Bài Phân tích về
Công ty Cổ phần Cao su Hòa Bình
1.Cao Đình Ba(nhóm trưởng)
2.Vũ Thị quỳnh Trang
3.Nguyễn Thị Ngọc Dung
4.Vũ Đức Hiếu
5.Nguyện Hải Việt
6.Hoàng Mai Linh
Công ty Cổ phần Cao su Hòa Bình
LỜI MỞ ĐẦU
I: CƠ SỞ LÍ LUẬN PHÂN TÍCH
TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP
1-Mục tiêu của việc phân tích tài chính- Các phương pháp sử dụng
để phân tích
2-Giới thiệu tổng quan về công ty
II : PHÂN TÍCH NGÀNH KINH DOANH .
1. Phân tích ngành kinh doanh
2. Phân tích chiến lựoc Kinh doanh.
3. Đánh giá chung.
III : KẾT QUẢ KINH DOANH.
1. Phân tích Doanh thu
2. Phân tích Chi phí
3. Phân tích lợi nhuận.
IV: CÁC MỐI QUAN HỆ CÂN BẰNG TRÊN BẢNG BÁO CÂN ĐỐI
KẾ TOÁN.
.1- Sự biến động của tài sản, nguồn vốn.
.2- Các mối quan hệ giữa tài sản , nguồn vốn
hàng nhái,hàng giả.Ngoài ra còn gây sự chú ý thu hút để sản phẩm của
công ty không bị mai một và đi sâu vào thị trường,phải biết lựa chọn
nguyên liệu sản xuất sao cho sản phẩm làm ra bền đẹp,giá cả phải
chăng.Vì vậy,chúng tôi quyết định lựa chọn công ty cổ phần cao su Hoà
BÌnh.
Mặc dù đã cố gắng tìm hiểu kĩ các thông tin ,nhưng không tránh
khỏi những sai sót. Rất mong sự góp ý từ phía cô Giáo.
I: CƠ SỞ LÍ LUẬN PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH CỦA DN
1.1- Mục tiêu của việc phân tích tài chính
- Thứ nhất, mục tiêu ban đầu của việc phân tích báo cáo tài chính là
nhằm để "hiểu được các con số" hoặc để "nắm chắc các con số", tức là sử
dụng các công cụ phân tích tài chính như là một phương tiện hỗ trợ để
hiểu rõ các số liệu tài chính trong báo cáo. Như vậy, người ta có thể đưa
ra nhiều biện pháp phân tích khác nhau nhằm để miêu tả những quan hệ
có nhiều ý nghĩa và chắt lọc thông tin từ các dữ liệu ban đầu.
- Thứ hai, do sự định hướng của công tác phân tích tài chính nhằm
vào việc ra quyết định, một mục tiêu quan trọng khác là nhằm đưa ra một
cơ sở hợp lý cho việc dự đoán tương lai. Trên thực tế, tất cả các công việc
ra quyết định, phân tích tài chính hay tất cả những việc tương tự đều
nhằm hướng vào tương lai. Do đó, người ta sử dụng các công cụ và kĩ
thuật phân tích báo cáo tài chính nhằm cố gắng đưa ra đánh giá có căn cứ
về tình hình tài chính tương lai của công ty, dựa trên phân tích tình hình
tài chính trong quá khứ và hiện tại, và đưa ra ước tính tốt nhất về khả
năng của những sự cố kinh tế trong tương lai.
Giới thiệu: Lịch sử hình thành:
Tên Công ty: Công ty Cổ phần Cao su Hoà Bình
Tên tiếng Anh: Hoa Binh Rubber Joint stock Company.
Tên viết tắt: HORUCO
Vốn điều lệ: 172.609.760.000 VNĐ (Một trăm bảy mươi hai tỷ sáu
đồng cổ đông ngày 26/02/2008 là cơ sở chi phối mọi hoạt động của
Công ty.
