TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
--------------------------------
VŨ THỊ HOA
TÌM HIỂU THỰC TRẠNG SỬ DỤNG
PHƢƠNG TIỆN TRỰC QUAN TRONG DẠY
HỌC MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 2 Ở MỘT SỐ
TRƢỜNG TIỂU HỌC KHU VỰC THÀNH
PHỐ VĨNH YÊN – VĨNH PHÚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục học
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
Th.S NGUYỄN THỊ XUÂN LAN
HÀ NỘI - 2014
Khóa luận tốt nghiệp
LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Th.s Nguyễn Thị Xuân Lan,
người đã hết lòng hướng dẫn, giúp đỡ cho tác giả khi làm khóa luận tốt
nghiệp này.
Với tình cảm chân thành tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô
khoa Giáo dục Tiểu học trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, trường Tiểu học
Đống Đa, trường Tiểu học Liên Minh, trường Tiểu học Ngô Quyền đã tạo
điều kiện thuận lợi cho tác giả để hoàn thành luận văn.
Hà Nội, tháng 5 năm 2014
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của việc sử dụng phƣơng tiện trực quan
trong dạy học bậc tiểu học ............................................................................ 6
1.1. Một số khái niệm cơ bản .......................................................................... 6
1.1.1. Trực quan .............................................................................................. 6
1.1.2. Phương tiện dạy học .............................................................................. 6
1.1.3. Phương tiện trực quan trong dạy học .................................................... 6
1.2. Sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học ở tiểu học ........................ 8
1.2.1. Cơ sở khoa học của việc sử dụng phương tiện trực quan trong dạy
học ở tiểu học .................................................................................................. 8
1.2.1.1. Cơ sở tâm lí học ................................................................................. 8
1.2.1.2. Cơ sở giáo dục học ........................................................................... 10
1.2.1.3. Cơ sở triết học .................................................................................. 11
1.2.2. Sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học ở bậc tiểu học ............ 13
1.2.2.1. Nguyên tắc trực quan ....................................................................... 13
1.2.1.2. Phân loại phương tiện trực quan ...................................................... 17
Khóa luận tốt nghiệp
1.2.2.3. Phương pháp trực quan trong dạy học ............................................. 20
1.3. Sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học môn Tiếng Việt lớp 2
ở tiểu học ....................................................................................................... 22
1.3.1. Vị trí của việc sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học môn
Tiếng Việt lớp 2 ............................................................................................ 22
1.3.2. Vai trò của việc sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học môn
Tiếng Việt lớp 2 ............................................................................................ 23
1.3.3. Tầm quan trọng và ý nghĩa của việc sử dụng phương tiện trực
quan trong dạy học môn Tiếng Việt lớp 2 .................................................... 25
Chƣơng 2: Thực trạng việc sử dụng phƣơng tiện trực quan trong
dạy học môn Tiếng Việt lớp 2 ở một số trƣờng tiểu học khu vực
thành phố Vĩnh Yên .................................................................................... 26
Khóa luận tốt nghiệp
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong giai đoạn đổi mới đất nước hiện nay, khoa học kỹ thuật phát
triển với tốc độ nhanh chóng. Sự phát triển như vũ bão đó đòi hỏi con người
phải có tri thức. Nước ta là nước đang phát triển, sản xuất nông nghiệp là
chính, kinh tế còn gặp nhiều khó khăn, khoa học kỹ thuật còn gặp nhiều hạn
chế. Một câu hỏi đặt ra cho chúng ta là: Làm thế nào để đưa nước ta kịp với
các nước phát triển? Chỉ có tri thức mới giúp chúng ta làm được điều này.Vì
tri thức là phương tiện, công cụ để tiếp cận với nền văn minh nhân loại.
