CHUYÊN ĐỀ SÔNG NGÒI VIỆT NAM ĐỊA LÝ - Pdf 47

TRẠI HÈ HÙNG VƯƠNG LẦN THỨ XII
TRƯỜNG THPT CHUYÊN LÀO CAI
----------  ----------

CHUYÊN ĐỀ: SÔNG NGÒI VIỆT NAM
Họ và tên giáo viên: Phạm Văn Đại

Lào Cai, năm 2016

1


MỤC LỤC
Phần mở đầu …………………………………………………………………… 1
1. Lí do chọn đề tài…………………………………………………………….…1
2. Mục đích của chuyên đề…………………………………………………….…1
3. Phạm vi nghiên cứu……………………………………………………………2
4. Phương pháp nghiên cứu……………………………………………….……...2
5. Cấu trúc chuyên đề …………………………………………………………….2
Phần nội dung……………………………………………………………………..3
Chương 1: KHÁI QUÁT CÁC KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ SÔNG NGÒI ĐẠI
CƯƠNG – CƠ SỞ NGHIÊN CỨU CHO SÔNG NGÒI VIỆT NAM ……………3
Chương 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ SÔNG NGÒI VIỆT NAM ……………………….9
Chương 3: PHƯƠNG PHÁP, PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC VÀ MỘT SỐ DẠNG BÀI
TẬP VỀ SÔNG NGÒI VIỆT NAM ……………………………………………….23
Phần kết luận……………………………………………………………………….35

2


3

nước ngầm và hải văn Biển Đông) để trình bày tại Trại hè Hùng Vương của các
trường THPT chuyên Khu vực trung du và miền núi Bắc Bộ.
2. Mục đích của chuyên đề
- Hệ thống các kiến thức cơ bản về sông ngòi đại cương để làm nền tảng cho việc xây
dựng cơ sở kiến thức cho sông ngòiViệt Nam.
- Hệ thống các dạng câu hỏi và bài tập liên quan đến sông ngòi Việt Nam.
- Xây dựng và đề xuất các phương tiện và phương pháp dạy học cho hiệu quả.
- Liên hệ thực tế và giáo dục ý thức bảo vệ môi trường và tài nguyên nước ở nước ta.

1


3. Phạm vi nghiên cứu
- Kiến thức: Khái quát các vấn đề về sông ngòi đại cương, đi sâu nghiên cứu các vấn
đề sông ngòi Việt Nam bao gồm: Đặc điểm chung, các hệ thống sông chính, ý nghĩa
của sông ngòi đối với phát triển KTXH.
- Phương pháp: Nghiên cứu các phương pháp tối ưu nhất để mang lại hiệu quả cao
trong giảng dạy chuyên đề, để học sinh có thể tiếp cận và hoàn thành tốt các vấn đề
liên quan đến thủy văn Việt Nam.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Thu thập dữ liệu: Thông qua các tài liệu SGK, các giáo trình Địa lí tự nhiên, thông
tin từ các chuyên gia, đồng nghiệp, internet.
- Xử lí và chọn lọc dữ liệu: Ki thu thập được dữ liệu, tác giả đã tiến hành chọn lọc
thông tin, dữ liệu để tìm ra những dữ liệu, thông tin cần thiết nhất cho chuyên đề.
- Ứng dụng thực tế: Sau khi xây dựng chuyên đề, giao cho học sinh đọc chuyên đề,
thu thập ý kiến của học sinh, sau đó dạy đọi tuyển, chỉnh sửa những vấn đề chưa được
và từ những thông tin mà học sinh góp ý.
5. Cấu trúc chuyên đề
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung chính của chuyên đề gồm 3 chương:
- Chương 1: Khái quát các kiến thức cơ bản về sông ngòi đại cương để làm nền tảng

