BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
TRẦN QUỲNH ANH
HỢP ĐỒNG ĐẠI LÝ MUA BÁN HÀNG HÓA
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60 38 50
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. PHAN CHÍ HIẾU
HÀ NỘI – 2010
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1
Bộ luật Dân sự
: BLDS
2
Đại lý mua bán hàng hoá
: PLHĐKT
8
Việt Nam
: VN
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU................................................................................................ 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG ĐẠI LÝ MUA
BÁN HÀNG HOÁ VÀ PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG ĐẠI LÝ MUA BÁN
HÀNG HOÁ ................................................................................................... 6
1.1. Hoạt động đại lý mua bán hàng hoá và vai trò của nó trong nền
kinh tế thị trường ....................................................................................... 6
1.1.1. Lược sử sự hình thành và phát triển của hoạt động đại lý mua
bán hàng hoá .......................................................................................... 6
1.1.2. Vai trò của của hoạt động đại lý mua bán hàng hoá trong nền
kinh tế thị trường .................................................................................... 9
1.2. Bản chất pháp lý của hợp đồng đại lý mua bán hàng hoá .............. 11
1.2.1. Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng đại lý mua bán hàng hoá 11
1.2.2. Phân loại hợp đồng đại lý mua bán hàng hoá ............................ 16
1.3. Khái quát pháp luật về hợp đồng đại lý mua bán hàng hoá ........... 19
1.3.1. Nguồn luật điều chỉnh quan hệ hợp đồng đại lý mua bán hàng hoá19
1.3.2. Những nội dung cơ bản của pháp luật điều chỉnh quan hệ hợp
đồng đại lý mua bán hàng hoá .............................................................. 21
1.4. Hợp đồng đại lý mua bán hàng hoá theo quy định của một số nước
trên thế giới .............................................................................................. 21
1.4.1. Các nước theo truyền thống luật Châu Âu lục địa ..................... 21
3.2. Phương hướng hoàn thiện pháp luật về hợp đồng đại lý mua bán
hàng hoá ................................................................................................... 61
3.2.1. Hoàn thiện pháp luật về hợp đồng đại lý mua bán hàng hoá phải
phù hợp với chính sách phát triển thương mại của nước ta ................ 61
3.2.2. Hoàn thiện pháp luật về hợp đồng đại lý mua bán hàng hoá phải
đặt trong tổng thể chung của việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật
thương mại và pháp luật về hợp đồng, đảm bảo tính minh bạch, đồng
bộ, thống nhất và khả thi của pháp luật. .............................................. 62
3.2.3. Hoàn thiện pháp luật về hợp đồng đại lý mua bán hàng hoá phải
đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế ............................................ 64
3.3. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về hợp đồng đại lý
mua bán hàng hoá .................................................................................... 64
3.3.1. Quy định rõ cơ chế áp dụng phối hợp luật chung và luật chuyên
ngành liên quan đến hợp đồng đại lý mua bán hàng hoá .................... 64
3.3.2. Hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến giao kết hợp
đồng đại lý mua bán hàng hoá .............................................................. 66
3.3.3. Hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến quyền và nghĩa
vụ của các bên trong hợp đồng đại lý mua bán hàng hoá .................... 68
3.3.4. Hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến trách nhiệm do
vi phạm hợp đồng đại lý mua bán hàng hoá ......................................... 70
3.3.5. Hoàn thiện các quy định liên quan đến việc đơn phương chấm
dứt hợp đồng đại lý mua bán hàng hoá ................................................ 70
KẾT LUẬN .................................................................................................. 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................... 74
1
ĐLMBHH, nếu không trái các quy định của pháp luật hiện hành thì sẽ làm
phát sinh quyền và nghĩa vụ ràng buộc các bên ký kết với nhau. Trong quá
trình thực hiện HĐ, các bên phải hành xử theo đúng những quy định trong HĐ
và chính các HĐ đại lý này mới thực sự là “luật riêng” điều chỉnh quan hệ giữa
các bên. Để đảm bảo một HĐ được giao kết là hợp pháp, đảm bảo cho các bên
được tự do ý chí một cách cao nhất thì các bên phải tuân thủ các quy định của
pháp luật về giao kết hợp đồng (GKHĐ), nội dung các điều khoản…Tuy vậy,
thực tiễn ký kết và thực hiện HĐ ĐLMBHH trong thời gian qua đã và đang
phát sinh nhiều vướng mắc, bất cập, sai sót, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích
hợp pháp của các bên, cũng như của khách hàng như: nhầm lẫn giữa HĐ đại lý
với các loại HĐ cận kề khác (ví dụ: mua bán hàng hoá, uỷ thác); trách nhiệm
của bên đại lý, bên giao đại lý với khách hàng chưa thật rõ ràng; các quyền và
nghĩa vụ quy định trong HĐ không rõ, dễ dẫn đến vi phạm, tranh chấp...