Công ty Cổ phần Cao su Hoà Bình được thành lập theo Quyết định
số 5360/QĐ-TCCB ngày 05/12/2003 của Bộ Nông Nghiệp và Phát
Triển Nông Thôn về việc chuyển Nông trường Cao su Hoà Bình và
Nhà máy chế biến cao su Hoà Bình - Bộ phận doanh nghiệp Nhà
nước Công ty Cao su Bà Rịa thành Công ty Cổ phần.
Văn phòng Công ty đặt tại Ấp 7, xã Hoà Bình, huyện Xuyên Mộc,
tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, cách thành phố Hồ Chí Minh 120 km
đường bộ, rất thuận tiện đường giao thông đi lại, thương mại, phát
triển công nghiệp, dịch vụ…
Công ty Cổ phần Cao su Hoà Bình là đơn vị đầu tiên trong Tổng
Công ty Cao su Việt Nam (nay là Tập đoàn Công nghiệp Cao su
Việt Nam) thực hiện việc cổ phần hoá vườn cây kết hợp với Nhà
máy. Công ty quản lý hơn 5.000 ha cao su và 01 nhà máy chế biến
với công suất hơn 6.000 tấn/năm. Hàng năm, Công ty Cổ phần Cao
su Hoà Bình khai thác bình quân trên 5.000 tấn mủ cao su; thu mua
trên 1.000 tấn.
Chất lượng sản phẩm luôn là mối quan tâm hàng đầu của Công ty
Cổ phần Cao su Hoà Bình. Vì vậy, quy trình kỹ thuật và sản phẩm
của Công ty luôn được kiểm soát bởi hệ thống quản lý chất lượng
ISO 9001:2000. Công ty Cổ phần Cao su Hoà Bình cam kết với
khách hàng luôn thực hiện đúng hợp đồng, đảm bảo đúng tiêu
chuẩn chất lượng và đúng thời gian quy định, luôn tạo sự hài lòng
cho quý khách khi sử dụng sản phẩm của Công ty. Với một bộ máy
quản lý gọn nhẹ, có trình độ và chuyên môn cao, Công ty Cổ phần
Cao su Hoà Bình sẵn sàng hợp tác đầu tư thương mại với tất cả các
nhà đầu tư trong và ngoài nước.
II.Phân tích ngành kinh doanh:
1 .Ngành cao su:
Hiện nay, VN đang đầu tư dây chuyền công nghệ đạt tiêu chuẩn
quốc tế (ISO 900:2000) để sản xuất các sản phẩm cao su đạt giá trị kinh
tế cao. Sản phẩm có chất lượng cao dùng để phục vụ cho nhu cầu trong
nước và xuất khẩu chủ yếu là mặt hàng săm lốp và găng tay cao su.
*Tăng đầu tư chiều sâu để tăng tốc
Việc VN là thành viên Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào
tháng 11/2006 đã mang lại những ảnh hưởng tích cực và tạo ra điều kiện
thuận lợi cho việc xuất khẩu các sản phẩm cao su của nước ta.
Bên cạnh những thuận lợi trong xuất khẩu cao su sang các nước khác
thì việc là thành viên WTO còn tạo cơ hội cho VN tăng thu hút đầu tư,
chuyển giao kỹ thuật, công nghệ cao từ các nước có nền công nghiệp cao
su tiên tiến. Số lượng các doanh nghiệp chế biến sản phẩm cao su công
nghiệp tại VN còn ít, khả năng cạnh tranh chưa cao, trong khi VN lại có
nguồn nguyên liệu dồi dào nên cao su là một ngành thu hút được nhiều
nhà đầu tư nước ngoài quan tâm. Bằng chứng là năm qua, Tập đoàn
Kumho (Hàn Quốc) đã đầu tư nhà máy chế biến săm lốp tại Khu công
nghiệp Mỹ Phước (Bình Dương) với tổng vốn đầu tư lên đến trên 300
triệu USD, công suất giai đoạn đầu đạt 3 triệu bộ lốp xe/năm. Trong năm,
các tập đoàn của Ấn Độ, Đức, Trung Quốc cũng có nhiều cuộc tiếp xúc
với Tập đoàn CNCS VN và TCT Hoá chất VN để bàn bạc hợp tác đầu tư
lập các nhà máy chế biến sản phẩm cao su công nghiệp tại VN bằng công
nghệ hiện đại.