bên bờ mạnh làm cho lòng sông đã mở rộng dần, bãi sông xuất hiện, trên mặt bằng
sông đã có dạng uốn khúc, có giá trị cho GTVT.
- Hạ lưu là đoạn cuối cùng của sông trước khi đổ ra biển, hồ chứa hoặc con
sông khác. Đây là nơi có độ dốc lòng sông rất bé, nước chảy chậm, bồi nhiều hơn xói,
tạo nhiều bãi sông nằm ngang ở giữa lòng sông, hình dạng lòng sông quanh co uốn
khúc rất nhiều, lòng sông mở rộng ra nhiều so với đoạn trên. Hạ lưu thuận lợi cho
phát triển giao thông vận tải thuỷ cũng như các ngành kinh tế khác, nhất là nông
nghiệp.
- Cửa sông là nơi sông tiếp giáp với biển hoặc hồ hoặc một con sông khác. Ở
cửa sông lòng sông mở rộng, lưu tốc bé dần, phù sa lắng đọng tạo thành những tam
giác châu.
2. Hệ thống sông
Hệ thống sông gồm dòng chính, phụ lưu và các chi lưu. Dòng chảy lớn nhất
trong mỗi hệ thống sông được gọi là dòng sông chính. Sông chính trực tiếp đổ ra biển
hoặc hồ chứa. Các sông đổ nước vào một dòng sông chính được gọi là phụ lưu, có
phụ lưu cấp 1, cấp 2… và phụ lưu cấp n. Các sông nhánh chia nước từ dòng chính
được gọi là chi lưu, cũng có chi lưu cấp 1, 2…
3


Dòng chính cùng với các phụ lưu, chi lưu hợp lại với nhau tạo thành một hệ
thống sông (hay còn gọi là mạng lưới sông). Trong hệ thống sông, người ta lấy tên
sông chính gọi tên cho cả hệ thống sông ấy.
Tiêu chí đánh giá sự phát triển của mạng lưới sông ngòi, nhất là chiều dài dòng
chảy người ta thường biểu thị bằng mật độ lưới sông (tổng độ dài các sông trong lưới
sông chia cho diện tích lưu vực sông – Đơn vị: km/km2)
3. Hình dạng lưới sông
Có nhiều hình dạng lưới sông khác nhau, mỗi kiểu hình dạng lại ảnh hưởng
khác nhau đến chế độ lũ:
- Lưới sông hình lông chim: dạng lưới sông này có một dòng sông chính tương

phận (thường là khúc thượng lưu) của một dòng sông thuộc lưu vực khác chảy vào
dòng của mình. Nguyên nhân của hiện tượng này là tác dụng xâm thực giật lùi (đào
sâu lòng, làm cho nguồn sông lùi dần lên phía trên) của sông về phía thượng nguồn.
Khi hiện tượng cướp dòng xảy ra thì diện tích lưu vực sẽ thay đổi theo.
Lưu vực sông có tác động rất lớn tới dòng chảy sông ngòi, tỉ lệ thuận với lượng
nước của sông ngòi. Diện tích lưu vực lớn thì tác dụng điều hòa dòng chảy sẽ lớn hơn
và ngược lại. Hình dạng lưu vực cũng có tác dụng nhất định đến quá trình tập trung
nước và đặc điểm lũ, ví dụ lưu vực dạng tròn thường gây lũ kép toàn phần, nhưng lưu
vực dạng dài thường sản sinh lũ bộ phận, đơn lẻ.
5. Dòng chảy sông ngòi
5.1. Dòng chảy nước
Lưu lượng dòng chảy: Là lượng nước chảy qua mặt cắt ngang lòng sông ở một
địa điểm nào đó trong một giây đồng hồ, đơn vị là m3/s.
Thủy chế sông ngòi: Là lưu lượng nước của sông có thể thay đổi tùy theo
tháng, theo mùa trong 1 năm theo một nhịp điệu nhất định. Thủy chế sông ngòi
thường gồm mùa lũ và mùa cạn. Mùa lũ gồm các tháng liên tục trong năm, từng tháng
đều có lưu lượng dòng chảy lớn hơn hoặc bằng bình quân tổng lưu lượng cả năm /12
6


tháng; các tháng còn lại là mùa cạn. Mùa lũ có tháng bắt đầu, tháng kết thúc và tháng
đỉnh lũ; tương tự đối với mùa cạn.

Thủy chế có thể là đơn giản (chỉ bao gồm 1 mùa lũ và 1 mùa cạn kế tiếp), có
thể là sông chế độ nước phức tạp: tồn tại hai hoặc nhiều hơn hai mùa lũ, hai hay nhiều
hơn hai mùa cạn xen kẽ nhau. Ngoài ra cũng có một số loại khác khá phức tạp như
chế độ nước đơn giản mà trong mùa cạn có thêm một mùa lũ Tiểu mãn.
5.2. Dòng chảy cát bùn
Dòng chảy cát bùn là dòng chảy bao gồm các vật chất rắn như sỏi, cuội ... nhất
là phù sa nên cũng được gọi là dòng chảy rắn. Nguồn gốc của phù sa là do năng lượng

