BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÙI MINH NGUYỆT
BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA CỔ ĐÔNG TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM – NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ
THỰC TIỄN
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 50
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Bùi Ngọc Cường
HÀ NỘI - 2010
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU…………………………………………………………………01
Chương 1. KHÁI LUẬN VỀ QUYỀN LỢI CỦA CỔ ĐÔNG VÀ BẢO VỆ
QUYỀN LỢI CỦA CỔ ĐÔNG TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN………….06
1.1. QUYỀN LỢI CỦA CỔ ĐÔNG TRONG CÔNG TY CỔ PHẨN……..06
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của cổ đông………………………………….06
1.1.1.1. Khái niệm cổ đông…………………………………………………...06
1.1.1.2. Đặc điểm cổ đông……………………………………………………06
2.2.1. Tự bảo vệ………………………………………………………………...41
2.2.2. Các thiết chế nội bộ……………………………………………………..42
2.2.2.1. Đại hội đồng cổ đông…………………………………………………..42
2.2.2.2. Hội đồng quản trị, Giám đốc(TGĐ)……………………………………44
2.2.2.3. Ban kiểm soát…………………………………………………………..47
2.2.3. Các thiết chế khác……………………………………………………....52
2.2.3.1. Uỷ ban chứng khoán nhà nước…………………………………………52
2.2.3.2. Toà án và hệ thống cơ quan tư pháp……………………………….......54
2.2.3.3. Kiểm toán độc lập…………………………………………………...…55
2.2.3.4. Xử lý hành vi vi phạm pháp luật liên quan tới quyền và lợi ích của cổ
đông……………………………………………………………………………..56
Chương 3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA CỔ ĐÔNG TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN
TẠI VIỆT NAM……………………………………………………………….60
3.1. PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN
LỢI CỦA CỔ ĐÔNG………………………………………………………….61
3.1.1. Đảm bảo hài hoà lợi ích của cổ đông với công ty cổ phần……………61
3.1.2. Đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ và phù hợp với hệ thống pháp luật
Việt Nam nói chung……………………………………………………………61
3.1.3. Đảm bảo sự phù hợp với thông lệ quốc tế……………………………..62
3.2. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO
VỆ QUYỀN LỢI CỦA CỔ ĐÔNG TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN TẠI
VIỆT NAM
3.2.1. Hoàn thiện các quy định về quyền của cổ đông……………………….62
3.2.2. Hoàn thiện các quy định về quyền và nghĩa vụ của BKS…………….63
3.2.3. Hoàn thiện các quy định về trách nhiệm, nghĩa vụ của HĐQT……...64
3.2.4. Hoàn thiện các quy định về kiểm toán độc lập………………………..65
3.2.5. Nâng cao vai trò của các cơ quan nhà nước trong việc bảo vệ quyền lợi
LDN
Luật Doanh nghiệp
LCK
Luật Chứng khoán
UBCKNN
Ủy ban chứng khoán nhà nước
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài:
Công ty cổ phần là loại hình công ty có lịch sử phát triển khá “non trẻ” tại
Việt Nam, tuy nhiên những thành tựu mà loại hình công ty này mang đến lại
không hề nhỏ. So với các loại hình công ty khác, công ty cổ phần có nhiều lợi
thế hơn hẳn: cổ đông chịu trách nhiệm hữu hạn, việc chuyển nhượng vốn góp
được thực hiện một cách tự do, có cấu trúc vốn và tài chính linh hoạt, có cơ
chế quản lý tập trung cao…Chính những lợi thế đó đã góp phần thu hút công
chúng đầu tư vào loại hình công ty này. Trong điều kiện hiện nay của Việt
Nam khi chúng ta chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường theo định
hướng xã hội chủ nghĩa thì việc nâng cao năng lực sản xuất của xã hội theo