- Giá trị sản phẩm cao su công nghiệp năm 2008 của nước ta đạt 900
triệu USD, bằng 0,5% của mức 200 tỉ USD của thế giới, trong đó giá trị
các mặt hàng săm lốp là 650 triệu USD (nhập khẩu 100 triệu USD, xuất
khẩu 50 triệu USD), giá trị các sản phẩm còn lại là 250 triệu USD (nhập
khẩu 30 triệu USD, xuất khẩu 100 triệu USD).
- Hiện nay VN có 20 triệu xe gắn máy, 700.000 xe ô tô các loại.
- Mỗi năm VN nhập khẩu 100 triệu USD để mua săm lốp ô tô các loại,
trong đó chủ yếu là nhập các loại lốp cao cấp. Riêng lốp xe đạp và xe
trình phát triển của ngành để khai thác triệt để những thế mạnh của cây
cao su; tăng cường năng lực cạnh tranh cho sản phẩm cùng với kế hoạch
chung cho toàn ngành đến năm 2010 và định hướng tới năm 2020. Các
doanh nghiệp cần phải ưu tiên cho đầu tư và phát triển các sản phẩm cao
su có giá trị cao.
Nhằm nâng cao giá trị cây cao su của VN, việc nghiên cứu thị trường, lựa
chọn công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực, đầu tư cho sản phẩm cao su
công nghiệp, thúc đẩy phát triển sản xuất săm lốp xe để phục vụ cho
ngành ôtô là những việc làm cấp thiết. Ngoài ra, các doanh nghiệp cần
phải triển khai các hoạt động marketing, phát triển công nghệ, và tiến
hành đa dạng hóa phương thức sản xuất nhằm thúc đẩy mở rộng sản xuất
cao su công nghiệp.
b).Diễn biến ngành cao su thiên nhiên đầu năm 2010
Giá cao su tiếp tục ở mức cao giúp kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh
trong quý 3/2010. Trong 9T/2010, sản lượng và kim ngạch xuất khẩu
cao su đạt 516 ngàn tấn và 1,422 triệu USD, tương ứng tăng 6.8% và
95.6% so với cùng kỳ năm 2009. Như vậy, sản lượng tăng không đáng
kể, nhưng do giá xuất khẩu tăng gần gấp đôi so với cùng kỳ năm trước
nên kim ngạch xuất khẩu tăng tới 95.6%.
Sản lượng và Kim ngạch xuất khẩu cao su
trong 9T/2010
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Trung Quốc vẫn là thị trường chính nhập khẩu cao su của Việt Nam,
nhưng đang trong xu hướng giảm dần. Trong 9T/2010, sản lượng cao
su xuất khẩu sang Trung Quốc đạt gần 300 ngàn tấn, giảm 10.4% so với
cùng kỳ năm 2009. Tuy nhiên, do giá cao su trong 9T/2010 tăng mạnh
nên kim ngạch xuất khẩu tăng 64%, tương ứng đạt 824.3 triệu USD.
Nhu cầu của Trung Quốc sẽ tiếp tục tăng cao. Trung Quốc là một
trong những quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất trên thế giới
hiện nay. Với ngành công nghiệp ô tô phát triển mạnh, nhu cầu tiêu thụ
cao su của Trung Quốc vẫn đang gia tăng và được dự báo sẽ đạt mức kỷ
lục trong năm 2010. Dự báo giá trị xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc
nhiều khả năng sẽ tăng mạnh trở lại trong quý 4/2010.