* Nguồn cung cấp nước: Mưa, băng tuyết, nước ngầm:
Ở vùng khí hậu nóng hoặc những nơi địa hình thấp của khí hậu ôn đới, nguồn
cung cấp nước chủ yếu là nước mưa nên chế độ nước sông của từng nơi phụ thuộc
vào chế độ mưa của nơi đó.
Ở nhưng nơi đất đá thấm nước nhiều, nước ngầm có vai trò đáng kể trong việc
điều hòa chế độ nước sông.
Ở miền ôn đới lạnh và miền núi cao, nước sông chủ yếu do băng tuyết tan cung
cấp. Mùa xuân đến, khi nhiệt độ lên cao, băng tuyết tan, sông được tiếp nước nên mùa
xuân là mùa lũ.
* Độ dốc của dòng sông (địa thế), thực vật, hồ đầm:
Độ dốc của dòng sông, càng lớn thì nước càng lên nhanh và rút cũng nhanh.
Một trong những lí do chính khiến lũ ở sông ngòi miền Trung nước ta lên nhanh rút
nhanh là do các sông ở đây ngắn và rất dốc.
Thực vật ở lưu vực sông cũng góp phần điều hòa chế độ nước của sông. Khi
nước mưa rơi xuống, một phần lượng nước khá lớn được giữ lại ở tán cây, phần còn
lại khi xuống tới bề mặt đất một phần được lớp thảm mục giữ lại, một phần len lỏi
qua các rễ cây thấm dần xuống đất tạo nên các mạch nước ngầm, điều hòa dòng chảy
cho sông ngòi, giảm lũ lụt
Hồ, đầm nối với sông cũng có tác dụng điều hòa chế độ nước sông. Khi nước
sông lên một phần chảy vào hồ, đầm. Khi nước xuống thì nước ở hồ, đầm lại chảy ra
làm cho nước sông đỡ cạn. Ví dụ sông Cửu Long ở nước ta khá điều hòa, một phần
nhờ bể chứa nước thiên nhiên khổng lồ là hồ Tôn-lê-sáp ở Campuchia.
* Địa chất (cấu trúc đất đá)
Đất đá khác nhau cũng là nguyên nhân khiến cho dòng chảy khác nhau. Dòng
sông chảy qua miền đất đá khó thấm nước như đá kết tinh, đất sét do khó thấm nước
nên mạch ngầm ít. Sau mỗi trận mưa nước dồn xuống lòng sông, độ thấm nước chậm
khiến nước dâng cao nhanh, chế độ nước sông ở vùng đất đá ít thấm nước thường có
tính chất cực đoan. Dòng sông chảy qua miền đất đá dễ thấm nước như vùng đất
8


bằng châu thổ (2 - 4 km/km2), sau đó đến vùng núi cao có sườn đón gió mật độ trên
1.5 km/km2), thấp nhất là vùng có núi đá vôi và vùng có khí hậu khô hạn: vùng núi đá
vôi phía Bắc và Nam Trung bộ.
- Hầu hết sông ngắn, diện tích lưu vực nhỏ (do lãnh thổ nước ta hẹp ngang),
trong đó có một số sông lớn: sông Hồng, sông Cửu Long, sông Đồng Nai đa phần
lượng nước các sông lớn được đưa từ bên ngoài vào.
9


- Hầu hết các sông đều đổ ra biển đông, có một số ít sông chảy ra bên ngoài
lãnh thổ: như sông Bằng Giang, Kì Cùng, các hệ thống sông ở Tây Nguyên… do cấu
trúc địa hình, nhất là hướng nghiêng địa hình do tác động của yếu tố địa chất.
b. Lượng nước phong phú chủ yếu do lượng mưa lớn và nguồn cung cấp từ ngoài
lãnh thổ.
- Lưu lượng nước bình quân 26.600m3/s.
- Tổng lượng nước TB 839 tỉ m3/năm trong đó phần nước sinh trên lãnh thổ
chiếm 38.5%, nguồn nước từ Việt Nam sang các nước xung quanh chiếm 1.5%, 60%
lượng nước là từ phần lưu vực ở bên ngoài lãnh thổ vào nước ta.
- Nếu xét theo vị trí, nước trên mặt chiếm 76% (637 tỉ m 3/năm), nước ngầm
chiếm 24% (tương đương 202 tỉ m 3/năm). Lượng nước mặt phân bố không đều, chủ
yếu là sông Mê Công (60,4%), sông Hồng (15,1%), còn lại là các hệ thống sông khác.
c. Sông ngòi Việt Nam có nhiều phù sa, bởi sông ngòi chảy trên miền địa hình dốc,
sức xâm thực rất mạnh.
- Hàm lượng phù sa TB 226 tấn/ km2/ năm.
- Tổng lượng phù sa đạt TB 200 triệu tấn/ năm. Trong đó sông Hồng 120 triệu
tấn. Sông Cửu Long 70 triệu tấn, còn lại là các sông khác.
- Độ đục bình quân 223g/m3, tuy nhiên có sự khác biệt giữa các khu vực. Nơi
có sự suy giảm của rừng bao phủ thì độ đục có thể lên đến 600 – 700 g/m 3, nơi có
nhiều đá vôi thì độ đục giảm xuống chỉ còn 70 g/m 3 . Theo hệ thống sông thì độ đục
cao nhất thuộc sông Hồng, tiếp đến là sông Cửu Long…

