệ thống, đầy đủ, chuyên
sâu và toàn diện trên phương diện lý luận, thực tiễn đặt trong mối quan hệ so
sánh, đối chiếu với thực tiễn thi hành trên địa bàn tỉnh Quảng Bình thì dường
như vẫn còn thiếu một công trình như vậy. Trên cơ sở kế thừa những kết quả
nghiên cứu của các công trình khoa học có liên quan đến đề tài đã công bố,
luận văn đi sâu tìm hiểu về công chứng hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất
và thực tiễn thi hành tại tỉnh Quảng Bình. Qua đó, đưa ra một số định hướng
và giải pháp hoàn thiện pháp luật về công chứng hợp đồng thế chấp quyền sử
dụng đất và nâng cao hiệu quả thi hành tại tỉnh Quảng Bình.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu tổng quát của luận văn là tìm ra những vướng
mắc, hạn chế về các vấn đề liên quan đến công chứng hợp đồng thế chấp
quyền sử dụng đất. Từ đó đưa ra các định hướng, giải pháp, kiến nghị góp
phần hoàn thiện pháp luật về công chứng hợp đồng thế chấp quyền sử dụng
đất và nâng cao hiệu quả thi hành tại tỉnh Quảng Bình.
6
7
- Hệ thống lý thuyết, trường phái học thuật về công chứng nói chung
và công chứng hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất nói riêng.
- Thực tiễn thi hành pháp luật về công chứng hợp đồng thế chấp quyền
sử dụng đất tại tỉnh Quảng Bình …
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Công chứng hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và thực tiễn thi
hành tại tỉnh Quảng Bình là một đề tài có phạm vi nghiên cứu rộng và liên
quan đến nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau. Tuy nhiên trong khuôn khổ của
một bản luận văn thạc sĩ luật, tác giả giới hạn phạm vi nghiên cứu của luận
văn ở những nội dung cụ thể sau:
- Giới hạn phạm vi nghiên cứu về nội dung. Nghiên cứu, tìm hiểu các
quy định về công chứng hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của Luật Đất
đai năm 2013, Luật Công chứng năm 2014, Bộ luật Dân sự năm 2015 và các
văn bản hướng dẫn thi hành;
- Giới hạn phạm vi nghiên cứu về không gian. Đánh giá thực tiễn thi
hành các quy định về công chứng hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất trên
địa bàn tỉnh Quảng Bình.
5. Phương pháp nghiên cứu
Khi thực hiện đề tài này, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu
cơ bản sau đây:
- Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy
vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin;
- Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
i) Phương pháp phân tích, phương pháp lịch sử, phương pháp đối
chiếu … được sử dụng tại Chương 1 khi nghiên cứu những vấn đề lý luận về
công chứng hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất ở Việt Nam.
ii) Phương pháp đánh giá, phương pháp so sánh, phương pháp thống
chấp quyền sử dụng đất và nâng cao hiệu quả thi hành tại tỉnh Quảng Bình.
9
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG CHỨNG
HỢP ĐỒNG THẾ CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Ở VIỆT NAM
1.1. LÝ LUẬN VỀ CÔNG CHỨNG
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của công chứng
1.1.1.1. Khái niệm về công chứng
Xã hội ngày càng phát triển, các quan hệ về trao đổi hàng hóa, tài sản
ngày càng đa dạng, phong phú giữa các cá nhân, tổ chức có nhu cầu. Các giao
dịch này thường được thể hiện thông qua lời nói, hành vi hoặc bằng văn bản.
Trong đó, các giao dịch liên quan đến các tài sản có giá trị lớn hoặc các giao
dịch quan trọng thường được lập thành văn bản ghi chép lại các nội dung đã
thỏa thuận, về quyền và nghĩa vụ giữa các bên tham gia giao dịch nhằm hạn
chế những tranh chấp có thể phát sinh. Đây là những bằng chứng quan trọng
làm cơ sở để giải quyết khi tranh chấp xảy ra. Những giao dịch này ngày càng
đòi hỏi phải có sự minh bạch, rõ ràng, xác định rõ trách nhiệm pháp lý, quyền
và nghĩa vụ giữa các bên tham gia giao dịch để ràng buộc nhau. Đồng thời,
quy định về thời hạn thực hiện giao dịch, về phương thức xử lý khi phát sinh
tranh chấp. Các quan hệ, giao dịch này không thể diễn ra một cách tự do, tùy
tiện, lộn xộn. Do đó phải có người thứ ba làm chứng, kiểm soát các nội dung
của giao dịch để đảm bảo giao dịch có giá trị pháp lý cao hơn. Đây chính là
hoạt động công chứng của các cơ quan công chứng.
