Những vấn đề pháp lý chuyển đổi doanh nghiệp tư nhân thành công ty cổ phần ở việt nam - Pdf 47

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN VĂN TUÂN

NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ
CHUYỂN ĐỔI DOANH NGHIỆP TƢ NHÂN
THÀNH CÔNG TY CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI – 2017

1


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN VĂN TUÂN

NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ
CHUYỂN ĐỔI DOANH NGHIỆP TƢ NHÂN
THÀNH CÔNG TY CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS. Hoàng Anh Tuấn


3.Đốitượngvàphạmvinghiêncứu ...................................................................... 11
4.Mục đích và nhiệm vụ nghiêncứu ................................................................ 12
5.Phươngphápnghiêncứu................................................................................. 13
6.Những đóng góp mới của Luận văn.................................................................................. 14
7.Bố cục của Luậnvăn ..................................................................................... 14
CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC
CHUYỂN ĐỔI DOANH NGHIỆP TƢ NHÂN THÀNH CÔNG TY CỔ
PHẦN.................................................................................................. ........... 15
1.1. Khái quát chuyển đổi loại hình Doanh nghiệp......................................... 15
1.2. Nguyên tắc chuyển đổi loại hình doanh nghiệp ....................................... 17
1.3. Khái niệm, bản chất và đặc điểm pháp lý, vai trò và ý nghĩa của việc
chuyển đổi của Doanh nghiệp tư nhân thành Công ty cổ phần ..................... .19
1.3.1. Khái niệm chuyển đổi Doanh nghiệp tư nhân thành Công ty cổ phần .20
1.3.2.Bản chất và đặc điểm pháp lý của việc chuyển đổi Doanh nghiệp tư
nhân thành Công ty cổ phần ............................................................................ 21

4


1.3.3.Vai trò và ý nghĩa của việc chuyển đổi Doanh nghiệp tư nhân thành
Công ty cổ phần............................................................................................... 22
1.4.Cơ sở cho sự chuyển đổi Doanh nghiệp tư nhân thành Công ty cổ phần . 24
1.4.1.Cơ sở lý luận .......................................................................................... 24
1.4.2. Cơ sở thực tiễn ...................................................................................... 27
1.5.Pháp luật chuyển đổi Doanh nghiệp tư nhân thành Công ty cổ phần ....... 31
1.6.Điều kiện, thủ tục chuyển đổi Doanh nghiệp tư nhân thành Công ty cổ
phần ................................................................................................................. 32
1.6.1.Điều kiện chuyển đổi ............................................................................. 33
1.6.2.Thủ tục chuyển đổi ................................................................................. 35
1.7.Bảo vệ quyền lợi người thứ ba từ sự tác động của việc chuyển đổi Doanh

3.2.2.Quy định chuyển đổi Doanh nghiệp tư nhân thành Công ty cổ phần… 64
3.2.3.Quy định căn cứ, điều kiện, thủ tục chuyển đổi Doanh nghiệp tư nhân
thành Công ty cổ phần .................................................................................... 65
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3 .............................................................................. 69
KẾT LUẬN .................................................................................................... 70
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 72

6


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CTCP
DNTN
TNHH
TNHH 1 TV
TNHH 2 TV

:Công ty cổ phần
:Doanh nghiệp tư nhân
:Trách nhiệm hữu hạn
: Trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên
: Trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên

7


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiệt của đề tài
Trong bối cảnh thế giới nhỏ lại như xóm làng, cánh cửa bảo hộ của Việt

Doanh nghiệp 2014 đã kế thừa và ghi nhận những quy định về chuyển đổi
doanh nghiệp như: chuyển đổi Công ty TNHH thành CTCP (và ngược lại),
chuyển đổi DNTN thành Công ty TNHH. Tuy nhiên, điều đáng chú ý rằng
Luật Doanh nghiệp 2014 quy định về chuyển đổi DNTN sang Công ty TNHH
nhưng không đề cập đến việc chuyển đổi DNTN sang Công ty cổ phần (cũng
có chế độ thành viên chịu trách nhiệm hữu hạn giống Công ty TNHH). Chính
sự bỏ ngỏ này của các nhà lập pháp đã làm băn khoăn cho nhiều nhà nghiên
cứu luật học cũng như chưa có lời giải đáp cho những khát khao chuyển đổi
của nhà đầu tư khi đang làm chủ DNTN muốn chuyển thành CTCP.
Mặt khác, hiện nay pháp luật đặt ra các quy định ảnh hướng rất lớn đến
sự tồn tại của DNTN, bởi lẽ: (1) DNTN không phải là đối tượng được phép
vay vốn tín dụng, trong khi đó bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn kinh doanh
cũng đều có nhu cầu tiếp cận nguồn vốn; (2) ngoài ra, DNTN hiện cũng thể
hiện tính yếu kém của mình so với loại hình công ty TNHH 1 TV. Với những
quy định như thế này thì dần dần DNTN khó có chỗ đứng trên thương trường.
Do đó, có căn cứ cho thấy nhu cầu chuyển đổi DNTN ngày càng cấp thiết
trong thời gian tới.
Từ những vấn đề bức thiết trên đây, nghiên cứu về việc chuyển đổi
Doanh nghiệp tư nhân thành Công ty cổ phần để góp phần đáp ứng những
ước vọng lớn lao phát triển mô hình kinh doanh của chủ DNTN đồng thời

