BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN VŨ QUANG
CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA VIỆN KIỂM SÁT
NHÂN DÂN TRONG VIỆC ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP NGĂN
CHẶN THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Chuyên ngành: Luật hình sự
Mã số: 60 38 40
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học
PGS. TS. Hoàng Thị Minh Sơn
HÀ NỘI 2011
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
LỜI NÓI ĐẦU
1
Chương 1: Một số vấn đề chung về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của
Viện kiểm sát nhân dân trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn
nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân trong việc áp dụng các biện
pháp ngăn chặn
56
KẾT LUẬN
67
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Trang
Biểu đồ số 2.1: Số người bị tạm giữ từ năm 2005 – 2009
32
Biểu đồ số 2.2: Kết quả xử lý người bị tạm giữ từ năm 2005 – 2009
33
Biểu đồ số 2.3: Số người bị tạm giữ theo các hình thức bắt trong 5
năm 2005 – 2009
33
Biểu đồ số 2.4: Số người bị tam giam từ 2005 – 2009
Tiến hành tố tụng
6. TAND
Tòa án nhân dân
7. VKS
Viện kiểm sát
8. VKSND
Viện kiểm sát nhân dân
9. VKSQS
Viện kiểm sát quân sự
1
LỜI NÓI ĐẦU
1.Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong hệ thống các biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự thì các BPNC
chiếm vị trí đặc biệt quan trọng, vì nó giúp cơ quan THTT có điều kiện thuận lợi
để giải quyết vụ án hình sự. Việc áp dụng đúng đắn, chính xác các BPNC đảm
bảo cho việc thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ của hoạt động tố tụng hình sự
để phát hiện nhanh chóng, ngăn chặn và xử lý kịp thời, nghiêm minh đối với
người phạm tội, không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội.
Trong số các cơ quan có thẩm quyền áp dụng BPNC, VKSND là cơ quan
Nghị quyết 08/-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số
nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới (sau đây gọi tắt là Nghị
quyết 08/-NQ/TW) chỉ rõ:
“VKS các cấp thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong hoạt động tư pháp… Tăng cường công tác kiểm sát việc bắt,
giam, giữ, bảo đảm đúng pháp luật; những trường hợp chưa cần bắt, tạm giữ,
tạm giam thì kiên quyết không phê chuẩn lệnh bắt, tạm giữ, tạm giam; phát hiện
và xử lý kịp thời các trường hợp oan, sai trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam thuộc
thẩm quyền phê chuẩn của mình” [10].
Trước yêu cầu về cải cách tư pháp nêu trên, đòi hỏi phải nghiên cứu một
cách toàn diện, đầy đủ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong
việc áp dụng các BPNC. Đó chính là lý do để tác giả chọn đề tài: “Chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong việc áp dụng các biện
pháp ngăn chặn theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự” làm đề tài nghiên
cứu cho luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong điều kiện Đảng và Nhà Nước ta chủ trương cải cách tư pháp, vấn
đề chức năng của VKSND nói chung cũng như chức năng của VKSND trong
việc áp dụng các BPNC đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều
chuyên gia, nhà khoa học, nhà hoạt động thực tiễn và nhiều tác giả khác ở cả
phương diện lý luận và thực tiễn. Có thể chia các công trình nghiên cứu theo các
nhóm sau:
Nhóm thứ nhất: Các công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo đã xuất
bản, như: “Những điều cần biết về bắt người, tạm giữ, tạm giam đúng pháp
luật” của thạc sĩ Phạm Thanh Bình - Nguyễn Vạn Nguyên, Nxb Chính trị Quốc
gia (1993); “Các BPNC và vấn đề nâng cao hiệu quả của chúng” của Thạc sĩ
Nguyễn Vạn Nguyên, Nxb Công an nhân dân, 1993; “Tạm giữ, tạm giam trong
tố tụng hình sự Việt Nam” - Luận văn Thạc sĩ của tác giả Phạm Thanh Bình (bảo
vệ năm 2007); “Về tự do cá nhân và biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự” của
Tiến sĩ Trần Quang Tiệp, Nxb Chính trị Quốc gia, 2005; “Biện pháp ngăn chặn
tụng hình sự của các trường Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật trường Đại học xã
hội và nhân văn Đại học Quốc gia Hà Nội, Học viện an ninh, Học viện Cảnh sát,
trường Đào tạo và Bồi dưỡng Nghiệp vụ kiểm sát, Học viện Tư pháp. Các tài
liệu này chủ yếu phân tích nội dung các quy định của BLTTHS trong đó có vấn
đề về BPNC và vai trò, trách nhiệm, thẩm quyền của VKSND trong việc áp
dụng các BPNC.