hạn chế chênh lệch mực nước giữa hai mùa bằng cách xây dựng các hồ thủy điện,
thủy lợi, xây dựng hệ thống kênh mương…
1.4. Chế độ nước sông có tính thất thường, phụ thuộc vào sự thất thường của thời
tiết và khí hậu
- Chênh lệch về dòng chảy trong 2 mùa rất lớn, ví dụ:
+ Mùa lũ: Kéo dài từ 4 - 5 tháng: lượng nước lớn, mùa lũ có xu hướng chậm
dần từ B vào N, lũ sớm nhất ở sông Kì Cùng, Bằng Giang, sau đó đến sông ngòi ở
Bắc Bộ -> Sông ở Bắc Trung Bộ -> sông ở Duyên hải Nam Trung Bộ do liên quan
đến hoạt động của hội tụ nội chí tuyến.
+ Mùa cạn: Kéo dài 7 tháng, lượng nước trên sông nhỏ chiếm 20- 30% lượng
nước, sông ở Đông Bắc thấp nhất vào tháng 2, sông ở ĐBBB là tháng 3, ở Bắc Trung
Bộ là tháng T4 … riêng sông Hinh, sông Thu Bồn thấp vào tháng 7- 8.
+ Chênh lệch giữa các tháng lớn nhất và nhỏ nhất lớn: sông Hồng chênh lệch
nước mùa lũ gấp 4 lần mùa cạn, nước dâng lên rất nhanh gây lũ đột ngột, sông Cửu
Long chế độ dòng chảy điều hoà hơn nhưng chênh lệch lượng nước mùa lũ gấp 7 lần
mùa cạn.
2. Phân hóa sông ngòi: Sông ngòi nước ta có sự phân hoá rõ trong không gian
2.1. Một số tiêu chí phân hóa sông ngòi nước ta
Nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự phân hóa sông ngòi theo không gian đó là do
sự phân bố lượng mưa, do cấu trúc địa hình, địa chất, hình dạng lãnh thổ… nên sông
ngòi có sự phân hoá rõ giữa các vùng.
* Mật độ sông suối lớn nhất thường tập trung ở đồng bằng, trong đó chủ yếu là
đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long, chưa đủ để tiêu hết lượng nước
nên vẫn có hiện tượng ngập úng.
- Thưa nhất: Tập trung ở vùng núi đá vôi, đá dễ thấm nước, ở đó thiếu dòng
chảy mặt nhưng nước ngầm lại phong phú (mật độ chỉ 0.5 km/km2)
* Diện tích lưu vực và độ dài sông: chia làm 3 khu vực.
11



- Sông ngòi ở miền Trung: hàm lượng phù sa thấp do sông ngắn, bắt nguồn trên
lãnh thổ nước ta, lại chảy qua vùng địa hình đá cứng hoặc đá dễ thấm nước như đá
vôi.
- Sông ngòi ở Nam Bộ: Sông có hàm lượng phù sa khá cao, sau sông ngòi ở
Bắc bộ.
* Phân hóa về giá trị kinh tế:
12