Theo định hướng đúng đắn của Đảng và Nhà nước: Giáo dục là quốc
sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục chính là đầu tư cho sự phát triển. Chương
II, điều 27- Luật Giáo dục ghi rõ: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người
Việt Nam phát triển toàn diện: có đạo đức, có tri thức, có sức khỏe, thẩm mỹ
và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH, hình
thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng
yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc”.
Để thực hiện mục tiêu giáo dục nói trên thì quá trình dạy học không chỉ
đơn giản là giáo viên lên lớp thực hiện giờ dạy theo giáo án và học sinh ngồi
nghe một cách thụ động. Muốn dạy học đạt được hiệu quả thì một trong
những vấn đề quan trọng và cấp bách là phải đổi mới phương pháp dạy học
theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, tự giác của người học. Một
trong những hướng mới của phương pháp dạy học hiện nay là việc khai thác
kiến thức từ phương tiện trực quan dạy học. Sử dụng phương tiện trực quan ở
bậc tiểu học rất quan trọng vì nó phù hợp với đặc điểm lứa tuổi học sinh tiểu
học, lứa tuổi chủ yếu nhận thức sự vật hiện tượng bằng hình ảnh trực quan cụ
thể.
Vũ Thị Hoa
Hêghen, Các Mác,… đều hướng tới việc giải quyết vấn đề trực quan là gì, vai
trò của trực quan trong hoạt động nhận thức của con người, sự vận động của
hình ảnh trực quan từ cảm tính đến lí tính, từ hình ảnh đến khái niệm.
Vũ Thị Hoa
2
K36B - GDTH
Khóa luận tốt nghiệp
Trực quan cũng được đề cập đến nhiều trong các công trình của các nhà
lí luận giáo dục. J.A Cômenxki (1952- 1670), JJ Rút xô (1712- 1778),…. Họ
cho rằng những phương pháp dạy học trực quan được hình thành dựa trên cơ
sở chủ yếu là xã hội và triết học. Về mặt xã hội là trên cơ sở đấu tranh chống
lại lối dạy học nhồi sọ, giáo điều. Họ đề nghị tiến hành nhiều phương pháp
dạy học mới, dạy học phải dựa trên những bằng chứng khoa học, tri thức phải
được lí trí xác nhận bằng chính các giác quan của người học. Còn về triết học,
phương pháp dạy học trực quan được xây dựng trên cơ sở đề cao vai trò của
cảm giác trong quá trình nhận thức của con người.
Phương pháp trực quan gắn liền với sự phát triển của triết học khoa học
kỹ thuật và xã hội cũng có nhiều công trình nghiên cứu về phương pháp trực
quan như tài liệu dự án Việt Bỉ, Unicef, nhờ sự phát triển mạnh mẽ của khoa
học kỹ thuật và công nghệ, các bộ phận kỹ thuật hiện đại nhất là các phương
tiện nghe nhìn được ứng dụng rộng rãi làm cho phương pháp trực quan được
phát triển thêm nhiều lĩnh vực nghiên cứu mới, như nghiên cứu và áp dụng
các phương tiện kỹ thuật, phương tiện nghe nhìn vào dạy học, sau đó là sản
xuất các phương tiện tiện chuyên dùng trong dạy học, trong đó có phương tiện
trực quan.
- Khách thể nghiên cứu: Việc sử dụng phương tiện dạy học trong dạy
học môn Tiếng Việt lớp 2.
5. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu tại các trường Tiểu tiểu học khu vực thành phố Vĩnh Yên tỉnh Vĩnh Phúc (trường Tiểu học Đống Đa, trường Tiểu học Ngô Quyền,
trường Tiểu học Liên Minh).
6. Giả thuyết khoa học
Việc sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học môn Tiếng Việt lớp
2 ở một số trường tiểu học khu vực thành phố Vĩnh Yên- tỉnh Vĩnh Phúc vẫn
chưa đạt hiệu quả cao. Nếu phát hiện đúng thực trạng và đề xuất được những
biện pháp hợp lí sẽ nâng cao được hiệu quả của việc sử dụng phương tiện trực
quan trong dạy học môn Tiếng Việt lớp 2 nói riêng và trong dạy học ở tiểu
học nói chung.