Tuy nhiên những công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo, bài viết, tài
liệu, giáo trình nêu trên chủ yếu đề cập đến từng BPNC cụ thể hoặc nghiên cứu
về BPNC với nội dung về thẩm quyền, điều kiện, căn cứ, đối tượng áp dụng
BPNC trong đó có nội dung khái quát về chức năng của VKSND, song chưa có
đề tài, công trình nghiên cứu riêng về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của
VKSND trong việc áp dụng BPNC. Chính vì vậy tôi mạnh dạn chọn đề tài:
“Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong việc áp
dụng các biện pháp ngăn chặn theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự”
làm đề tài luận văn Thạc sĩ của mình, với mong muốn nghiên cứu chi tiết hơn về
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong việc áp dụng các BPNC
theo quy định của BLTTHS hiện hành, từ đó đưa ra những đề xuất nhằm khắc
phục những thiếu sót, hạn chế trong công tác xây dựng và áp dụng pháp luật,
4
nâng cao hiệu quả của việc áp dụng BPNC, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và
hội nhập Quốc tế.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề chủ yếu
sau:
- Lý luận chung về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong
việc áp dụng BPNC
- Các quy định của BLTTHS sự liên quan đến chức năng, nhiệm vụ,
5
- Nghiên cứu làm rõ những quy định của Pháp luật tố tụng hình sự hiện
hành về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong việc áp dụng BPNC
và những hạn chế, bất cập trong những quy định này.
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng áp dụng những quy định của pháp luật
về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong việc áp dụng BPNC để
xác định những hạn chế, bất cập trong việc thực hiện và tìm ra nguyên nhân của
nó để làm cơ sở cho việc đề xuất hoàn thiện quy định của pháp luật về về chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong việc áp dụng BPNC.
6. Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn
Điểm mới của luận văn là nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ về chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong việc áp dụng các BPNC, trong
điều kiện Đảng và Nhà Nước chủ trương cải cách tư pháp, sửa đổi Hiến pháp,
Luật Tổ chức VKSND, BLTTHS trong đó có nội dung về mô hình, chức năng
của VKSND. Đây là hướng nghiên cứu hoàn toàn mới, tác giả hy vọng thông
qua việc đánh giá những quy định của Luật tổ chức VKSND, BLTTHS năm
2003 về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong việc áp dụng các
BPNC ở giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử và trong việc kiểm sát thực hiện chế
độ đối với người bị bắt, tạm giữ, tạm giam cũng như việc đảm bảo quyền và lợi
ích hợp pháp của người bị áp dụng các BPNC khác, trên cơ sở đó đưa ra một số
kiến nghị về hoàn thiện pháp luật và các giải pháp nâng cao chất lượng thực hiện
chức năng của VKSND trong việc áp dụng các BPNC.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung
chính của luận văn bao gồm 2 chương và 5 mục.
6
Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, để kịp thời ngăn chặn tội phạm,
ngăn chặn việc bị can, bị cáo gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử, thi
hành án hoặc ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, CQĐT các cơ quan khác được
giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt đồng điều tra (gọi chung là CQĐT), VKS
và Tòa án trong phạm vi thẩm quyền tố tụng của mình hoặc người có thẩm
quyền theo quy định của BLTTHS có thể áp dụng các BPNC: bắt, tạm giữ, tạm
giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo
7
đảm. Chủ thể có quyền áp dụng các BPNC tố tụng hình sự bao gồm các cơ quan:
CQĐT, VKS và Tòa án. Trong đó CQĐT áp dụng các BPNC bắt, tạm giữ đối
với người chưa bị khởi tố bị can. Các BPNC tiếp theo do cả CQĐT, VKS, Tòa
án áp dụng đối với bị can, bị cáo và người bị kết án.