- Sông ngòi ở Bắc Bộ: Có giá trị về thủy điện, thủy lợi, nông nghiệp (phù sa) và
ở một số đoạn thuộc trung và hạ lưu còn phát triển GTVT.
- Sông ở miền trung: Có giá trị về thủy lợi, thủy điện; một số hạ lưu sông lớn có
giá trị GTVT tuy nhiên không nhiều.
- Sông ngòi Nam Bộ và Tây Nguyên:
+ Nam bộ: Giá trị về thủy lợi, GTVT, du lịch, nông nghiệp.
+ Tây Nguyên: Giá trị về thủy điện và thủy lợi là cơ bản nhất.
2.2. Hệ thống phân vùng thủy văn
- Ý nghĩa của phân vùng thủy văn nước ta:
+ Nước ta ở vùng nhiệt đới gió mùa, sông suối phát triển, có đặc điểm không
giống nhau. Thông qua phân vùng thủy văn có thể tổng hợp phân tích quy luật thủy
văn, tìm hiểu một cách có hệ thống và toàn diện các lưu vực sông ngòi. Phân vùng
thủy văn cũng phản ánh trình độ nghiên cứu thủy văn của một vùng hay một quốc gia,
bởi vì chỉ khi nào trình độ khoa học ở đó phát triển đến một mức độ nào đó, tích luỹ
được nhiều taì liệu về các mặt mới có thể tiến hành phân vùng được.
+ Phát triển sản xuất hay khoa học đều đòi hỏi nghiên cứu nguồn nước một
cách toàn diện. Để công tác nghiên cứu có kết quả từng bước một yêu cầu phải có quy
hoạch phát triển công tác thủy văn lâu dài. Phân vùng thủy văn là một căn cứ quan
trọng để xây dựng thành quy hoạch này.
+ Phân vùng thủy văn giúp cho công tác tính toán thủy văn phát triển hợp lý,
thúc đẩy khoa học thuỷ văn phát triển để phục vụ sản xuất.

với các hệ thống sông khác của nước ta là bắt nguồntừ lãnh thổ Việt Nam và đổ vào
Trung Quốc.
* Đặc điểm lưu vực và dòng chính.
- Lưu vực khá lớn, diện tích lưu vực ở lãnh thổ nước ta là 11.000km2.
- Sông Bằng Giang bắt nguồn từ khu vực núi thấp phía Bắc cánh cung Ngân
Sơn ở độ cao khoảng 600m, chảy theo hướng TB- ĐN qua Tp Cao Bằng rồi đổ sang
Trung Quốc.
- Sông Kì Cùng bắt nguồn từ dãy núi thấp giáp biển Quảng Ninh, chảy theo
hướng ĐN- TB quy thành phố Lạng Sơn, đến khu vực Thất Khê thì gặp sông Bắc
Giang, sau đỏ thì đổ sang Trung Quốc gặp sông bằng ở Quảng Tây (Trung Quốc).
Sông Kì Cùng được coi là dòng chính của hệ thống dài 243km.
* Hệ thống dòng chảy: Dòng chính gồm Kì cung và Bằng Giang, phụ lưu cấp 1
quan trong nhất là sông Bắc Giang, ngoài ra còn có các phụ lưu quan trọng khác.
* Chế độ nước sông.
- Do chế độ mưa mùa nên chế độ nước sông cũng thay đổi theo mùa, mùa lũ
kéo dài từ tháng 6 đến thàng 10 (4 tháng) chếm 70% tổng lượng nước cả năm, tháng
đỉnh lũ là tháng 8. Mùa cạn từ tháng 10 - tháng 5 chiếm khoảng 30% tổng lượng
nước, trong đó tháng kiệt nhất là tháng 2.
- Mùa lũ của sông Bằng Giang ít cực đoan hơn do sông này chảy qua một bộ
phận sơn nguyên đá vôi có khả năng thấm nước tốt, chênh lệch lũ, cạn cũng nhỏ hơn
sông Kì Cùng (lũ lên nhanh và rút nhanh hơn).
* Hàm lượng phù sa khá lớn 686 g/m3, là sông có hàm lượng phù sa lớn thứ 2 ở
nước ta sau hệ thống sông Hồng. trong đó sông Kì Cùng có hàm lượng phù sa lơn hơn
sông Bằng Giang
3.2. Hệ thống sông Thái Bình
* Đặc điểm lưu vực và dòng chính.
14


- Là hệ thống sông khá lớn có diện tích lưu vực nằm hoàn toàn trong lãnh thổ

đoạn từ Việt Trì ra biển có độ dốc 3cm/km.
* Hệ thống dòng chảy gồm:
Dòng chính là sông Hồng (sông Thao là tên gọi từ Lào Cai đến Việt Trì, sông
Cái, sông Nhị Hà ở Hà Nội…). Sông Hồng có 614 phụ lưu từ cấp 1 đến cấp 6, trong
đó sông Đà và sông Lô là hai phụ lưu cấp 1 lớn nhất. Sông Đà dài 1.010km, đoạn ở
15