9


tháo gỡ những vướng mắc nêu trên, chỉ ra những vấn đề pháp lý và kiến nghị
những giải pháp mang tính pháp lý đối với việc chuyển đổi DNTN trực tiếp
thành CTCP, đây là vấn đề thiết thực có tính ứng dụng cao cả về mặt thực tiễn
và lý luận. Suy tư về điều này, tôi đã quyết định lựa chọn đề tài “Những vấn
đề pháp lý chuyển đổi Doanh nghiệp tư nhân thành Công ty cổ phần ở Việt
Nam” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.

Ngoài ra còn có một số bài viết, bài báo, chuyên đề tham luận khoa học
khác có nội dung liên quan tới việc chuyển đổi hình thức công ty nói chung
hay chuyển đổi hình thức giữa các loại hình doanh nghiệp cụ thể, tuy nhiên
chưa có công trình nào phân tích về chuyển đổi Doanh nghiệp tư nhân thành
Công ty cổ phần. Do đó, luận văn này mang đến hướng nghiên cứu mới so
với những công trình nghiên cứu trước đây.
3. Đốitƣợngvàphạmvinghiêncứu
Pháp luật doanh nghiệp Việt Nam hiện hành liệt kê các loại hình kinh
doanh cụ thể, đồng thời, đối với vấn đề chuyể n đổ i hiǹ h thức doanh nghiệp,
pháp luật chỉ đưa các các quy định việc chuyển đổi từ hình thức doanh
nghiệp này sang hình thức doanh nghiệp khác nhưng chưa đầy đủ, đặc biệt là
pháp luật thừa nhận việc chuyển đổi thương nhân chịu trách nhiệm vô hạn
(VD: DNTN) sang thương nhân chịu trách nhiệm hữu hạn (VD: Công ty
TNHH) tuy nhiên các nhà lập pháp không biết vô tình hay chủ ý mà không
quy định vấn đề trực tiếp chuyển đổi DNTN sang CTCP, chính vì điều này
khiến cho các DNTN phải chuyển đổi gián tiếp thông qua Công ty TNHH.
Luận văn này sẽ tập trung nghiên cứu những vấn đề pháp lý liên quan đến
việc chuyển đổi trực tiếp mô hình kinh doanh từ DNTN sang CTCP như điều
kiện và thủ tục chuyển đổi, căn cứ chuyển đổi, tác động của việc chuyển
đổi...

11


Trong Luận văn này, khi tác giả nhắc đến chế độ trách nhiệm hữu hạn
và trách nhiệm vô hạn của doanh nghiệp/thương nhân thì được hiểu rằng: (1)
Trách nhiệm hữu hạn là là chế độ mà các chủ thể kinh doanh trong đó chủ sở
hữu hoặc các đồng chủ sở hữu chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ, các
nghĩa vụ tài sản khác phát sinh từ hoạt động kinh doanh trong phạm vi phần
vốn góp của mình. (2) Trách nhiệm vô hạn là chế độ mà các chủ thể kinh