hướng khai thác các tiềm năng sẵn có về vốn, lao động, trình độ quản lý và
các nguồn lực vật chất cần thiết khác cho nhu cầu đầu tư và phát triển của đất
nước là một nhân tố quan trọng bảo đảm cho việc thực hiện thành công các
nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội theo Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn
2. Tình hình nghiên cứu đề tài:
Hiện nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về công ty cổ phần, thị
trường chứng khoán tại Việt Nam như: Chuyên khảo Luật kinh tế của PGS.TS
Phạm Duy Nghĩa (2004); Quyền và nghĩa vụ của cổ đông của NXB Chính trị
quốc gia (2003); Công ty cổ phần trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam luận văn thạc sĩ luật học của Đồng Ngọc Ba (2000); Hoàn thiện pháp luật về
các loại hình công ty trong nền kinh tế thị trường tại Việt Nam - luận án tiến sĩ
luật học của Trần Ngọc Liêm (2002); Bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số
theo pháp luật Việt Nam - luận văn thạc sĩ luật học của Trương Thế Côn
(2007)… Các công trình khoa học đó đã đề cập đến một số khía cạnh khác
nhau về công ty cổ phần, cổ đông, việc bảo vệ quyền lợi của cổ đông trong
công ty cổ phần. Tuy nhiên các công trình đó đi sâu nghiên cứu về loại hình
3
công ty cổ phần, chỉ nghiên cứu một cách khái quát về cổ đông, chưa đề cập
một cách sâu sắc, hệ thống cả về lý luận cũng như thực tiễn cũng như chưa
đưa ra cơ chế thực thi vấn đề bảo vệ quyền lợi của cổ đông nói chung trong
công ty cổ phần.
3. Phạm vi nghiên cứu đề tài:
Trong công ty cổ phần, mọi chiến lược kinh doanh, mục tiêu lợi nhuận của
công ty đều có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới quyền và lợi ích của cổ
đông. Vì thế cổ đông chính là chủ thể trung tâm của loại hình công ty này.
Tuy nhiên trong phạm vi của một luận văn thạc sĩ, tác giả không đi sâu nghiên
cứu mọi vấn đề liên quan đến quyền lợi của cổ đông mà chỉ tập trung nghiên
cứu một số vấn đề lý luận về cổ đông, từ đó nghiên cứu các quy định về bảo
vệ quyền lợi của cổ đông trong công ty cổ phần tại Việt Nam theo Luật Doanh
nghiệp 2005 và Luật chứng khoán 2006. Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và
thực trạng pháp luật bảo vệ quyền lợi của cổ đông trong công ty cổ phần, tác
giả đưa ra một số giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực
Nam.
6. Dự kiến những kết quả nghiên cứu mới của luận văn:
Trong khuôn khổ một luận văn thạc sĩ, luận văn sẽ làm sáng tỏ một cách
có hệ thống những vấn đề lý luận về bảo vệ cổ đông trong công ty cổ phần để
làm cơ sở cho việc hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền lợi của cổ đông trong
công ty cổ phần. Đồng thời luận văn sẽ phân tích, đánh giá thực trạng của
pháp luật bảo vệ quyền lợi của cổ đông, chỉ ra những điểm bất cập chưa hợp
lý, qua đó đưa ra những giải pháp, kiến nghị mang tính thống nhất góp phần
hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi cổ đông
trong công ty cổ phần.
7. Cơ cấu của luận văn:
5
Ngoài mục lục, lời nói đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được
bố cục gồm 3 chương:
Chương 1: Khái luận về quyền lợi của cổ đông và bảo vệ quyền lợi của cổ
đông trong công ty cổ phần;
Chương 2: Thực trạng pháp luật về bảo vệ quyền lợi của cổ đông trong
công ty cổ phần tại Việt Nam;
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi
của cổ đông trong công ty cổ phần tại Việt Nam.