Việt Nam dài 570km, tổng diện tích lưu vực là 52.900km2. Sông Lô dài 470km, ở Việt
Nam dài 275km, tổng diện tích lưu vực là 39.000km2.
Bên cạnh đó có nhiều chi lưu: Sông Đuống, sông Luộc (chia nước cho hệ thống
sông Thái Bình), sông Đáy,
* Chế độ nước sông
Hệ thống sông Hồng có dạng nan quạt, qui tụ về Việt Trì. Do đó về mùa lũ,
nước lên rất nhanh tạo những trận lũ lớn.
– Lưu lượng của sông khá lớn 3.560m3/s, tổng lượng nước năm là 112 tỉ m3.
Trong đó sông Đà chiếm 47%, Lô 29%, Thao 24%.
– Sông Hồng có mùa lũ dài 5 tháng từ tháng 6 đến tháng 10, chiếm 75% lượng
nước trong năm. Các tháng mùa cạn dài 7 tháng, chiếm 25% lượng nước năm, tháng 3
hạn nhất (tháng kiệt nhất), chỉ chiếm 1-2% lưu lượng của năm.
– Lũ sông Hồng thường là lũ kép, mùa lũ nước sông dâng lên rất nhanh: 3 –
7m/ngày, để tiêu lũ sông Hồng phải đổ ra biển bằng nhiều cửa. Trong đó có 4 cửa
quan trọng là Trà Lí, Ba Lạt, Lạch, Đáy.
* Hàm lượng phù sa
Lượng dòng chảy cát bùn của sông Hồng cũng rất phong phú. Sông Hồng ở
Sơn Tây có độ trung bình là 1010g/m3 ứng với tổng lượng phù sa 120 triệu tấn/năm
và trị sô sâm thực 793 tấn/km2/năm. Dòng cát bùn ở thượng lưu sông Hồng lớn hơn
hẳn ở trung và hạ lưu. Ở Lào Cai, sông Hồng có độ đục trung bình là 2730g/m3, tức
là gấp 2,7 lần độ đục ở Sơn Tây. Dòng chảy cát bùn cũng có sự phân chia thành 2
mùa, nhưng sự tương phản giữa mùa lũ và mùa cạn về độ đục rất lớn, mùa lũ có thể

Đô Lương, thành phố Vinh và đổ ra vịnh Bắc Bộ ở cửa Hội, có hướng chính là hướng
Tây Bắc- Đông Nam dọc theo đứt gãy sông Cả.
* Hệ thống dòng chảy:
Hệ thống sông Cả có tới 150 phụ lưu, tới phụ lưu cấp 3, trong có các phụ lưu
quan trọng như sông Con bên tả ngạn, từ núi Phu Hoạt chảy xuống và các sông Ngàn
Phố, Ngàn Sâu bên Hữu Ngạn trên đất Hà Tĩnh từ sườn núi Bà Mụ và Rào Cỏ chảy
về.
* Chế độ nước sông:
Hệ thống sông Cả có lượng nước khá lớn tổng lượng nước trung bình hàng năm
tới 24,7 tỉ m3.
Môđun dòng chảy của lưu vực sông Cả là 33 l/s/km3. Tuy vậy, môđun dòng
chảy phân bố không đều. Tại Mường Xén (trên sông Nậm Mô) môđum dòng chảy là
26,7 l/s/km2, tại Quỳ Châu (trên sông Hiếu) môđum dòng chảy là 47,7 l/s/km2 tại
Hòa Duyệt (trên sông Ngàn Sâu) môđum dòng chảy tới 64,9 l/s/km2.
Chế độ dòng chảy của hệ thống sông Cả khá phức tạp và không đồng nhất tại
các khu vực. Trên dòng chính sông Cả tại Yên Thượng mùa lũ kéo dài 5 tháng( từ
tháng 7-11) và tháng có lượng nước lớn nhất là tháng 9. Trên sông Hiếu mùa lũ đến
sớm hơn, từ tháng 6 và kéo dài 6 tháng cho đến tháng 11. Trên sông Ngàn Sâu, chế độ
dòng chảy đã mang tính chất của sông ngòi Trung Trung Bộ với sự xuất hiện của lũ
tiểu mãn( tháng 5) và mùa lũ chính đã rút ngắn, chỉ còn 3 tháng và thường sảy ra
muộn từ tháng 9 đến tháng 11.
* Hàm lượng phù sa: Về dòng chảy cát bùn, hệ thống sông Cả có lượng phù sa
không lớn lắm. Trên sông Cả tại Yên Thượng, độ đục trung bình hàng năm là 206
g/m3 tương đương tổng lượng phù sa 3,5 triệu tấn/năm và trị số sông thực là 148
tấn/năm/km2. Tuy vậy, tại Quỳ Châu độ đục trung bình hàng năm chỉ có 18g/m3 và
tại Hòa Duyệt độ đục thấp hơn cả, chỉ còn 114g/m3.
17