Được hưởng lợi từ việc điều chỉnh tỷ giá USD/VNĐ. Khoảng 80% sản
lượng cao su Việt Nam được xuất khẩu nên các doanh nghiệp trong
ngành hầu hết được hưởng lợi do chính sách nới rộng tỷ giá của Ngân
hàng Nhà nước.
Biến động thời tiết là rủi ro lớn nhất trong giai đoạn hiện nay. Thời
tiết trong những năm gần đây, đặc biệt là trong năm 2010 diễn ra bất
thường cũng ảnh hưởng nhiều đến lượng mủ thu hoạch của các doanh
nghiệp trong ngành. Phần lớn diện tích trồng cao su của Việt Nam tập
trung ở khu vực Đông Nam Bộ, đây là khu vực có khí hậu tương đối
thuận lợi vì ít bị ảnh hưởng của thời tiết mưa bão. Tuy nhiên, không loại
trừ yếu tố bất thường như cơn bão trong năm 2007 tại Vũng Tàu.
Duy trì quan điểm trong các báo cáo phát hành trước đây, chúng tôi cho
rằng, ngành cao su thiên nhiên tiếp tục khả quan khi nhu cầu và giá cả
tiếp tục xu hướng tăng. Đây là yếu tố chính giúp kết quả kinh doanh quý
4/2010 của các doanh nghiệp trong ngành tăng cao.
Ngành cao su thiên nhiên là một trong những ngành có kết quả kinh
doanh quý 3 khá tốt so với các ngành khác. Trong 9T/2010, đã có 2
doanh nghiệp là CTCP Cao su Tây Ninh (HoSE: TRC) và CTCP Cao su
Tây Ninh (HoSE: DPR) gần đạt được kế hoạch lợi nhuận năm. CTCP
Cao su Phước Hòa (HoSE: PHR) và CTCP Cao su Hòa Bình (HoSE:
HRC) hiện đã vượt trên 50% kế hoạch.
Hầu hết các doanh nghiệp trong Tập đoàn Cao su Việt Nam đều xây dựng
kế hoạch doanh thu và lợi nhuận trên mức giá bán khoảng 40 triệu
đồng/tấn mủ. Tuy vậy, trong quý 3, mức giá bán đã đạt trung bình khoảng
Công ty CP cao su Việt Lào thực hiện khá thuận lợi, đúng tiến độ như
mục tiêu đề ra và được Chính phủ 2 nước đánh giá cao.
•Công ty CP cao su Lai Châu: Đã thực hiện khai hoang trồng mới được
gần 900 ha,HRC góp vốn 15% bằng 30 tỷ đồng.
•Công ty CP cao su Bình Long – Tà Thiết : Vốn điều lệ là 30 tỷ đồng,
HRC tham gia góp 10% vốn điều lệ tương đương 3 tỷ đồng.
•Dự án Công ty CP chế biến gỗ Đồng Nai đã được Tập đoàn phê duyệt,
khi được triển khai Công ty tiếp tục tham gia với vốn góp điều lệ 4,5 tỷ
đồng.
Triển vọng Công ty
•Cao su Hòa Bình đang quản lý hơn 5.000 ha cao su.
•Thị trường trong và ngoài nước của các công ty trên đều được mở rộng,
tốc độ phát triển về doanh thu tăng từ 15 - 20%/năm.
•Công ty đang từng bước mở rộng sản xuất sang nhiều lĩnh vực khác như
đầu tư xây dựng, hợp tác liên kết trong chế biến gỗ, kinh doanh máy móc
nông ngư cơ.
Rủi ro Kinh doanh chính
•Năng suất khai thác mủ của cây cao su phụ thuộc nhiều vào thời tiết
trong khi những năm gần đây thời tiết diễn biến thất thường.
•Thị trường xuất khẩu lại tập trung quá nhiều vào Trung Quốc với hơn
60% tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành.
•Công ty còn phải chịu sức ép cạnh tranh từ một số nước có ngành cao su
lâu đời và đang phục hồi trở lại như Trung Quốc, Brazil.