Để bảo vệ một cách tốt nhất các quyền và lợi ích của các bên tham gia
quan hệ ĐLMBHH, việc nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diện các vấn đề
lý luận cũng như thực tiễn thi hành pháp luật về HĐ ĐLMBHH là một vấn đề
cấp thiết. Chính vì vậy, em lựa chọn đề tài nghiên cứu luận văn thạc sỹ là:
“Hợp đồng đại lý mua bán hàng hoá - Những vấn đề lý luận và thực tiễn” với
mong muốn làm rõ quy định của pháp luật về HĐ ĐLMBHH, chỉ ra khó khăn,
vướng mắc trong thực tiễn áp dụng để từ đó đề xuất các giải pháp khắc phục để
các quy định của pháp luật phù hợp với thực tiễn kinh doanh trong nền kinh tế
thị trường tại VN.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Những vấn đề pháp lý về HĐ đại lý thương mại nói chung, HĐ ĐLMBHH
nói riêng đã được đề cập đến với những nội dung cơ bản trong giáo trình của
một số cơ sở đào tạo luật như: Giáo trình LTM của Trường Đại học Luật Hà
Nội, Giáo trình LTM của Khoa Luật của trường Đại học Quốc gia Hà
3
4
- Thứ hai, phân tích thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật điều
chỉnh quan hệ HĐ ĐLMBHH, từ đó nêu được những bất cập, hạn chế trong
quy định của pháp luật.
- Thứ ba, trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn, luận văn
đưa ra một số giải pháp để hoàn thiện các quy định của pháp luật về HĐ
ĐLMBHH.
4. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn gồm: các quan điểm pháp lý về HĐ
ĐLMBHH và pháp luật về HĐ ĐLMBHH, các văn bản pháp luật của VN và
pháp luật của một số quốc gia trên thế giới quy định về HĐ ĐLMBHH, thực
tiễn xây dựng và áp dụng quy định của pháp luật về HĐ ĐLMBHH ở VN.
5. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu những khía cạnh pháp lý của HĐ
ĐLMBHH trên cơ sở lý luận cũng như các quy định liên quan đến HĐ
ĐLMBHH trong Bộ luật Dân sự năm 2005, LTM năm 2005 và một số văn bản
luật chuyên ngành khác như: Bộ luật Hàng hải VN năm 2005, Luật Kinh doanh
bảo hiểm....
6. Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các nhiệm vụ luận văn đặt ra, luận văn sử dụng phối hợp
nhiều phương pháp nghiên cứu như: phân tích, tổng hợp, luật học so sánh,
khảo sát thực tiễn. Các phương pháp nghiên cứu trong luận văn được thực hiện
trên nền tảng của phương pháp duy vật biện chứng, trên cơ sở các quan điểm,
đường lối chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của Đảng Cộng sản VN.