3.6. Hệ thống sông Thu Bồn

ra biển ở cửa Đà Diệt (Tuy Hòa).
* Hệ thống dòng chảy:
Hệ thống sông Ba cũng khá phát triển, có tới 105 phụ lưu thuộc 4 cấp, trong đó
đáng kể là sông Ay-Dun dài 175km với diện tích lưu vực 2950km2, sông Krông
H’năng dài 130km với diện tích lưu vực 11840km2, và sông Hinh dài 88km với diện
tích lưu vực 1040km2. Các trị số đặc trưng dòng chảy hệ thống sông Ba không lớn
lắm. Tại Củng Sơn, môđum dòng chảy là 23 l/s/km2 tương đương với tổng lượng
18


nước 9,39 tỉ m3/năm, với lớp dòng chảy là 672 mm/năm và hệ số dòng chảy 0,42. Tuy
nhiên các phụ lưu của sông Ba có lượng nước lớn hơn như tại khu vực Cheo Reo trên
sông Ay-Dun môđum dòng chảy đạt 24 l/s/km2 và tại khu vực sông Hinh, môđum lên
tới 63,8 l/s/km2.
* Chế độ nước sông:
Chế độ nước của hệ thống sông Ba khá phức tạp, mang tính chất của các sông
miền Trung Trung Bộ tức là có thêm lũ tiểu mãn vào các tháng 6-7 còn mùa lũ chính
thì lại ngắn và xảy ra muộn, thường vào tháng 9-12. Lượng nước mùa lũ chiến hơn
70% lượng nước cả năm và riêng tháng có lưu lượng lớn nhất( tháng 11) đã chiếm tới
28,5%, tương đương với lượng nước của 8 tháng mùa cạn. Tháng kiệt nhất là tháng 4
có lượng nước chỉ chiếm 1,4% tổng lượng nước cả năm. Điều đó cũng nói lên tính
chất khắc nghiệt của mùa khô ở đây. Vì vậy, ngay từ năm 1928 đạp Đồng Cam đã
được xây dựng và hiện đang tiếp tục xây dựng các công trình thủy lợi lớn như công
trình thủy lợi sông Hinh để điều hòa mực nước và giữ nước phục vụ sản xuất nông
nghiệp.
* Hàm lượng phù sa: Không lớn, tại Củng Sơn độ đục trung bình hàng năm là
227g/m3 và trị số sông thực cũng chỉ tới 158 tấn/km2/năm.
2.8. Hệ thống sông Đồng Nai - Vàm Cỏ
* Đặc điểm lưu vực và dòng chính:
Đây là một hệ thống kép, vì hai sông Đồng Nai và sông Vàm Cỏ chỉ gặp nhau ở