Vũ Thị Hoa
4
K36B - GDTH
Khóa luận tốt nghiệp
7. Nhiệm vụ nghiên cứu
7.1. Tìm hiểu cơ sở lí luận việc sử dụng phương tiện trực quan trong
dạy học môn Tiếng Việt lớp 2.
7.2. Tìm hiểu thực trạng việc sử dụng phương tiện trực quan trong dạy
học môn Tiếng Việt lớp 2 ở một số trường Tiểu học khu vực thành phố Vĩnh
Yên - tỉnh Vĩnh Phúc.
7.3. Nguyên nhân và giải pháp.
8. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp đọc sách
1.1.2. Phương tiện dạy học
Các phương tiện dạy học là một tập hợp những đối tượng vật chất được
giáo viên sử dụng với tư cách là những phương tiện điều khiển hoạt động
nhận thức của học sinh, là phương tiện giúp cho các em lĩnh hội tri thức và
rèn luyện kỹ năng kỹ xảo [6, tr264]
1.1.2. Phương tiện trực quan trong dạy học
Để có hình ảnh về sự vật trước hết cần có sự hoạt động của con người,
mặt khác sự vật ấy phải tác động phù hợp với cơ quan cảm giác và nằm trong
vùng ngưỡng cảm giác. Tuy nhiên trong hoạt động nhận thức của con người
nói chung và trong quá trình dạy học nói riêng, không phải bao giờ chủ thể
cũng tác động trực tiếp lên đối tượng nhận thức, không phải bao giờ đối tượng
nhận thức cũng xuất hiện trong vùng khả năng cảm nhận của các cảm giác
của chủ thể. Nếu sự tác động của sự vật với cường độ quá lớn thì hình ảnh
không phản ánh đúng sự vật và ngược lại nếu sự tác động của sự vật quá nhỏ
so với ngưỡng cảm giác của con người thì không có hình ảnh trực quan. Ví
dụ: con người sẽ không có hình ảnh về sự vật khi kích thước của chúng quá
nhỏ như nguyên tử, vi sinh vật, hoặc chuyển động có bước sóng quá ngắn như
bước sóng ánh sáng, các vật ở quá xa tầm mắt của con người. Trong các
Vũ Thị Hoa
6
K36B - GDTH
Khóa luận tốt nghiệp
trường hợp đó để có thể tác động lên đối tượng nhận thức, đối tượng học tập
chủ thể nhận thức phải dựa vào các phương tiện trung gian. Thông qua đó chủ
thể nhận thức có được hình ảnh trực quan về đối tượng. Vì thế người ta cần
Khóa luận tốt nghiệp
phương tiện trực quan đặt chúng trong mối quan hệ với mục đích và nhiệm vụ
dạy học. Trên cơ sở quan niệm như vậy, chúng ta có thể xác định được tiêu
chuẩn cơ bản để xem xét một vật nào đó có phải là phương tiện trực quan nếu
nó được đặt trong mối quan hệ với hoạt động nhận thức của học sinh, tức là
trong mối quan hệ với mục đích và đối tượng học tập. Như vậy, sự vật hiện
tượng chỉ được gọi là phương tiện trực quan khi những hình ảnh cảm tính về
chúng có liên quan đến đối tượng nhận thức và nhằm đạt mục đích dạy học,
như vậy phương tiện trực quan được hiểu là những phương tiện được sử dụng
trong hoạt động dạy học có chức năng khơi dạy, dẫn truyền, tăng cường khả
năng hoạt động của các giác quan, góp phần tạo nên chất liệu cảm tính của
đối tượng nhận thức nhằm đạt được các mục đích dạy học cụ thể.