7. Nội dung nghiên cứu và những kết quả nghiên cứu mới của luận
văn
Để đạt được mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đã đề cập phần trên, luận văn
nghiên cứu làm rõ các nhóm nội dung lớn sau đây: bản chất pháp lý của HĐ
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG ĐẠI LÝ
MUA BÁN HÀNG HOÁ VÀ PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG ĐẠI LÝ
MUA BÁN HÀNG HOÁ
1.1. Hoạt động đại lý mua bán hàng hoá và vai trò của nó trong nền
kinh tế thị trường
1.1.1. Lược sử sự hình thành và phát triển của hoạt động đại lý mua
bán hàng hoá
Từ sau sự phân công lao động lần thứ nhất, trên thế giới hoạt động mua
bán hàng hoá đã xuất hiện và từng bước phát triển. Thời kỳ đầu, hoạt động
mua bán hàng hoá chủ yếu được thực hiện trực tiếp giữa người sản xuất ra
hàng hoá và người tiêu dùng. Sau này, cùng với sự ra đời của những người lấy
việc bán hàng làm nghề nghiệp chính cho mình (thương nhân, thương gia) thì
hoạt động mua bán hàng hoá càng phát triển mạnh mẽ và được tiến hành dưới
nhiều hình thức hết sức đa dạng, phong phú với sự tham gia của nhiều chủ thể
khác nhau. Ngày nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, hoạt động mua
bán hàng hoá của thương nhân được thực hiện dưới nhiều phương thức đa
dạng, trong đó, phương thức giao dịch qua trung gian đang dần bộc lộ nhiều ưu
điểm hơn so với phương thức giao dịch trực tiếp.
Phương thức giao dịch trực tiếp là phương thức giao dịch, theo đó người
sở hữu hàng hoá và khách hàng tự tìm kiếm cơ hội để giao kết và thực hiện
HĐ. Đây là phương thức giao dịch mang tính truyền thống, xuất hiện ngay từ
khi hoạt động mua bán hàng hoá mới ra đời. Theo phương thức này, thương
nhân phải tự tìm kiếm đối tác, tự thoả thuận các điều kiện để thiết lập quan hệ
HĐ. Phương thức giao dịch trực tiếp có nhiều ưu điểm như: cả thương nhân và
người mua đều không phải trả chi phí cho người trung gian; do phải trực tiếp
tiếp cận thị trường để tìm kiếm đối tác nên thương nhân có điều kiện nắm bắt
7
đồng Bộ trưởng về tăng cường thương nghiệp xã hội chủ nghĩa và quản lý thị
trường.
Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986, nền kinh tế VN
chuyển từ nền kinh tế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa.
Trong cơ chế kinh tế thị trường, các hoạt động tìm kiếm lợi nhuận của thương
nhân trong đó có dịch vụ ĐLMBHH, được thừa nhận và tạo điều kiện phát
triển. Từ nhu cầu điều chỉnh pháp luật đối với hoạt động đại lý, ngày
25/4/1996 Chính phủ đã ban hành Quy chế ĐLMBHH (ban hành kèm Nghị
định số 25/NĐ-CP), trong đó quy định 6 hình thức đại lý: đại lý mua hàng, đại
lý bán hàng, đại lý hoa hồng, đại lý bao tiêu, đại lý độc quyền và tổng đại lý.
Ngày 10/5/1997, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa VN thông qua
LTM năm 1997, có hiệu lực từ ngày 01/01/1998. LTM năm 1997 quy định về
ĐLMBHH từ Điều 111 đến Điều 127. Sáu hình thức đại lý được quy định tại
quy chế ĐLMBHH cũng được quy định trong LTM năm 1997. Quy định về
ĐLMBHH trong LTM năm 1997 đã kế thừa và bổ sung nhiều nội dung tiến bộ
hơn so với quy định tại Quy chế ĐLMBHH. LTM năm 1997 đã tạo một khung
pháp lý tương đối hoàn chỉnh cho các thương nhân khi thực hiện hoạt động
thương mại trên thị trường.