6
Chương 1
KHÁI LUẬN VỀ QUYỀN LỢI CỦA CỔ ĐÔNG VÀ BẢO VỆ QUYỀN
LỢI CỦA CỔ ĐÔNG TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN
- Về chế độ trách nhiệm: Khi một tổ chức hay cá nhân bỏ vốn đầu tư
vào công ty cổ phần tức là họ đã chuyển dịch vốn của mình theo những
phương thức nhất định vào công ty cổ phần và trở thành tài sản thuộc sở hữu
của công ty cổ phần, nhưng cổ đông vẫn được hưởng các quyền và nghĩa vụ
phát sinh từ việc góp vốn. Với tư cách là một pháp nhân, công ty có năng lực
pháp luật độc lập, có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ pháp lý của mình theo qui
định của pháp luật nên các quyền và nghĩa vụ của công ty hoàn toàn tách biệt
khỏi các quyền và nghĩa vụ của cổ đông vì công ty là chủ thể của quyền sở
hữu công ty. Vốn thuộc sở hữu công ty chính là giới hạn sự rủi ro tài chính
của các cổ đông trên toàn bộ số vốn đã đầu tư vào công ty, nên trách nhiệm
của những cổ đông đối với các nghĩa vụ của công ty được hạn chế trong phạm
vi mà họ đã đầu tư vào cổ phiếu của mình. Xét về phương diện sự tách bạch
về tài sản thì các cổ đông không có quyền đối với tài sản của công ty cổ phần
nên họ không chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ của công ty cổ phần; công ty
cổ phần chịu trách nhiệm bằng chính tài sản của mình. Cả công ty cổ phần lẫn
chủ nợ của công ty đều không có quyền kiện đòi tài sản của cổ đông trừ
trường hợp cổ đông nợ công ty do chưa đóng đủ tiền góp vốn hoặc chưa thanh
toán đủ cho công ty cổ phần số tiền mua cổ phiếu phát hành. Đây là điểm khác
nhau cơ bản về trách nhiệm của các chủ thể kinh doanh, đối với công ty hợp
danh hay doanh nghiệp tư nhân (theo pháp luật Việt Nam) và đối với công ty
đối nhân hay doanh nghiệp một chủ của hầu hết các nước thì các thành viên
hợp danh (hay thành viên nhận vốn) và chủ doanh nghiệp sẽ chịu trách nhiệm
8
cá nhân vô hạn về các nghĩa vụ của công ty hay của doanh nghiệp bằng tài sản
của mình, bất kể tài sản đó có liên quan đến hoạt động kinh doanh hay không.
Như vậy, xuất phát từ sự tồn tại độc lập của công ty cổ phần so với các
cổ đông nên công ty cổ phần có các quyền và nghĩa vụ về tài sản riêng, do đó
dàng. Trong khi đó đối với công ty trách nhiệm hữu hạn theo qui định của
pháp luật Việt Nam thì khi chuyển nhượng các phần vốn góp của mình, thành
viên đó phải chuyển nhượng trước hết cho các thành viên còn lại trong công ty
hoặc chỉ được chuyển nhượng cho người không phải là thành viên công ty
trong trường hợp các thành viên còn lại không mua hoặc không mua hết. Đó là
lý do giải thích vì sao có rất nhiều người muốn đầu tư vào công ty cổ phần chứ
không muốn đầu tư vào các loại hình doanh nghiệp khác. Đây cũng là một
trong những yếu tố cần thiết cho việc hình thành và phát triển thị trường
chứng khoán.
1.1.2. Phân loại cổ đông
Hiện nay có rất nhiều tiêu chí để phân loại cổ đông như dựa trên tiêu chí
tư cách chủ thể, số lượng cổ đông, thời điểm tham gia vào công ty cổ phần...
Nếu căn cứ vào tính chất hưởng quyền trong công ty cổ phần, cổ đông được
chia thành 02 loại: cổ đông phổ thông và cổ đông ưu đãi.
1.1.2.1. Cổ đông phổ thông
Cổ đông phổ thông là người sở hữu cổ phần phổ thông trong công ty cổ
phần, chiếm đa số trong công ty cổ phần. Cổ đông phổ thông có đầy đủ các
quyền năng cơ bản của chủ sở hữu công ty, trừ một số quyền năng đặc biệt so
với cổ đông nắm giữ cổ phần ưu đãi.
1.1.2.2. Cổ đông ưu đãi
Cổ đông ưu đãi là người nắm giữ cổ phần ưu đãi trong công ty cổ phần.