Với mục đích tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong các giao dịch
dân sự, công chứng luôn nhận được sự quan tâm của toàn xã hội. Hiện nay, công
chứng có mặt ở hầu hết các quốc gia trên thế giới với nhiều quan điểm khác
Trước Luật Công chứng năm 2006 và Luật Công chứng năm 2014,
công chứng có nhiều định nghĩa khác nhau, trong đó có 4 định nghĩa cơ bản
được ghi nhận tại 04 văn bản pháp lý. Cụ thể:
- Tại Thông tư số 574/QLTPK ngày 10/10/1987 của Bộ Tư pháp
hướng dẫn công tác chứng thực nhà nước thì: Công chứng nhà nước là một
11
hoạt động của Nhà nước, nhằm giúp công dân, các cơ quan, tổ chức lập và
xác nhận các văn bản, sự kiện có ý nghĩa pháp lý, hợp pháp hóa các văn bản,
sự kiện đó, làm cho các văn bản, sự kiện đó có hiệu lực thực hiện. Bằng hoạt
động, Công chứng nhà nước tạo ra những bảo đảm pháp lý để bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của công dân, các cơ quan, tổ chức phù hợp với Hiến
pháp và pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ngăn ngừa
vi phạm pháp luật, giúp cho việc giải quyết các tranh chấp được thuận lợi,
góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
- Tại Điều 1 Nghị định số 45/HĐBT ngày 27/02/1991 của Hội đồng
Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về tổ chức và hoạt động của công chứng Nhà
nước thì: Công chứng Nhà nước là việc chứng nhận tính xác thực các hợp
đồng và giấy tờ theo quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp của công dân và cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, góp
phần phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Các hợp đồng và giấy tờ đã được công chứng có giá trị chứng cứ.
- Tại Điều 1, Nghị định số 31/1996/NĐ-CP ngày 18/5/1995 của Chính
phủ về tổ chức và hoạt động của công chứng Nhà nước thì: Công chứng là
việc chứng nhận tính xác thực của các hợp đồng và giấy tờ theo quy định của
pháp luật, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và cơ quan nhà
nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội (gọi chung là tổ chức), góp phần phòng
ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Các hợp đồng
hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản (gọi chung là
hợp đồng, giao dịch), tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của
bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng
nước ngoài sang tiếng Việt (gọi là bản dịch) mà theo quy định của pháp luật
phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng.
Như vậy, khái niệm công chứng trong Luật Công chứng năm 2014 đề
cập đến chủ thể thực hiện công chứng là công chứng viên của các tổ chức
hành nghề công chứng chứ không quy định chung chung là công chứng viên
như trước đây. Theo quy định của Luật thì các tổ chức hành nghề công chứng
13
bao gồm Phòng Công chứng của Nhà nước và Văn phòng công chứng của tư
nhân hoạt động theo mô hình công ty hợp danh. Đây là giai đoạn thực hiện
mạnh mẽ chủ trương xã hội hóa hoạt động công chứng nhằm phục vụ nhu cầu
công chứng hợp đồng, giao dịch của người dân.
1.1.1.2. Đặc điểm của công chứng
- Từ định nghĩa của Luật Công chứng thấy rằng công chứng là hành vi
của công chứng viên chứng nhận các hợp đồng, giao dịch mang yếu tố tài sản
và trao đổi ngang giá. Do đó, hoạt động công chứng là hoạt động do công
chứng viên thực hiện. Điều này để phân biệt hành vi công chứng với hành vi
chứng thực. Hành vi chứng thực là hành vi của người đại diện cơ quan hành
chính công quyền.
- Nội dung công chứng là xác định tính xác thực, tính hợp pháp của
hợp đồng, giao dịch. Tính xác thực của các tình tiết, sự kiện có trong văn bản
đó đã được công chứng viên xác nhận. Công chứng viên kiểm chứng và xác
nhận các tình tiết, sự kiện có xảy ra trong thực tế. Trong số đó có cả tình tiết,
sự kiện chỉ xảy ra một lần, không để lại hình dạng, dấu vết về sau đó. Do nếu
không có công chứng viên xác nhận thì về sau rất dễ xảy ra tranh chấp mà tòa
công chứng và các hợp đồng, giao dịch do cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu
công chứng.
- Hợp đồng, giao dịch sau khi công chứng sẽ ràng buộc trách nhiệm
giữa các bên theo những nội dung đã thỏa thuận, bên còn lại có thể căn cứ vào
hợp đồng, giao dịch đã công chứng để yêu cầu Tòa án giải quyết và hợp đồng
công chứng sẽ là bằng chứng chứng minh quyền của một bên và nghĩa vụ của
bên còn lại. Tuy nhiên, giá trị chứng cứ của hợp đồng, giao dịch đã được công
chứng dựa trên sự tuân thủ chặt chẽ thủ tục công chứng, nên trong trường hợp
vi phạm thủ tục công chứng thì tùy theo tính chất, hợp đồng công chứng có
thể bị Tòa án tuyên bố là vô hiệu. Mặt khác, mỗi hợp đồng, giao dịch công
chứng đều kèm theo những giấy tờ khác có liên quan, được tổ chức hành nghề
công chứng lưu giữ trong một khoảng thời gian nhất định (pháp luật Việt
Nam quy định thời hạn lưu trữ hồ sơ công chứng là 20 năm [35, Điều 64]).