•Quỹ đất nông nghiệp của nước ta đang bị thu hẹp dần nên việc mở rộng
diện tích trồng cao su trong nước là vấn đề nan giải.
•Công nghệ chế biến mủ cao su của các công ty hiện đang dừng lại ở mức
sơ chế, mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là bán thành phẩm.
3. Những nét nổi bật của kết quả hoạt động năm 2009 , dự đoán 2010.
năm 2010 dự kiến góp 1.300.000.000 đồng
- Công ty cổ phần cao su Bà Rịa-Kampong Thom : Công ty tham gia
góp vốn 30% vốn điều lệ, tương ứng …đồng, đã góp 30.750.000.000
đồng, năm 2010 dự kiến góp 30.000.000.000 đồng.
- Công ty CP Khu công nghiệp Long Khánh : Công ty tham gia góp
vốn 19%, bằng 22.800.000.000 đồng, đã góp 14.440.000.000 đồng, năm
2010 dự kiến góp vốn 8.360.000.000 đồng.
Các chỉ tiêu kế hoạch năm 2010 :
- Sản lượng khai thác : 4.260 tấn
- Thu mua cao su tiểu điền : 800 tấn
- Sản lượng giao bán : 5.090 tấn
- Tổng doanh thu : 199.879.000.000 đồng,
trong đó :
- Doanh thu cao su : 173.060.000.000 đồng
- Lợi nhuận trước thuế : 60.400.000.000 đồng
.Kết quả thực hiện :
CTCP Cao su Hòa Bình công bố thông tin về ước tính kết quả sản xuất
kinh doanh Q3 và lũy kế 9 tháng đầu năm 2010.
Theo đó, trong Q3, tổng doanh thu của công ty ước đạt 151,3 tỷ đồng; lũy
kế 9 tháng đạt 282 tỷ đồng – vượt 54,6 tỷ (27,3%) so với kế hoạch cả
năm.
LNST Q3 và lũy kế 9 tháng lần lượt là 28,7 tỷ và 73,6 tỷ đồng. Như vậy
LNST 9 tháng vượt 18 tỷ so với kế hoạch năm, tương ứng vượt 32% và
bằng 112,4% so với lợi nhuận cả năm 2009.
EPS 9 tháng ước đạt 4.290 đồng.
Trong quý vừa qua, công ty tiêu thụ 2.455 tấn cao su thành phẩm, lũy kế
đạt 4.315 tấn với giá bán bình quân 9 tháng là 59 triệu đồng/tấn, tăng
26,85 triệu đồng so với năm trước.Đây cho thấy một dấu hiệu khả quan
trong hoạt động kinh doanh của công ty.
III : Kết quả kinh doanh.
Chi phí tài chính
27,119 -8,941
-36,060
-132.97%
Chi phí bán hàng
5,663 4,033
-1,630
-28.78%
Chi phí QLDN
10,009 10,235
226
2.2 6 %
LNT từ HĐKD
69,633 56,438
-13,195
-18.95%
Thu nhập khác
23,311 18,433
-4,878
-20.92%
Phần lỗ trong liên doanh
4,919 3,347
-1,572
-31.96%
LN khác
18,392 15,085
-3,307
-17.98%
Tổng LN kế toán trước thuế
88,025 71,523
với năm 2008 (giảm 9,62%).Đồng thời giá thành tiêu thụ cao su bình
quân năm 2009 giảm gần một nửa so với năm 2008,giảm 14.55trđ /tấn
tương đương với 35%.năm 2008 cũng chính là năm có khủng hoảng sảy
ra làm giảm giá cao su tự nhiên,đầu năm 2008 giá cao su tự nhiên ơ mức
3000USD/tấn đầu năm 2008 xuống còn 1100USD/tấn cuối năm đó.Và
sang đến năm 2009 giá cao su liên tục tăng trở lại nhưng chỉ ở mức
1600USD/tấn.thế nhưng DTT từ bán hàng và cung cấp dich vụ thu đươc