Cổ đông ưu đãi có thể có những quyền lợi và nghĩa vụ khác và “có lợi” hơn so
với cổ đông phổ thông. Nhưng ngược lại, cổ đông ưu đãi cũng bị hạn chế một
10
số quyền nhất định. Căn cứ vào từng loại ưu đãi mà cổ đông ưu đãi được chia
thành cổ đông ưu đãi biểu quyết, cổ đông ưu đãi cổ tức và cổ đông ưu đãi
hoàn lại.
tài sản riêng của công ty cổ phần. Nhà đầu tư sẽ không có quyền gì đối với tài
sản đã góp đó mà đổi lại họ sẽ nhận được một loại quyền tài sản đó là quyền
được hưởng lợi tức nếu công ty kinh doanh có lãi nhưng cũng có thể gặp rủi ro
làm mất đi một phần hoặc toàn bộ tài sản đã góp nếu công ty làm ăn thua lỗ
hay phá sản.
Có thể nói thực chất của quá trình góp vốn và trở thành cổ đông trong
công ty cổ phần là sự đanh đổi “rủi ro tài sản” nhằm mục tiêu tìm kiếm lợi
nhuận. Cổ đông góp vốn và đổi lại họ sẽ có được một số quyền nhất định để
góp phần bảo vệ khối tài sản mà họ đã đóng góp vào công ty cổ phần khi mà
họ không có quyền trực tiếp đối với khối tài sản đó nữa.
Quyền của cổ đông là tổng thể các quy định pháp lý, các quy định của
điều lệ, nội quy, quy chế hoạt động của công ty cổ phần quy định cho phép cổ
đông được thực hiện các hành vi nhất định nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của mình. Các quyền đó nhằm đảm bảo cho họ hạn chế tối đa rủi ro,
nhận được lợi nhuận nếu lựa chọn được người quản lý, điều hành công ty có
trình độ, có năng lực và trung thực với cổ đông và ngược lại cổ đông sẽ phải
gánh chịu những rủi ro.
1.1.4. Các quyền cơ bản của cổ đông
- Đề cử người vào HĐQT và BKS:
Cổ đông với tư cách là người sở hữu công ty cổ phần nên họ sẽ có
quyền trong việc đề cử người vào HĐQT để điều hành, quản lý công ty và đề
cử người vào BKS để thực hiện chức năng giám sát hoạt động của công ty.
Tuy nhiên, để đảm bảo việc bầu HĐQT và BKS được thuận lợi và hiệu quả,
pháp luật các nước thường quy định một tỷ lệ nắm giữ cổ phần nhất định trong
một thời hạn nhất định để cổ đông có thể có quyền đề cử người vào HĐQT,
12
BKS. Đây là một trong những quyền cơ bản giúp cổ đông bảo vệ quyền và lợi
xâm phạm bởi các nguy cơ tiềm ẩn từ bên trong và bên ngoài. Đó có thể là sự
xâm phạm của các cá nhân, tổ chức bên ngoài, độc lập với công ty. Các hành
vi này không xâm phạm trực tiếp tới quyền lợi của cổ đông mà trực tiếp xâm
phạm tới quyền lợi của công ty cổ phần. Việc phòng ngừa và chống đỡ những
rủi ro này là trách nhiệm của người đại diện hợp pháp quản lý, điều hành công
ty. Còn đối với những xâm phạm từ bên trong, từ nội bộ của công ty như sự
xâm phạm từ phía các thành viên của HĐQT, GĐ (TGĐ), hay các chức danh
quản lý khác rất khó để nhận biết. Bởi lẽ đây thường là các xâm phạm rất tinh
vi và bằng nhiều thủ đoạn mà cổ đông rất khó có thể phát hiện. Vì thế cần phải
có những thiết chế và biện pháp phù hợp để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
cho cổ đông trong công ty cổ phần.
Việc bảo vệ này có ý nghĩa rất quan trọng đối với cổ đông nói riêng và
nền kinh tế nói chung. Bởi lẽ việc bảo vệ quyền lợi cho cổ đông sẽ giúp cho
cổ đông chống lại các hành vi xâm hại chèn ép từ những người quản lý công
ty, đảm bảo sự công bằng cho các cổ đông trong quá trình đầu tư. Từ đó sẽ
khuyến khích các nhà đầu tư yên tâm và tin tưởng vào việc bỏ vốn, tài sản đầu
tư vào công ty cổ phần, đầu tư vào nền kinh tế tạo nên sự đa dạng, sự thu hút
đầu tư mạnh mẽ cho nền kinh tế nói chung.