Việc áp dụng kịp thời, đúng đắn, chính xác các BPNC có vai trò quan trọng
trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Ngược lại, việc
lạm dụng các BPNC để thay thế hoạt động điều tra, bắt, tạm giữ, tạm giam oan,
sai sẽ gây hậu quả nghiêm trọng, xâm phạm đến các quyền cơ bản của công dân
được Hiến pháp bảo vệ, làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào các cơ quan
bảo vệ pháp luật. Điều 71 Hiến pháp năm 1992 khẳng định trong giai đoạn điều
tra, truy tố việc bắt người phải do VKS quyết định hoặc phê chuẩn; trong giai
đoạn xét xử, quyền này thuộc về Tòa án các cấp [15].
Luật tố tụng hình sự Việt Nam quy định CQĐT có có thẩm quyền giải
quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Khi tiếp nhận, giải quyết
tin báo, tố giác tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong quá trình điều tra vụ án hình
sự, CQĐT, các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động
điều tra được áp dụng một trong các BPNC sau: bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi
khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản để bảo đảm. Hoạt động áp dụng
các BPNC tuy không trực tiếp truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm
kiểm sát nhân dân trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn
Nghiên cứu các khái niệm quyền công tố và thực hành quyền công tố thấy
rằng, về cơ bản phạm vi thực hành quyền công tố đồng nhất với phạm vi quyền
công tố, đó là từ khi có tội phạm xảy ra đến khi bản án có hiệu lực pháp luật,
không bị kháng nghị, hoặc vụ án bị đình chỉ. Do đó về mặt nguyên tắc, có tội
phạm xảy ra là đòi hỏi quyền công tố phải được thực hiện. Song để có cơ sở
phát động quyền công tố, phải có giai đoạn thu thập tài liệu, tin tức về tội phạm
như tiếp nhận, xác minh tin báo, tố giác về tội phạm, tiến hành một số hoạt động
trước khi khởi tố vụ án như khám nghiệm hiện trường, bắt và khám xét khẩn
cấp, tạm giữ, lấy lời khai của người bị tạm giữ, người làm chứng, người bị hại.
Như vậy pháp luật tố tụng hình sự đã cho phép thực hành quyền công tố sớm
một bước để tạo điều kiện chủ động và phát hiện có hiệu quả mọi hành vi phạm
tội. Tuy nhiên không phải mọi trường hợp quyền công tố đều kéo dài đến khi
bản án có hiệu lực pháp luật, mà nó có thể kết thúc ở giai đoạn sớm hơn khi vụ
án bị đình chỉ theo quy định tại Điều 105, 107 BLTTHS, Điều 25, 69 Bộ luật
hình sự .
Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, sau khi nhận được tin báo, tố giác
về tội phạm, khi có căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 81 BLTTHS, CQĐT có
quyền ra lệnh bắt khẩn cấp đối với người bị nghi thực hiện tội phạm và có trách
nhiệm báo ngay cho VKS cùng cấp bằng văn bản kèm theo tài liệu liên quan đến
việc bắt khẩn cấp để VKS quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê
chuẩn. Trong trường hợp ra quyết định tạm giữ, cơ quan đã ra quyết định tạm
giữ phải gửi quyết định tạm giữ cho VKS cùng cấp. VKS có quyền hủy bỏ quyết
định tạm giữ nếu xét thấy việc tạm giữ không có căn cứ hoặc không cần thiết.
Trong trường hợp đã hết thời hạn tạm giữ, nếu xét thấy cần thiết phải tiếp tục
tạm giữ, cơ quan đã quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ, việc gia hạn tạm
giữ phải được VKS cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành, nếu không đủ căn cứ
khởi tố bị can thì phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ. Như vậy VKS thực
hiện chức năng thực hành quyền công tố trong việc áp dụng BPNC từ thời điểm
1.1.2.1. Khái niệm chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp trong việc ỏp
dụng cỏc biện pháp ngăn chặn
Ở nước ta, Cơ quan tư pháp luôn được hiểu theo nghĩa rộng, không chỉ
bao gồm là Tòa án mà còn bao gồm CQĐT, các cơ quan khác được giao nhiệm
vụ thực hiện một số hoạt động điều tra, VKS và cơ quan thi hành án. Các cơ
quan tư pháp hình sự ở Việt Nam là các cơ quan được thành lập, tổ chức theo
những trình tự, thủ tục luật định, trực tiếp và chịu trách nhiệm tiến hành các hoạt
động tố tụng hình sự, nhằm giải quyết các vụ án hình sự và thi hành các bản án,
quyết định hình sự của Tòa án. Hoạt động tư pháp chỉ bao gồm những hoạt động
do các cơ quan tư pháp tiến hành, mang tính quyền lực Nhà nước, liên quan trực
10
tiếp đến việc giải quyết các vụ án, chịu sự điều chỉnh bởi pháp luật tố tụng và
nhằm giải quyết các vụ án một cách đúng đắn, khách quan, bảo vệ công lý, pháp
chế [5], [6], [7], [14], [27].
Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, không phải tất cả các cơ quan tư
pháp đều có thẩm quyền áp dụng các BPNC mà pháp luật tố tụng hình sự chỉ
giao quyền áp dụng các BPNC cho CQĐT, VKS và Tòa án. Tuy nhiên các cơ
quan có này không có chức năng, nhiệm vụ tổ chức thực hiện các quyết định áp
dụng các BPNC, trách nhiệm này thuộc về nhà tạm giữ, trại tạm giam. Các cơ
quan này không trực tiếp tham gia vào việc giải quyết các vụ án hình sự nhưng
có mối quan hệ mật thiết và được giao nhiệm vụ tổ chức thực hiện các quyết
định áp dụng các BPNC, hoạt động tạm giữ, tạm giam cũng mang tính quyền lực
Nhà Nước, chịu sự điều chỉnh của pháp luật tố tụng hình sự, nhằm phục vụ cho
việc giải quyết vụ án hình sự của các cơ quan THTT nên cũng là các hoạt động
tư pháp. Như vậy hoạt động tư pháp trong việc áp dụng các BPNC là hoạt động
diễn ra trong quá trình quyết định áp dụng, thay thế, hủy bỏ các BPNC của
CQĐT, các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều
áp dụng biện pháp ngăn chặn đến khi những quyền cơ bản của công dân là
người bị áp dụng biện pháp ngăn chặn được phục hồi. Phạm vi của kiểm sát các
hoạt động tư pháp trong việc áp dụng các BPNC bắt đầu từ khi các cơ quan
THTT ra quyết định áp dụng các BPNC và kết thúc khi người bị áp dụng BPNC
có quyết định thi hành án hình sự, hoặc họ được hủy bỏ BPNC khi vụ án bị đình
chỉ, được trả tự do vì không phạm tội.
Khi phát hiện vi phạm của các cơ quan có thẩm quyền trong việc áp dụng
biện pháp ngăn chặn, VKS có nhiệm vụ và quyền phát hành văn bản yêu cầu các
cơ quan đó khắc phục vi phạm như có biện pháp sửa chữa, thay thế các văn bản,
quyết định áp dụng các biện pháp ngăn chặn đảm bảo đúng thẩm quyền, trình tự,
thủ tục; khôi phục các quyền lợi của người bị áp dụng các biện pháp ngăn chặn
không bị pháp luật tước bỏ được tôn trọng, bảo vệ. Nội dung của kiểm sát các
hoạt động tư pháp trong việc áp dụng BPNC là những quyền năng pháp lý của
VKS được pháp luật quy định bao gồm quyền phát hiện vi phạm pháp luật, yêu
cầu các cơ quan tư pháp khắc phục và xử lý vi phạm pháp luật trong việc áp
dụng các BPNC thông qua việc phát hành yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị đối với
CQĐT, các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều
tra, Tòa án, Giám thị trại tạm giam, Trưởng nhà tạm giữ. Các cơ quan tư pháp
có trách nhiệm thực hiện những yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị của VKS.
1.1.3. Mối quan hệ giữa chức năng thực hành quyền công tố và chức năng
kiểm sát các hoạt động tư pháp trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn
Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp là hai chức
năng độc lập của VKSND nhưng lại có quan hệ mật thiết với nhau. Trong thực
tiễn hoạt động kiểm sát, VKS các cấp luôn quán triệt và thực hiện nghiêm túc
quan điểm đấu tranh chống tội phạm gắn liền với đấu tranh chống vi phạm pháp
luật trong việc giải quyết các vụ án hình sự, nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm
tội được phát hiện đều phải được xử lý theo pháp luật, đồng thời phải đảm bảo
hoạt động của các cơ quan tư pháp tuân thủ đường lối, chính sách của Đảng,
pháp luật của Nhà Nước. Trong việc áp dụng BPNC, VKSND thực hiện chức
năng, nhiệm vụ nhằm đảm bảo ngăn chặn kịp thời việc thực hiện tội phạm, ngăn
áp dụng BPNC đã áp dụng, nếu việc áp dụng các BPNC là có căn cứ và cần thiết
thì VKS tiếp tục quyết định áp dụng, ngược lại VKS có quyền hủy bỏ, thay thế
các BPNC.