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển nhanh chóng của kinh tế thị trường, các
quy định của LTM năm 1997, trong đó có các quy định về ĐLMBHH đã bộc
lộ nhiều hạn chế, bất cập. Để khắc phục những hạn chế của LTM năm 1997,
cũng như để đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, ngày 14/6/2005, tại kỳ
họp thứ 7, Quốc hội khoá XI đã thông qua LTM năm 2005. LTM năm 2005 có
hiệu lực từ 01/01/2006, thay thế cho LTM năm 1997. LTM năm 2005 tạo điều
kiện thuận lợi cho các thương nhân thực hiện hoạt động kinh doanh. Các hoạt
động thương mại nói chung trong đó có hoạt động ĐLMBHH được điều chỉnh
10
hợp nhu cầu thị trường. Nhờ đó, tăng khả năng thu hút khách hàng, đảm bảo
lợi nhuận kinh doanh cho thương nhân giao đại lý.
- Thông qua bên ĐLMBHH, thương nhân tiết kiệm thời gian, công sức,
tiền bạc cho việc tìm hiểu thị trường mới. Khi gia nhập thị trường mới, thương
nhân thường mất rất nhiều chi phí cho việc xây dựng cơ sở vật chất, thuê mướn
lao động, quảng cáo, tiếp thị sản phẩm…Nhờ có ĐLMBHH, chi phí mà thương
nhân phải bỏ ra sẽ giảm rất nhiều do bên ĐLMBHH là thương nhân đã có cơ
sở vật chất lẫn lao động trên thị trường. Nếu hoạt động mua bán hàng hoá do
thương nhân cung cấp không đặt hiệu quả như mong muốn, thương nhân cũng
có thể nhanh chóng thanh lý HĐ ĐLMBHH và rút khỏi thị trường mà không
mất thời gian, chi phí cho việc thanh lý tài sản, giải quyết quyền lợi cho người
lao động…
- Nếu thực hiện hoạt động mua bán hàng hoá qua ĐLMBHH, thay vì phải
xây dựng mạng lưới phân phối, thương nhân có điều kiện tập trung thực hiện
sản xuất, kinh doanh. Nhờ đó sẽ tăng chất lượng sản phẩm, nâng cao uy tín của
thương nhân trên thị trường.
- Hạn chế rủi ro cho thương nhân khi gia nhập thị trường nước ngoài.
Trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay, việc mua bán hàng hoá quốc tế đang ngày
càng phát triển nhưng việc thâm nhập thị trường của một quốc gia khác của
thương nhân gặp rất nhiều khó khăn do sự khác nhau về ngôn ngữ, pháp luật
và các yếu tố văn hoá. ĐLMBHH rất được các thương nhân ưa chuộng khi gia
nhập thị trường nước ngoài vì sự am hiểu thị trường và pháp luật nước bản địa
của bên ĐLMBHH giúp cho các thương nhân hạn chế được nhiều rủi ro và
giúp hàng hoá của họ dễ dàng tiếp cận, thích ứng với khách hàng địa phương.
Thứ hai, hoạt động ĐLMBHH còn tạo điều kiện thuận lợi cho người tiêu
dùng, nhất là người tiêu dùng ở những nơi có điều kiện kinh tế, xã hội khó
khăn tiếp cận được với nguồn cung cấp hàng hoá.
12
bên giao đại lý đều phải là thương nhân. Bên giao đại lý là thương nhân
chuyên kinh doanh hoạt động mua, bán hàng hoá, giao hàng hoá cho đại lý bán
hoặc giao tiền mua hàng cho đại lý mua. Bên đại lý cũng phải là thương nhân,
có ngành nghề kinh doanh phù hợp với loại hàng hoá nhận đại lý. (xem chương
2 luận văn)
Thứ hai, bên đại lý phải dùng chính danh nghĩa của mình để thực hiện
việc mua bán hàng hoá cho bên giao đại lý. Đây là 1 đặc điểm quan trọng của
HĐ đại lý, cho phép phân biệt HĐ đại lý với HĐ đại diện cho thương nhân.