Bảo vệ tốt quyền lợi của cổ đông cũng có nghĩa sẽ làm tăng khả năng
huy động vốn cho các công ty cổ phần. Lúc này, công ty cổ phần sẽ dễ dàng
thu hút được các nguồn vốn đầu tư khác nhau. Điều này thể hiện rõ qua việc
công ty thu hút vốn bằng cách phát hành thêm cổ phần mới. Với uy tín mà
công ty cổ phần đã tạo dựng được trong việc đảm bảo tốt quyền lợi cho cổ
đông, việc chào bán cổ phần mới sẽ nhanh chóng và thuận lợi hơn.
14
Việc phát hiện, ngăn chặn và xử lý những hành vi xâm phạm tới quyền
và lợi ích của cổ đông trong công ty cổ phần có thể do cổ đông trực tiếp tiến
thấy HĐQT vi phạm nghĩa vụ cam kết, không hoàn thành nhiệm vụ được giao,
xâm phạm tới quyền và lợi ích của cổ đông.
Quyền và lợi ích của cổ đông chỉ thực sự được đảm bảo khi công ty
kinh doanh có lãi. Muốn vậy, đội ngũ lãnh đạo công ty phải là những người
thực sự có năng lực, tận tuỵ và tâm huyết với công việc, trung thực và có trách
nhiệm với cổ đông. ĐHĐCĐ sẽ tiến hành xừ lý các vi phạm của thành viên
HĐQT, BKS khi họ gây thiệt hại cho công ty và làm ảnh hưởng tới quyền lợi
của cổ đông. Căn cứ trên thiệt hại thực tế xảy ra, mức độ trách nhiệm ĐHĐCĐ
sẽ quyết định và xem xét mức bồi thường thiệt hại thực tế cho công ty và cho
cổ đông.
- HĐQT, Giám đốc (Tổng giám đốc):
HĐQT là cơ quan quản lý công ty cổ phần, có toàn quyền nhân danh
công ty để quyết định, thực hiện quyền quản lý và điều hành công ty. HĐQT
thực hiện việc bổ nhiệm, miễn nhiệm và ký kết hợp đồng với GĐ hoặc TGĐ
và những chức danh quản lý quan trọng khác trong công ty. Có thể nói HĐQT
là cơ quan hoạch định chiến lược kinh doanh và chiến lược phát triển cho
công ty cổ phần. Nó có chức năng thẩm định và phê duyệt các phương án sản
xuất kinh doanh do GĐ (TGĐ) đề xuất, trực tiếp thực hiện việc giám sát, chỉ
đạo GĐ (TGĐ) và những người quản lý khác; thực hiện các biện pháp ngăn
chặn, phát hiện và xử lý mọi nguy cơ gây hại hoặc đe doạ gây hại cho công ty
và cổ đông từ phía người điều hành. Muốn làm tốt chức năng giám sát và xử
lý vi phạm đối với GĐ (TGĐ), HĐQT phải độc lập với GĐ (TGĐ). Vì thế
trong thành phần của HĐQT cần phải có một tỷ lệ nhất định thành viên HĐQT
giữ chức năng giám sát hoạt động của ban giám đốc.
16
GĐ (TGĐ) là người đại diện hợp pháp của công ty cổ phần, có chức
năng bảo vệ quyền lợi cho công ty trong đó có quyền và lợi ích của cổ đông
Bên cạnh việc đảm bảo về chất lượng chuyên môn của thành viên BKS,
một yếu tố quan trọng đó là phải đảm bảo tính độc lập của BKS với những đối
tượng mà nó giám sát. Điều này sẽ đảm bảo tính khách quan trong hoạt động
kiểm soát. Đồng thời để rằng buộc trách nhiệm, nếu không hoàn thành nhiệm
vụ của mình thì BKS phải chịu trách nhiệm trước ĐHĐCĐ.