- Khi vụ án bị đình chỉ trong giai đoạn điều tra, đồng thời với việc kiểm
tra tính có căn cứ, tính hợp pháp của quyết định đình chỉ, VKS phải ra quyết
định hủy bỏ các BPNC đã áp dụng nếu các BPNC đó do VKS áp dụng, phê
chuẩn.
- Trong giai đoạn xét xử, Tòa án có quyền độc lập áp dụng, thay đổi, hủy
bỏ các BPNC nên VKS không có chức năng thực hành quyền công tố trong việc
áp dụng các BPNC của Tòa án, tuy nhiên VKS có nhiệm vụ, quyền hạn kiểm sát
tính hợp pháp của các quyết định áp dụng BPNC của Toà án, nếu phát hiện có vi
phạm thì yêu cầu khắc phục.
13
Tóm lại, thực hành quyền công tố trong việc áp dụng các BPNC là những
quyền năng do VKS trực tiếp quyết định như phê chuẩn, không phê chuẩn,
quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các BPNC của CQĐT; còn kiểm sát các
hoạt động tư pháp là những biện pháp VKS không trực tiếp ra quyết định, mà
qua công tác kiểm sát, nếu phát hiện hoạt động áp dụng các BPNC của CQĐT,
Tòa án, hoạt động tổ chức thực hiện các quyết định áp dụng các BPNC của nhà
tạm giữ, trại tạm giam có vi phạm thì VKS kiến nghị, kháng nghị, yêu cầu các
cơ quan này khắc phục.
Giữa hoạt động hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát tư pháp
trong việc áp dụng BPNC và có mối quan hệ chặt chẽ, biện chứng với nhau, có
tác dụng hỗ trợ cho nhau và song song tồn tại từ khi có hoạt động bắt, tạm giữ,
tạm giam đến khi bản án có hiệu lực pháp luật, người bị tạm giam có quyết định
thi hành án hoặc khi người bị tạm giữ, tạm giam được trả tự do. Hoạt động thực
hành quyền công tố có mục đích đảm bảo tính có căn cứ trong việc áp dụng các
trao cho các cơ quan Nhà Nước và được quy định bởi pháp luật, nhằm nhân
danh Nhà Nước giải quyết những vấn đề trong quan hệ giữa Nhà Nước với công
dân.
Theo quy định tại điều 126 Hiến pháp năm 1992, cùng với TAND,
VKSND là cơ quan Nhà Nước có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa,
bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản
của Nhà Nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân
phẩm của công dân. Để thực hiện nhiệm vụ trên, VKSND được Nhà Nước giao
thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp.
Đối với mỗi chức năng, VKSND lại có những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể.
Trong việc áp dụng các BPNC, VKS có nhiệm vụ đảm bảo mọi trường hợp bắt,
tạm giữ, tạm giam đều phải có căn cứ, đúng pháp luật, không oan, sai, quá hạn,
nhằm phục vụ có hiệu quả cho xử lý tội phạm và người phạm tội; bảo đảm chế
độ của người bị tạm giữ, tạm giam được thực hiện đúng các quy định của pháp
luật. Để thực hiện nhiệm vụ trên, VKS có quyền áp dụng mọi biện pháp do pháp
luật quy định để đảm bảo việc áp dụng BPNC có căn cứ và cần thiết đồng thời
phát hiện, loại trừ vi phạm pháp luật trong việc áp dụng các BPNC. Khi thực
hành quyền công tố trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn, VKS có nhiệm
vụ và quyền ra quyết định áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp bắt, tạm giữ, tạm
giam và các biện pháp ngăn chặn khác, phê chuẩn, không phê chuẩn các quyết
định của cơ quan điều tra theo quy định của pháp luật; huỷ bỏ các quyết định trái
pháp luật của cơ quan điều tra. Khi kiểm sát hoạt động tư pháp trong việc áp
dụng biện pháp ngăn chặn, VKS có nhiệm vụ và quyền kiểm sát các hoạt áp
dụng biện pháp ngăn chặn của CQĐT, Tòa án; yêu cầu CQĐT khắc phục các vi
phạm pháp luật, cung cấp tài liệu cần thiết về vi phạm pháp luật của Điều tra
viên và yêu cầu Thủ trưởng CQĐT xử lý nghiêm minh Điều tra viên đã vi phạm
pháp luật trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn; trực tiếp kiểm sát tại nhà
tạm giữ, trại tạm giam; kiểm tra hồ sơ, tài liệu của trại tạm giam, nhà tạm giữ;
gặp, hỏi người bị tạm giữ, tạm giam giam; tiếp nhận và giải quyết khiếu nại, tố
cáo về việc tạm giữ, tạm giam; yêu cầu trại tạm giam, nhà tạm giữ thông báo
trường hợp trả tự do do không phạm tội. Phải có biện pháp quản lý và nắm chắc