Thứ ba, trong quan hệ HĐ đại lý, bên đại lý không phải là chủ sở hữu đối
với hàng hoá mà chỉ là người được bên giao đại lý uỷ thác việc định đoạt hàng
hoá mà thôi. Bên giao đại lý hoàn toàn không chuyển quyền sở hữu hàng hoá
(trong trường hợp đại lý bán) hoặc tiền (trong trường hợp đại lý mua). Cơ sở
để bên đại lý bán hoặc mua hàng hoá cho bên giao đại lý là sự uỷ nhiệm quyền
mua, bán hàng hoá của bên giao đại lý. Đặc điểm này làm cho HĐ ĐLMBHH
hoàn toàn khác HĐ mua bán hàng hoá, nhất là các HĐ “mua sỉ” để bán lẻ. Đặc
trưng nổi bật nhất của HĐ mua bán hàng hoá là có sự chuyển quyền sở hữu
hàng hoá từ người bán sang cho người mua và kể từ thời điểm chuyển quyền
sở hữu hàng hoá thì rủi ro xảy ra đối với hàng hoá cũng được chuyển giao từ
người bán sang cho người mua, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác.
Thứ tư, để thực hiện hoạt động đại lý, bên đại lý vừa phải thực hiện các
hành vi pháp lý (GKHĐ với khách hàng), vừa phải thực hiện các hành vi thực
tế (nhận hàng hoá từ bên giao đại lý để giao cho người mua trong trường hợp
đại lý bán, hoặc nhận tiền từ bên giao đại lý để thanh toán cho khách hàng;
nhận hàng từ khách hàng để giao cho bên đại lý trong trường hợp đại lý mua
hàng. Đặc điểm này giúp phân biệt HĐ đại lý với HĐ uỷ thác mua bán hàng
hoá, trong đó, bên được uỷ thác chủ yếu thực hiện các hành vi pháp lý (bên
hoặc không áp dụng. Khi cơ quan chức năng giải quyết để bảo vệ quyền lợi
cho người tiêu dùng, đã gặp một số khó khăn do quy định của HĐ giữa Honda
14
và các Head không rõ ràng, không xác định rõ HĐ là HĐ ĐLMBHH hay HĐ
phân phối hàng hoá. [47]
HĐ phân phối hàng hoá được pháp luật rất nhiều nước quy định với ý
nghĩa là một dạng HĐ mua sỉ, bán lẻ nhưng không được đề cập đến trong LTM
năm 2005. HĐ phân phối hàng hoá được hiểu là sự thoả thuận giữa nhà sản
xuất hoặc nhà cung cấp hàng hoá, theo đó nhà phân phối nhân danh chính
mình mua hàng hoá của người cung cấp để bán lại. Nhà cung cấp hàng hoá có
thể chấp thuận chỉ giao hàng hoá cho duy nhất một nhà phân phối trong một
khu vực địa lý xác định. HĐ phân phối hàng hoá có thể được thể hiện dưới
hình thức lời nói hoặc bằng văn bản. [43, tr166]
Trong quan hệ HĐ ĐLMBHH, các quyền và nghĩa vụ giữa bên giao đại
lý, bên đại lý với nhau cũng như với khách hàng có sự khác biệt rõ nét với HĐ
phân phối hàng hoá. Việc phân biệt HĐ ĐLMBHH và HĐ phân phối hàng hoá
có ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết tranh chấp giữa các bên tham gia
quan hệ HĐ và bảo vệ quyền lợi của khách hàng.