15
Nên khi các bên có yêu cầu liên quan đến hợp đồng, giao dịch đã được công
chứng, các tổ chức hành nghề công chứng không khó để cung cấp những giấy
tờ đó làm căn cứ giải quyết.
- Hợp đồng, giao dịch đã được công chứng có hiệu lực thi hành đối
với các bên có liên quan. Trong trường hợp khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ
mà bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình thì bên kia có quyền
yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp các bên
tham gia hợp đồng, giao dịch có thỏa thuận khác.
- Văn bản công chứng có giá trị chứng cứ, những tình tiết sự kiện
trong văn bản công chứng không phải chứng minh, trừ trường hợp bị tòa án
tuyên bố là vô hiệu. Do đó, ý nghĩa pháp lý của hoạt động công chứng là bảo
đảm giá trị thực hiện cho các hợp đồng, giao dịch, phòng ngừa tranh chấp và
cung cấp chứng cứ nếu có tranh chấp xảy ra.
bản không được công chứng hoặc những sự việc chỉ trình bày bằng lời nói.
Thông qua hoạt động công chứng giúp cho các chủ thể tham gia giao dịch
hình thành hành vi xử sự theo đúng quy định của pháp luật. Hành vi xử sự
theo pháp luật là thể hiện ý thức văn hóa của công dân. Văn bản công chứng
là một công cụ hữu hiệu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ, phòng ngừa
tranh chấp có thể xảy ra. Qua đó, tạo ra sự ổn định của giao dịch dân sự, bảo
đảm trật tự kỷ cương của pháp luật về giao dịch dân sự, thương mại.
Về phương diện quản lý nhà nước, thông qua hoạt động công chứng,
văn bản công chứng tạo ra một bằng chứng pháp lý, xác thực, kịp thời, không
ai có thể phản bác, trừ trường hợp Tòa án tuyên bố vô hiệu. Văn bản công
chứng đó không chỉ có giá trị đối với các bên mà còn có giá trị đối với những
tổ chức, cá nhân có liên quan. Thông qua hoạt động công chứng, Nhà nước
kiểm soát, điều chỉnh các giao dịch dân sự đặc biệt là các hợp đồng, giao dịch
liên quan đến bất động sản như đất đai, tài sản gắn liền với đất...
1.1.3. Đối tượng của hoạt động công chứng
Xuất phát từ định nghĩa của công chứng, chúng ta có thể thấy rằng đối
tượng của hoạt động công chứng gồm có các chủ thể như:
17
- Công chứng viên là người có đủ tiêu chuẩn theo quy định tại Điều 8
Luật Công chứng năm 2014, được Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm để hành
nghề công chứng như: Công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam, tuân thủ
Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt và có đủ các tiêu chuẩn sau
đây thì được xem xét, bổ nhiệm công chứng viên: Có bằng cử nhân luật; có
thời gian công tác pháp luật từ 05 năm trở lên tại các cơ quan, tổ chức sau khi
đã có bằng cử nhân luật; tốt nghiệp khóa đào tạo nghề công chứng quy định tại
Điều 9 của Luật Công chứng hoặc hoàn thành khóa bồi dưỡng kỹ năng hành
nghề công chứng tại cơ sở đào tạo nghề công chứng trong thời gian 3 tháng
luật, trừ trường hợp các bên tham gia hợp đồng, giao dịch có thỏa thuận khác.
Những văn bản công chứng có giá trị chứng cứ; chứng minh và bản dịch được
công chứng có giá trị sử dụng như giấy tờ, văn bản được dịch [35, Điều 5].
Tiếng nói và chữ viết dùng trong công chứng phải là tiếng Việt.
1.1.4. Giá trị của công chứng
Tại Điều 5 Luật Công chứng năm 2014 quy định về giá trị pháp lý của
văn bản công chứng như sau: Văn bản công chứng có hiệu lực kể từ ngày
được công chứng viên ký và đóng dấu của tổ chức hành nghề công chứng.
Hợp đồng, giao dịch được công chứng có hiệu lực thi hành đối với các bên
liên quan; trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của
mình thì bên kia có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp
luật, trừ trường hợp các bên tham gia hợp đồng, giao dịch có thỏa thuận khác.
Hợp đồng, giao dịch được công chứng có giá trị chứng cứ; những tình tiết, sự
kiện trong hợp đồng, giao dịch được công chứng không phải chứng minh, trừ
trường hợp bị Tòa án tuyên bố là vô hiệu. Bản dịch được công chứng có giá
trị sử dụng như giấy tờ, văn bản được dịch.
Từ quy định trên, chúng ta thấy rằng, văn bản công chứng có giá trị
chứng cứ; những tình tiết, sự kiện trong văn bản công chứng không phải
chứng minh, trừ trường hợp bị Tòa án tuyên bố là vô hiệu. Và văn bản công
chứng có hiệu lực thi hành đối với các bên liên quan trong hợp đồng, giao
dịch. Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình thì bên
19