các trường hợp trả tự do do không phạm tội, đồng thời, có trách nhiệm chỉ đạo
giải quyết, kiểm điểm làm rõ trách nhiệm của tập thể, cá nhân và chịu trách
nhiệm trước Viện trưởng VKSND Tối cao về việc này... VKS cấp trên cần tăng
cường kiểm tra, chỉ đạo, hướng dẫn đối với VKS cấp dưới trong việc quản lý các
trường hợp trả tự do do không phạm tội...”[48].
Theo quy định của pháp luật, VKSND có chức năng thực hành quyền
công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp. Trong tố tụng hình sự, VKSND là cơ
quan THTT, Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên là người THTT. VKS
thực hành quyền công tố nhằm đảm bảo hoạt động áp dụng các BPNC của
CQĐT có căn cứ, đúng pháp luật, không xảy ra tình trạng bắt, tạm giữ, tạm giam
oan, sai hoặc không cần thiết nhằm phục vụ có hiệu quả cho việc điều tra, truy
tố người phạm tội ra trước Tòa án. VKS kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong
việc áp dụng các BPNC nhằm phát hiện kịp thời vi phạm pháp luật của cơ quan
và người THTT, áp dụng những biện pháp do BLTTHS quy định để loại trừ việc
16
vi phạm pháp luật của những cơ quan và cá nhân này. Ở giai đoạn điều tra vụ án
hình sự, VKSND có trách nhiệm thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân
theo pháp luật trong việc áp dụng các BPNC của CQĐT và các cơ quan khác
được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thể hiện qua việc VKS
là cơ quan có nhiệm vụ, quyền hạn mang tính chất quyết định như quyết định
việc phê chuẩn, không phê chuẩn các lệnh, quyết định áp dụng các BPNC của
CQĐT; quyết định việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các BPNC trong giai đoạn
điều tra, truy tố vụ án hình sự. Trong giai đoạn xét xử, VKS thực hiện chức năng
kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc áp dụng các BPNC của Tòa án
nhằm đảm bảo việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các BPNC của Tòa án tuân thủ
đúng quy định về trình tự, thủ tục, nội dung, hình thức và tính có căn cứ; kiểm
BLTTHS. Điều 80 BLTTHS không quy định căn cứ bắt bị can, bị cáo để tạm
giam nhưng cần xác định căn cứ tạm giam được quy định tại khoản 1 điều 88
BLTTHS. Trong giai đoạn truy tố, xét xử, VKS và Tòa án có quyền độc lập ra
lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam khi xét thấy có đủ căn cứ và cần thiết. Đối
với bị can, bị cáo đang bị tạm giam, VKS, Tòa án không ra lệnh bắt bị can, bị
cáo để tạm giam mà ra lệnh tạm giam. Khoản 2 Điều 88 BLTTHS quy định
những trường hợp không áp dụng biện pháp tạm giam, đó cũng là những trường
hợp không áp dụng biện pháp bắt bị can, bị cáo để tạm giam. Quy định này
nhằm hạn chế việc áp dụng BPNC tạm giam đối với bị can, bị cáo trong một số
trường hợp cụ thể, vì vậy trong trường hợp bị can, bị cáo là phụ nữ thì VKS
không phê chuẩn lệnh tạm giam, lệnh bắt bị can để tạm giam nếu có tài liệu thể
hiện bị can, bị cáo đang mang thai hoặc đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi;
đối với người già là người từ đủ 60 tuổi trở lên và ở trong tình trạng sức khỏe
yếu, suy kiệt; người bị bệnh nặng là người mắc bệnh hiểm nghèo như ung thư
giai đoạn cuối, AIDS giai đoạn cuối. Quy định hạn chế việc áp dụng BPNC tạm
giam không áp dụng trong trường hợp bị can, bị cáo bỏ trốn và bị bắt theo lệnh
truy nã; bị can, bị cáo được áp dụng BPNC khác nhưng tiếp tục phạm tội hoặc
cố ý gây cản trở nghiêm trọng đến việc điều tra, truy tố, xét xử; bị can, bị cáo
phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia và có đủ căn cứ cho rằng nếu không tạm
giam đối với họ thì sẽ gây nguy hại đến an ninh quốc gia. Khi kiểm sát hoạt
động tư pháp trong việc trong việc bắt bị can, bị cáo để tạm giam và tạm giam,
VKS phải kiểm tra hồ sơ, tài liệu nhằm đảm bảo đúng quy định về thẩm quyền,
nội dung, thủ tục bắt và tạm giam quy định tại Điều 80, 84 và khoản 4 điều 88
BLTTHS. Nếu chưa đầy đủ thì VKS phải yêu cầu CQĐT, Tòa án khắc phục kịp
thời.