- Kiểm toán nội bộ:
Theo IIA – tổ chức nghề nghiệp dành cho kiểm toán viên nội bộ thì
Kiểm toán nội bộ được định nghĩa “ là hoạt động đánh giá và tư vấn độc lập
trong nội bộ tổ chức, được thiết kế nhằm cải tiến và làm tăng giá trị cho các
hoạt động của tổ chức đó. Giúp tổ chức đạt được các mục tiêu bằng việc đánh
giá và cải tiến một cách hệ thống và chuẩn tắc tính hiệu lực của quy trình quản
trị, kiểm soát và quản lý rủi ro.”
Mặc dù đã ra đời từ lâu nhưng kiểm toán nội bộ chỉ thực sự phát triển
trong khoảng năm 2000 – 2001 từ sau các vụ gian lận tài chính ở công ty
Worldcom và Eron (Mỹ) và đặc biệt là khi Luật Sarbanes – Oxley của Mỹ ra
đời năm 2002. Luật này quy định các công ty niêm yết trên thị trường chứng
khoán Mỹ phải báo cáo về hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ công ty.
Khác với kiểm toán độc lập giới hạn ở việc kiểm tra báo cáo tài chính
(mức độ trung thực và hợp lý), kiểm toán nội bộ không bị giới hạn ở bất kỳ
phạm vi nào trong công ty, từ mua hàng, sản xuất, bán hàng đến quản lý tài
chính, nhân sự hay công nghệ thông tin. Mục đích của kiểm toán nội bộ là
phục vụ công tác quản lý doanh nghiệp chứ không phải cho đối tác bên ngoài.
Kiểm toán nội bộ không chỉ đánh giá các yếu kém của hệ thống quản lý mà
còn đánh giá các rủi ro cả trong và ngoài công ty.
18
Có thể nói, kiểm toán nội bộ là một công cụ hữu hiệu giúp phát hiện và
xử lý và cải tạo những điểm yếu trong hệ thống của doanh nghiệp nói chung
lợi cổ đông trong công ty cổ phần. Các cơ quan chuyên môn này sẽ có chức
năng giám sát các hoạt động liên quan đến chứng khoán và thị trường chứng
khoán nhằm xây dựng một thị trường chứng khoán lành mạnh, công khai,
minh bạch, góp phần lớn trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của cổ đông.
Đồng thời với các cơ quan chuyên môn quản lý về thị trường chứng
khoán, Nhà nước còn có các cơ quan thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động
kinh doanh của các công ty cổ phần để kịp thời phát hiện và xử lý vi phạm.
Vai trò của Nhà nước còn được thể hiện thông qua hệ thống các cơ quan
tư pháp như: cơ quan điều tra, cơ quan xét xử, cơ quan thi hành án…
Bên cạnh Nhà nước và cơ quan nhà nước, cơ quan báo chí cũng là một
thiết chế hữu hiệu tham gia vào việc bảo vệ quyền và lợi ích cho cổ đông.
Ngoài chức năng tuyên truyền, phổ biến kiến thức về chứng khoán, thị trường
chứng khoán, cũng như việc truyền tải các thông tin từ các công ty phát hành
chứng khoán tới cổ đông và công chứng đầu tư… Cơ quan báo chí còn tham
gia phát hiện và tố cáo hành vi xâm phạm tới quyền lợi của cổ đông. Trên thực
tế đã có nhiều các vi phạm xảy ra xâm phạm đến quyền lợi của công chúng
đầu tư vào công ty cổ phần mà Nhà nước chưa kịp phát hiện nhưng cơ quan
báo chí đã phát hiện ra. Điều này sẽ giúp cổ đông tự bảo vệ quyền lợi của
mình và giúp các cơ quan chức năng kịp thời ngăn chặn và xử lý vi phạm.
Ngoài những thiết chế trên còn có nhiều thiết chế khác cũng tham gia
vào việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cổ đông như: tổ chức luật sư,
các hiệp hội đầu tư chứng khoán…
Nói tóm lại, quyền và lợi ích hợp pháp của cổ đông trong công ty cổ
phần rất dễ bị xâm phạm. Cổ đông có thể tự bảo vệ quyền lợi của mình bằng
nhiều hình thức khác nhau hoặc thông qua các thiết chế bảo vệ khác. Tuy
20
nhiên, việc bảo vệ quyền lợi của cổ đông chỉ thực sự hữu hiệu khi pháp luật