Thứ nhất, trong quan hệ ĐLMBHH, bên giao đại lý chỉ giao hàng hoá cho
bên đại lý bán hàng mà không chuyển quyền sở hữu hàng hoá cho bên đại lý
(bên giao đại lý chỉ chuyển quyền chiếm hữu hàng hoá cho bên đại lý). Khi
bên đại lý giao kết, thực hiện HĐ với khách hàng, quyền sở hữu hàng hoá sẽ
được chuyển từ bên giao đại lý sang cho khách hàng. Bên đại lý chỉ có vai trò
của một người làm dịch vụ trung gian nối liền sự liên kết của bên giao đại lý
với khách hàng. Với tư cách là chủ sở hữu của hàng hoá, bên giao đại lý được
toàn quyền định đoạt đối với hàng hoá của mình cũng như phải chịu mọi rủi ro
đối với hàng hoá cũng như gánh chịu mọi trách nhiệm với khách hàng về chất
truyền thống luật Châu Âu lục địa cũng không có sự phân biệt giữa HĐ đại lý
và HĐ uỷ thác. Theo quy định của pháp luật VN, giữa hai loại HĐ này có một
số điểm khác biệt như sau:
16
Thứ nhất, chủ thể của HĐ ĐLMBHH đều phải là thương nhân, còn trong
quan hệ HĐ uỷ thác thì bên uỷ thác mua bán hàng hoá có thể là thương nhân
hoặc không phải là thương nhân.
Thứ hai, bên ĐLMBHH được tự do hơn bên nhận uỷ thác trong việc lựa
chọn bên thứ ba để giao kết và thực hiện HĐ. Theo quy định tại Điều 165
LTM năm 2005, trừ trường hợp có thoả thuận khác, bên nhận uỷ thác có nghĩa
vụ: thực hiện mua bán hàng hoá theo thỏa thuận; thực hiện các chỉ dẫn của bên
uỷ thác phù hợp với thoả thuận. Việc bên nhận uỷ thác thực hiện mua bán hàng
hoá cho bên uỷ thác phải tuân thủ nghiêm ngặt chỉ dẫn của bên uỷ thác. Nhưng
bên đại lý trong quan hệ ĐLMBHH được tự do trong việc tìm kiếm, GKHĐ
với các bên thứ ba mà không phải chịu sự tác động của bên giao đại lý.
Thứ ba, quan hệ uỷ thác mua bán hàng hoá thường mang tính vụ việc, đơn
lẻ còn quan hệ ĐLMBHH thường là quá trình hợp tác lâu dài giữa bên đại lý
và bên giao đại lý. Vì vậy, bên đại lý có sự gắn bó với bên giao đại lý hơn so
với quan hệ của bên uỷ thác và bên nhận uỷ thác.
1.2.2. Phân loại hợp đồng đại lý mua bán hàng hoá
HĐ ĐLMBHH rất phong phú, đa dạng trong thực tế. Về mặt khoa học,
người ta có thể phân chia HĐ đại lý thành những loại khác nhau, dựa trên
những tiêu chí khác nhau như:
* Căn cứ vào nội dung cụ thể mà bên giao đại lý giao cho bên đại lý thực
hiện mà chia thành đại lý mua hàng và đại lý bán hàng. Đại lý mua hàng là
hình thức đại lý trong đó bên đại lý nhận tiền của bên giao đại lý để mua hàng
cho bên giao đại lý. Đại lý bán hàng là hình thức đại lý trong đó bên đại lý
hình thức ĐLMBHH khác phù hợp với nhu cầu kinh doanh của các bên. LTM
năm 2005 cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành không đưa ra khái niệm về
các loại HĐ đại lý nói trên. Căn cứ vào quy định của BLDS năm 2005 về HĐ và
khái niệm về các hình thức đại lý bao tiêu, đại lý độc quyền, tổng đại lý theo quy
định tại Điều 69 LTM năm 2005, có thể đưa ra các khái niệm như sau:
18
* Hợp đồng đại lý bao tiêu
HĐ đại lý bao tiêu là sự thoả thuận giữa bên đại lý và bên giao đại lý về
việc bên đại lý thực hiện việc mua, bán trọn vẹn một khối lượng hàng hoá hoặc
cung ứng đầy đủ một dịch vụ cho bên giao đại lý để hưởng chênh lệch. Trong
quan hệ đại lý này, bên giao đại lý không ấn định “cứng” giá giao đại lý, mà
thông thường chỉ quy định giá hàng hoá mà bên đại lý phải thanh toán (trong
trường hợp đại lý bán hàng) hoặc giao một số lượng tiền nhất định với yêu cầu
phải giao được một số lượng hàng hoá nhất định (trong trường hợp đại lý mua
hàng) cho bên đại lý. Giá bán, giá mua hàng hoá cụ thể do bên đại lý tự quyết
định trên cơ sở tính toán mức giá chung của thị trường, chi phí kinh doanh của
mình, doanh thu sao cho có lợi nhất về mặt kinh tế.