5. Phƣơngphápnghiêncứu
Các phương pháp nghiên cứu của Luận văn được xây dựng trên cơ sở
phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch
sử, và đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Các phương pháp mà luận văn sử dụng bao gồm: phương pháp phân tích
quy phạm, phân tích vụ việc, và phân tích lịch sử; phương pháp tổng hợp;
phương

pháp

phân

loại;phươngpháphệthốnghóacácquyphạmphápluật;

phươngphápsosánhphápluật;vàphươngphápđánhgiáthựctrạngphápluật.
Với phương pháp phân tích quy phạm, luận văn đã phân tích thực trạng
các quy định của pháp luật hiện hành về chuyển đổi hình thức DNTN sang
CTCP (gián tiếp thông qua Công ty TNHH), đồng thời thông qua những tình
huống, vụ việc, tác giả chỉ ra các khiếm khuyết, bất cập của pháp luật thực
định.
Phương pháp tổng hợp được sử dụng kết hợp với phương pháp phân
tích. Cụ thể, từ những kết quả nghiên cứu bằng phân tích, Luận vănsử
dụngPhương pháp tổng hợp kết hợp chúng lại với nhau để có được sự nhận
thức về vấn đề nghiên cứu một cách đầy đủ, hoàn chỉnh. Kết quả tổng hợp

13


được thể hiện chủ yếu bằng các kết luận, kiến nghị hoàn thiện pháp luật VN
hiện hành vềchuyển đổi hình thức trực tiếp DNTN thành CTCP.

DOANH NGHIỆP TƢ NHÂN THÀNH CÔNG TY CỔ PHẦN
1.1.

Khái quát chuyển đổi loại hình Doanh nghiệp
Trên thế giới, “muốn kinh doanh thương nhân phải chọn lấy một trong

số những loại hình mà người làm luật quy định, thường đa dạng, tùy theo
pháp luật của từng nước song có thể quy nạp vào ba loại chính: công ty, hợp
danh và cá nhân kinh doanh”[27, tr 199]. Tùy vào ý đồ, quy mô, dự tính kinh
doanh, nhà đầu tư có quyền lựa chọn cho mình mô hình doanh nghiệp phù
hợp, ý tưởng này có thể thực hiện ngay khi thành lập doanh nghiệp hoặc trong
quá trình kinh doanh nhà đầu tư có thể thay đổi mô hình doanh nghiệp bằng
cách chuyển đổi loại hình doanh nghiệp. Việc thay đổi loại hình doanh nghiệp
đôi khi cũng do pháp luật bắt buộc phải thực hiện.
Muốn chuyển đổi doanh nghiệp, trước hết cần hiểu thuật ngữ “doanh
nghiệp”. Nhìn từ góc độ ngôn ngữ, từ “enterprise” của Tiếng Anh thường
được dịch là sang tiếng Việt là “doanh nghiệp”. Trong cuốn từ điển Deluxe’s
Black Law Dictionary, “enterprise” được hiểu là:
Bất kỳ cá nhân (individual), hợp danh (partnership), công ty
đối vốn (corporation), hội đoàn (association), hoặc pháp nhân nào
khác, và bất kỳ hiệp hội hay nhóm các cá nhân nào liên kết lại bởi
một sự kiện dù không tạo thành một pháp nhân [50].

15


Thuật ngữ “Doanh nghiệp” hiện nay được sử dụng với nhiều nghĩa khác
nhau, nhưng trong lĩnh vực pháp lý từ này thường được dùng để chỉ:
(1) một loại hành vi thương mại hoặc (2) các thực thể kinh doanh
nói chung; hoặc (3) tập hợp tài sản có của một thương nhân nào đó

chuyển đổi doanh nghiệp được tự do từ bất kể từ hình thức này sang hình thức
nào khác. Và nếu pháp luật muốn hạn chế hay ngăn cản thì phải tìm được lý
do chính đáng từ phía lợi ích chung của xã hội. Và cần lưu ý rằng việc chuyển
đổi doanh nghiệp không tạo ra pháp nhân mới mà chỉ là thay đổi về hình thức.
1.2.

Nguyên tắc chuyển đổi loại hình doanh nghiệp
Trong hệ thống pháp luật luôn tồn tại những nguyên tắc pháp luật.

Montesquieu đã từng viết trong Lời tựa cuốn Bàn về tinh thần pháp luật:
Trước tiên, tôi xem xét người đời, và tôi tin rằng trong vô số
luật lệ và phong tục rất khác nhau, con người không chỉ tuân theo
nó một cách ngẫu hứng.
Tôi đã đề ra những nguyên tắc, tôi thấy các trường hợp cá biệt
đều theo nguyên tắc. Lịch sử các dân tộc chỉ là những sự nối tiếp và
mỗi luật lệ cá biệt đều liên quan đến một luật lệ khác, hoặc là luật lệ
thuộc vào một quy luật chung hơn [11]
Nhìn tổng quan, nguyên tắc pháp luật là nền tảng của hệ thống pháp
luật, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ hệ thống pháp luật. Một hệ thống pháp
luật từ đơn giản đến phức tạp, đều được thiết lập dựa trên những nguyên tắc
nhất định. Hệ thống pháp luật được thiết lập dựa trên hệ thống các nguyên tắc
pháp luật, do đó, nguyên tắc pháp luật như hệ thống xương cốt làm giá đỡ cho