1.2.2. Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc bắt người trong trường hợp
khẩn cấp
Khác với trường hợp bắt người có sự phê chuẩn trước của VKS, lệnh bắt
người trong trường hợp khẩn cấp không cần có sự phê chuẩn trước của VKS,
nhưng trong mọi trường hợp, sau khi đã bắt, người ra lệnh bắt phải báo ngay cho
tài liệu thì CQĐT phải quản lý theo đúng quy định tại Điều 75 và khoản 2 điều
84 BLTTHS. Về mặt nội dung, hồ sơ đề nghị phê chuẩn việc bắt người trong
trường hợp khẩn cấp phải có đủ tài liệu chứng cứ chứng minh có ít nhất một
trong ba điều kiện quy định tại khoản 1 điều 81 BLTTHS [51], [53].
Trường hợp bắt khẩn cấp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 81
BLTTHS, thì trong hồ sơ phải có tài liệu chứng minh các căn cứ cho rằng, người
đó đang tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện phạm tội hoặc tạo ra những
điều kiện cần thiết để thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm
trọng. Đối với người đang chuẩn bị thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng và tội
phạm nghiêm trọng thì VKS phải từ chối phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp của
CQĐT. Đối với trường hợp bắt khẩn cấp theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều
81 BLTTHS, thì trong hồ sơ đề nghị phê chuẩn phải có tài liệu phản ánh hai
điều kiện: Một là, người bị hại, người làm chứng hoặc đồng phạm khác có mặt ở
nơi xảy ra tội phạm đã chính mắt trông thấy người đã thực hiện tội phạm, nay
gặp lại và xác nhận đây đúng là người đã thực hiện tội phạm. Hai là, có tài liệu,
chứng cứ thực tế khẳng định người đã thực hiện tội phạm này đang trốn hoặc có
thể trốn và cần ngăn chặn ngay việc bỏ trốn của người đó[53].
19
Trong trường hợp có nghi ngờ về tài liệu, chứng cứ chứng minh căn cứ của
việc bắt khẩn cấp, lý do bắt khẩn cấp không rõ ràng hoặc người bị bắt không
nhận tội; người bị bắt là người nước ngoài, có chức sắc trong tôn giáo, trong dân
tộc thiểu số hoặc có địa vị cao trong xã hội… thì Kiểm sát viên được phân công
cần trực tiếp gặp, hỏi người bị bắt trước khi đề xuất lãnh đạo VKS quyết định
phê chuẩn hoặc không phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp. Trước khi gặp, hỏi người bị
bắt khẩn cấp, Kiểm sát viên phải thông báo để CQĐT tạo điều kiện cho Kiểm
sát viên thực hiện nhiệm vụ hoặc để phối hợp trong quá trình gặp, hỏi người bị
bắt. Biên bản ghi lời khai của người bị bắt do Kiểm sát viên lập phải được
Theo quy định tại Điều 82 BLTTHS, đối với người phạm tội quả tang
hoặc người đang bị truy nã, thì bất kỳ người nào cũng có quyền bắt và tước vũ
khí, hung khí của người bị bắt và giải ngay đến Cơ quan công an, VKS hoặc Ủy
ban nhân dân nơi gần nhất. Cơ quan tiếp nhận người bị bắt phải lập biên bản tiếp
nhận người bị bắt và giải ngay đến CQĐT có thẩm quyền. Vì bất kỳ người nào
cũng có quyền bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã nên chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn của VKS chưa thể hiện rõ trong giai đoạn này. Khi tiếp
nhận người bị bắt tại trụ sở cơ quan, VKS có nhiệm vụ lập biên bản tiếp nhận và
lập biên bản giao người bị bắt cho CQĐT có thẩm quyền.