Trong hình thức đại lý bao tiêu, thù lao bên đại lý được hưởng không
được xác định trước mà hoàn toàn phụ thuộc vào khả năng mua bán hàng hoá
của bên đại lý, khoản thù lao này chính là khoản chênh lệch giữa giá mua và
giá bán thực tế so với giá mua tối đa (trong trường hợp đại lý mua hàng), giá
bán tối thiểu (trong trường hợp đại lý bán hàng) do bên đại lý giao. Vì vậy, so
với hình thức đại lý hoa hồng (như đã trình bày phần trên) thì đại lý bao tiêu tỏ
ra linh hoạt hơn và tạo động lực kinh doanh hơn cho bên đại lý.
* Hợp đồng đại lý độc quyền
HĐ đại lý độc quyền là sự thoả thuận giữa bên giao đại lý và bên đại lý,
theo đó, bên giao đại lý có nghĩa vụ chỉ giao cho một đại lý mua, bán một hoặc
trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau. Có thể chia nguồn luật điều chỉnh
quan hệ HĐ ĐLMBHH thành 2 nhóm cơ bản:
* Nhóm các quy định chung về HĐ, trong đó có HĐ ĐLMBHH: Nhóm
các quy định này quy định những vấn đề chung, mang tính nguyên tắc về mọi
loại HĐ, trong đó có HĐ ĐLMBHH. Hiện nay, các quy định chung về HĐ có
thể tìm thấy trong BLDS 2005.
BLDS 2005 có các quy định chung liên quan đến HĐ ĐLMBHH sau đây:
20
+ Giao dịch dân sự (Chương VI): các điều kiện có hiệu lực của giao dịch
dân sự, các trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu và xử lý hậu quả của giao dịch
dân sự vô hiệu;
+ Đại diện (Chương VII) và uỷ quyền (mục 12 Chương XVIII): người đại
diện cho các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác xác lập các giao dịch dân
sự; vấn đề đại diện theo uỷ quyền;
+ Nghĩa vụ dân sự và HĐ dân sự (Chương XVII, Chương XVIII): các
biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự; chuyển giao quyền và nghĩa vụ
dân sự; trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ dân sự; các vấn đề liên quan
đến HĐ dân sự nói chung như giao kết, thực hiện HĐ, thanh lý, đình chỉ, huỷ
bỏ việc thực hiện HĐ; thời hiệu khởi kiện tranh chấp HĐ.
Ngoài ra, BLDS 2005 còn rất nhiều quy định có liên quan đến HĐ nói
chung và HĐ đại lý nói riêng như: quy định về chủ thể của quan hệ dân sự;
quy định về tài sản và quyền sở hữu tài sản...
* Nhóm các quy định chuyên ngành về HĐ ĐLMBHH: Bên cạnh những
quy định trong BLDS năm 2005 thì LTM năm 2005 cũng chưa đựng rất nhiều
quy định cụ thể về HĐ đại lý thương mại. LTM có hàng loạt quy định cụ thể
về điều kiện chủ thể tham gia HĐ đại lý; các hình thức đại lý; quyền sở hữu,
thù lao, thời hạn đại lý, các quyền và nghĩa vụ chính của các bên trong quan hệ