17


toàn bộ hệ thống pháp luật. Nhắc đến pháp luật doanh nghiệp, trong vấn đề
chuyển đổi loại hình doanh nghiệp được pháp luật điều chỉnh cũng phải tuân
thủ những nguyên tắc nhất định, đảm bảo tính thống nhất trong xây dựng và
thực thi pháp luật.

nghiệp cụ thể. Riêng đối với chuyển đổi doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm
vô hạn sang doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm hữu hạn, do việc chuyển đổi
này làm hạn chế nghĩa vụ trả nợ của doanh nghiệp chuyển đổi, cho nên
nguyên lý cơ bản có thể áp dụng trong trường hợp này là các thành viên vẫn
phải chịu trách nhiệm theo chế độ cũ như trước khi chuyển đổi đối với các
khoản nợ phát sinh trong giai đoạn trước đó. Trước khi quyết định chuyển
đổi, Chủ DNTN phải thanh toán đầy đủ các khoản nợ đã đến hạn, trường hợp
còn các khoản nợ chưa đến hạn thì chủ DNTN phải có cam kết trả nợ bằng
toàn bộ tài sản cá nhân của mình và cam kết thanh toán khi đến hạn.
1.3.

Khái niệm, bản chất và đặc điểm pháp lý, vai trò và ý nghĩa của

việc chuyển đổi của Doanh nghiệp tƣ nhân thành Công ty cổ phần
Xã hội nào cũng có phương thức tổ chức kinh doanh riêng, khi con
người chỉ biết đến nghề nông thì những cá nhân đơn lẻ có sự trợ giúp của
cộng đồng là hình thức kinh doanh chủ yếu. Khi con người mở rộng thương
mại và công nghiệp, có nhu cầu san sẻ rủi ro, huy động vốn và tổ chức kinh
doanh lớn, khi đó mới cần tới mô hình các công ty thương mại. Như vậy tổ
chức kinh doanh chính là cách thức một xã hội tổ chức các hoạt động kinh tế
của mình.
Từ xưa đến nay, “muốn kinh doanh thương nhân phải chọn lấy một trong
số những loại hình mà người làm luật quy định, thường đa dạng, tùy theo

19


pháp luật của từng nước song có thể quy nạp vào ba loại chính: công ty, hợp
danh và cá nhân kinh doanh” [27, tr 199].
Dưới góc độ nghiên cứu pháp luật để ứng dụng thực tiễn, vấn đề pháp lý

Doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân, chỉ tồn tại khi chủ doanh
nghiệp còn sống và mong muốn tiếp tục kinh doanh, cho nên việc chuyển đổi
doanh nghiệp tư nhân sang công ty cổ phần cần được xếp vào loại chuyển đổi
doanh nghiệp bởi tự nguyện.
Như vậy, có thể nói chuyển đổi doanh nghiệp tư nhân thành công ty cổ
phần là chuyển đổi hình thức kết cấu của loại hình doanh nghiệp trên cơ sở tự
nguyện, đồng thời không làm chấm dứt hay thay đổi nghĩa vụ trả nợ của chủ
doanh nghiệp tư nhân.
1.3.2. Bản chất và đặc điểm pháp lý của việc chuyển đổi Doanh nghiệp tƣ
nhân thành Công ty cổ phần
Xuất phát từ việc tạo lập doanh nghiệp bởi ý chí của nhà đầu tư, Doanh
nghiệp tư nhân được thành lập bởi ý chí đơn phương của cá nhân kinh doanh;
còn Công ty cổ phần là sự liên kết của nhiều người cùng góp vốn kinh doanh
vì mục đích lợi nhuận, dựa trên hợp đồng thành lập công ty. Qua đó có thể kết
luận rằng: Chuyển đổi doanh nghiệp tư nhân thành công ty cổ phần do tự
nguyện là thay đổi ý chí đơn phương tạo lập nên Doanh nghiệp tư nhân. Điều
đó cho thấy bản chất pháp lý của việc chuyển đổi doanh nghiệp tư nhân thành
công ty cổ phần là giao dịch pháp lý đơn phương.
Xuất phát từ bản chất của hành vi pháp lý đơn phương của sự chuyển
đổi, đồng thời cũng xuất phát từ các yêu cầu đặc biệt của pháp luật nhằm bảo
vệ cho trật tự công cộng và quyền lợi của người thứ ba bị ảnh hưởng, có thể