Để tránh việc lạm dụng bắt quả tang, VKS cần yêu cầu CQĐT củng cố tài
liệu, chứng cứ đảm bảo một trong ba điều kiện là: người bị bắt là người đang
thực hiện hành vi phạm tội, ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện,
đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị đuổi bắt.
Đối với người bị bắt trong trường hợp đang bị truy nã, VKS phải yêu cầu CQĐT
nhận người bị bắt lấy lời khai, lập danh chỉ bản, chụp ảnh người bị bắt và gửi
ngay thông báo kèm theo danh chỉ bản, ảnh của người đó cho cơ quan đã ra
quyết định truy nã để đến nhận người bị bắt. Nếu cơ quan ra quyết định truy nã
không thể đến nhận ngay người bị bắt thì CQĐT nhận người bị bắt ra quyết định
tạm giữ và gửi ngay quyết định tạm giữ cho VKS cùng cấp để thực hiện kiểm
sát. Nếu cơ quan đã ra quyết định truy nã vẫn chưa đến nhận người bị bắt thì
chậm nhất trước khi hết thời hạn tạm giữ 12 giờ, CQĐT nhận người bị bắt phải
chuyển hồ sơ kèm theo văn bản đề nghị VKS cùng cấp gia hạn tạm giữ. Thời
hạn gia hạn tạm giữ và việc xét phê chuẩn tạm giữ được thực hiện theo quy định
tại khoản 2 Điều 87 của BLTTHS. Sau khi nhận được thông báo kèm theo danh
chỉ bản, ảnh người bị bắt, nếu không thể đến nhận ngay người bị bắt thì cơ quan
đã ra quyết định truy nã phải ra ngay lệnh tạm giam và gửi lệnh tạm giam kèm
theo quyết định truy nã cho VKS cùng cấp để xét phê chuẩn. Thời hạn VKS xét
phê chuẩn lệnh tạm giam đối với các trường hợp này không được quá 24 giờ, kể
từ khi nhận được đề nghị phê chuẩn để cơ quan ra quyết định truy nã kịp thời
gửi lệnh tạm giam kèm theo quyết định phê chuẩn lệnh tạm giam đó cho CQĐT
Qua kiểm tra, nếu thấy việc tạm giữ không có căn cứ, không hợp pháp
hoặc không cần thiết, thì VKS ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm giữ và yêu
cầu người đã ra quyết định tạm giữ trả tự do ngay cho người bị tạm giữ theo quy
định tại khoản 3 Điều 86 BLTTHS. Nếu việc tạm giữ là có căn cứ và cần thiết
nhưng người ra quyết định tạm giữ không đúng thẩm quyền, vi phạm về thời
hạn tạm giữ, thời hạn ra quyết định tạm giữ và thời hạn gửi quyết định tạm giữ
cho VKS, thì VKS ra văn bản yêu cầu người đã ra quyết định tạm giữ có biện
pháp kịp thời khắc phục vi phạm, rút kinh nghiệm…
Để tạo điều kiện và phục vụ cho hoạt động điều tra, xác minh của CQĐT,
đồng thời đảm bảo các quyền, lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ không bị
pháp luật tước bỏ được tôn trọng và bảo vệ, Điều 87 BLTTHS quy định cụ thể
về thời hạn, thẩm quyền, thủ tục gia hạn tạm giữ. Khác với trường hợp ra quyết
định tạm giữ, mọi trường hợp gia hạn tạm giữ đều phải được VKS cùng cấp xét
phê chuẩn trước khi thi hành. Vì vậy khi nhận được hồ sơ đề nghị phê chuẩn gia
hạn tạm giữ, Kiểm sát viên được phân công phải kiểm tra thẩm quyền ra quyết
định tạm giữ; đối chiếu họ tên, tuổi, địa chỉ…của người bị tạm giữ trong quyết