37,2 l/s/km2, tại Cần Đăng trên sông Vàm Cỏ là 17,3 l/s/km2.
Chế độ nước của hệ thống sông Đồng Nai- Vàm Cỏ cũng đơn giản, có một mùa
lũ và một mùa cạn. Tại Trị An mùa lũ kéo dài 5 tháng( từ tháng 7-11) với lượng nước
chiến tới 82,8% tổng lượng nước cả năm. Tháng có lượng nước lớn nhất là tháng 8
chiếm 21% lượng nước cả năm. Mùa cạn kéo dài tới 7 tháng( từ tháng 12-6) nhưng
lượng nước chỉ bằng 17,2% tổng lượng nước cả năm và tháng kiệt nhất là tháng 3 chỉ
chiếm 0,8% tổng lượng nước. Lũ trên hệ thống sông Đồng Nai- Vàm Cỏ không tập
trung đột ngột do dạng lông chim của mạng lưới sông, do độ dốc lưu vực không lớn
với lớp vỏ phong hóa dầy và do độ che phủ rừng còn cao. Chỉ có ở khu vực hạ lưu, do
cửa sông có dạng vịnh cửa sông nên thủy triều đã có tác động mạnh nhất là trên các
sông Vàm Cỏ và sông Sài Gòn. Lên quá Biên Hòa 30km vẫn còn thấy tác động của
thủy triều.
* Hàm lượng phù sa: Lượng phù sa của hệ thống sông Đồng Nai- VÀm Cỏ
không nhiều tổng lượng phù sa vào khoảng 3,36 triệu tấn/năm với độ đục trung bình
khoảng 200 g/m3 và trị số sâm thực là 277 km2/năm.
3.9. Hệ thống sông Cửu Long
* Đặc điểm lưu vực và dòng chính
Hệ thống sông Mê Công là một trong những hệ thống sông lớn ở Châu Á và
thế giới. Hệ thống sông Mê Công có diện tích lưu vực tới 810.000km2 trong đó có
20,7% thuộc Trung Quốc;2,6% thuộc Mianma; 32,4% thuộc Lào; 23,8% thuộc Thái
Lan; 19% thuộc Campuchia và 1,5% thuộc Việt Nam. Chiều dài dòng chính của sông
Mê Công tới 4500 km, nhưng phần ở Việt Nam chỉ 230km. Sông Mê Công bắt nguồn
từ cao nguyên Tây Tạng( ở độ cao 5000m), chảy chủ yếu theo hướng Bắc-Nam chừ 2
đoạn ngắn ở Thượng Lào theo hướng tây-đông. Về đến Phnôm Pênh sông Mê Công
chia làm 3 nhánh: nhánh Tông lê Sáp chảy vào Biển Hồ và 2 nhánh chảy vào Việt
Nam là sông Tiền và sông Hậu. Sông Mê Công đổ ra biển Đông qua chín cửa là cửa
Tiểu, cửa Đại, cửa Ba Lai, cửa Hàm Luông, cửa Cổ Chiên, cửa Cung Hầu, cửa Định
An, cửa Bát Xắc và cửa Chênh Đề.Và chính vì vậy mà sông Mê Công ở Việt Nam còn
được mang tên là sông Cửu Long (chín con rồng tượng chưng cho chín cửa sông).
* Hệ thống dòng chảy:

vùng đồng bằng châu thổ sông Cửu Long thêm màu mỡ và hàng năm tiến ra biển tới
hàng trăm mét.
4. Tác động của sông ngòi đến sản xuất và sinh hoạt của người dân nước ta
4.1. Tích cực
* Nông nghiệp
Sông ngòi vận chuyển phù sa bồi tụ thành đồng bằng châu thổ thuận lợi phát
triển nông nghiệp. Hơn nữa muốn duy trì hoạt động sản xuất nông nghiệp cần có đầy
đủ nước ngọt. Ở nước ta, khu vực hạ lưu của các con sông lớn được bồi tụ phù sa màu
mỡ cùng nguồn nước dồi dào thì cũng đồng thời là các vùng nông nghiệp trù phú như
sông Hồng, Mê Công…

21


* Ngư nghiệp
Một số sông lớn ở nước ta có giá trị về ngư nghiệp rất lớn, kể cả đối với ngành
khai thác và nuôi trồng. Trong những năm gần đây, việc khai thác các nguồn lợi thủy
sản trên các sông suối, nhất là mùa nước lũ rất phát triển. Bên cạnh đó, các khu vực đã
hình thành các bè cá nuôi trên các sông suối, mang lại giá trị cao, đặc biệt ở đồng
bằng sông Cửu Long.
* Công nghiệp.
Những vùng có nhiều sông lớn lại chảy trên những bậc địa hình khác nhau tạo
nên tiềm năng cho công nghiệp thủy điện. Thủy điện, sử dụng động lực hay năng
lượng dòng chảy của các con sông hiện nay chiếm 20% lượng điện của thế giới. Ở
Việt Nam có nguồn thủy năm dồi dào với 30 triệu KW, chủ yếu là ở hệ thống sông
Hồng (37%), Đồng Nai (19%)…điều đó góp phần phát triển ngành công nghiệp năm
lượng ở nước ta.
Ưu điểm của thủy điện là giá thành trên 1 đơn vị điện năng thấp vì nhiều lí do.
Thứ nhất là hạn chế được sự tăng giá của nhiên liệu hóa thạch như dầu mỏ, khí thiên
nhiên hay than đá, và không cần phải nhập nhiên liệu. Thứ hai, các nhà máy thủy điện


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status