21


tóm tắt các đặc điểm của chuyển đổi doanh nghiệp tư nhân thành công ty cổ
phần như sau:
Một là, DNTN và CTCP đều là những thương nhân do đó việc chuyển
đổi giữa chúng mang đặc điểm đa quy chế thương nhân: Việc chuyển đổi
hình thức doanh nghiệp này phụ thuộc vào hình thức thương nhân được

được hệ thống khách hàng của DNTN cũ hoặc mất thương hiệu.
(3) Với phương án thứ ba: Một CTCP mới phù hợp với nguyện vọng của
nhà đầu tư, tiếp nhận và thực hiện các hợp đồng trước đó của DNTN, trừ các
nghĩa vụ về tài sản của chủ DNTN phải chịu trách nhiệm vô hạn.
Việc chuyển đổi DNTN thành CTCP có vai trò và ý nghĩa quan trọng đối
với lợi ích kinh tế, pháp lý của công ty cũng như đời sống xã hội:
Xét về lợi ích kinh tế, việc chuyển đổi DNTN thành CTCP không mất
nhiều thời gian, không phải vận hành cả 02 doanh nghiệp cùng lúc, không cần
làm thủ tục chấm dứt DNTN và CTCP mới. Do đó, CTCP có thể đảm bảo
hoạt động bình thường ngay sau khi chuyển đổi mà không phải chịu thuế, lệ
phí, ổn định ngay bộ máy quản lý điều hành, nhân công lao động và hệ thống
khách hàng, bảo đảm thương hiệu và các giá trị tinh thần khác.
Xét về pháp lý, việc chuyển đổi DNTN thành CTCP đảm bảo cho CTCP
chuyển đổi trở thành chủ sở hữu tài sản kế thừa một cách đương nhiên, an
toàn và dễ dàng. Thủ tục kế thừa các quyền, nghĩa vụ cũng thuận lợi vì
DNTN vẫn hoạt động bình thường trong quá trình chuyển đổi.

23


Xét về mặt xã hội, việc chuyển đổi DNTN thành CTCP vừa đáp ứng
được nguyện vọng của các nhà đầu tư vừa có ý nghĩa kinh tế cho bản thân
doanh nghiệp, đồng thời không triệt tiêu các nghĩa vụ của doanh nghiệp, đảm
bảo được quyền lợi cho các bên liên quan, qua đó không làm ảnh hưởng tới
lợi ích chung cho xã hội.
1.4.

Cơ sở cho sự chuyển đổi Doanh nghiệp tƣ nhân thành Công ty cổ

phần

tự nhiên hay luật xã hội khác, chỉ khi đó luật pháp mới đạt đến tầm là thước
đo cửa tự do. Tự do đối với một người chỉ có được khi hành vi của người đó
không xâm hại đến lợi ích của người khác, và thực tế tự do của một người sẽ
bị giới hạn bởi tự do của người khác, cũng vì điều này mà nhà thuyết giáo
người Mỹ, Peter Marshall đã nói rằng: Mong sao chúng ta nghĩ về tự do
không phải như quyền làm bất cứ điều gì mình muốn, mà là cơ hội làm điều
đúng đắn [35].
Luật pháp suy cho cùng chẳng qua cũng chỉ là sự phản ứng của con
người trước những thay đổi của tự nhiên và xã hội, tự thân nó không phải là
tự do mà là tiền đề, là sự giới hạn và đảm bảo để có tự do trong miền chừng
mực. Trước xu hướng toàn cầu hoá và hội nhập nguyên tắc công dân chỉ được
làm những gì pháp luật cho phép đã và đang dần được thay thế bằng nguyên
tắc công dân được làm tất cả trừ những điều pháp luật cấm.
Cũng chính vì tự do của con người được làm những điều pháp luật
không cấm, nghĩa là không xâm phạm đến trật tự công và ảnh hưởng đến tự
do của người khác, cho nên đã có nhà nghiên cứu nhận định rằng: Tự do là
khả năng lựa chọn hợp lý một hoặc nhiều trong các phương án đối chọn, là

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status