1.2. Sử dụng phƣơng tiện trực quan trong dạy học ở tiểu học
1.2.1.Cơ sở khoa học của việc sử dụng phương tiện trực quan trong dạy
học ở tiểu học
1.2.1.1. Cơ sở tâm lý học
Đặc điểm cảm giác, tri giác
So với trẻ mẫu giáo, thị giác của trẻ em ở bậc tiểu học nhạy bén hơn,
khả năng điều tiết và hội tụ của mắt khi chuyển tầm nhìn từ vật gần đến vật xa
và ngược lại cũng tốt, khả năng thụ cảm về thính giác cũng phát triển hơn. Trẻ
em ở những năm đầu tiểu học rất nhạy cảm đối với hoạt động bên ngoài vì
hoạt động của hệ thống tín hiệu thứ nhất chiếm ưu thế. Cảm giác xúc giác còn
hạn chế, phối hợp các thao tác còn vụng về. Hoạt động nhận thức của trẻ
trước hết dựa vào trực quan cảm tính, vì thế mà trẻ vẫn còn thiếu sót khi tri
giác sự vật: trẻ chưa phân biệt chính xác các sự vật giống nhau, chỉ thỏa mãn
với việc nhận biết và gọi tên sự vật mà không muốn đi sâu vào tìm hiểu chi
tiết. Quan sát sự vật đại khái, qua loa, không quan sát kỹ các chi tiết, không
những hình ảnh cũ trẻ đã tái tạo ra những hình ảnh mới. Tưởng tưởng sáng
tạo tương đối phát triển, trẻ bắt đầu phát triển khả năng làm thơ, vẽ tranh,…
Đặc điểm tư duy
Đặc điểm tư duy của trẻ là tính cụ thể và tính cảm xúc. Trẻ thường gặp
khó khăn khi cần khái quát hóa, trừu tượng hóa các sự vật hiện tượng. Tư duy
Vũ Thị Hoa
9
K36B - GDTH
Khóa luận tốt nghiệp
logic kém, trẻ thường không vận dụng được các thao tác tư duy đối với các
hoạt động trí tuệ. Trẻ khó vận dụng những kiến thức đã học vào việc giải
quyết các tình huống thực tiễn nhất là đối với trẻ đầu tiểu học.
Đặc điểm chú ý
Trẻ không thể tập trung trong một thời gian dài, dễ bị xao nhãng, khó
tập trung cao vào các chi tiết. Đặc điểm trí nhớ của trẻ kém bền vững, thường
xuyên chuyển từ hoạt động chưa hình thành sang hoạt động khác. Trẻ hay bị
phân tán, khó tuân theo các chỉ dẫn, khó thực hiện theo tuần tự các bước.
Chính vì vậy cần lôi cuốn trẻ vào bài học nhẹ nhàng, thoải mái, gây hứng thú
bằng các phương tiện trực quan.
1.2.1.2. Cơ sở giáo dục học
Bậc học tiểu học là nền móng của toàn bộ hệ thống giáo dục của nhà
trường phổ thông. Hoạt động học của học sinh tiểu học được hình thành ngay
từ lớp 1, hoạt động này đã giúp trẻ hình thành những cơ sở ban đầu của tư duy
khoa học. Do vậy mà học sinh lĩnh hội được chương trình học xây dựng trên
cơ sở hệ thống khái niệm hiện đại.
loài người, không có ngôn ngữ xã hội không thể tồn tại.
Tuy nhiên, ngôn ngữ không phải là phương tiện duy nhất để dạy học
nói chung và dạy Tiếng Việt nói riêng. Lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin cho
rằng: Con đường biện chứng của nhận thức chân lý đi qua hai giai đoạn nhận
thức cảm tính và nhận thức lí tính. Nhận thức cảm tính do giác quan đem lại
và nhận thức lí tính thông qua phán đoán logic, đây là dạng nhận thức phản
ánh được bản chất sự việc. Hêraclit nói “mắt, tai là người thầy tốt nhất, nhưng
mắt là nhân chứng chính xác hơn tai”. Coi trọng nhận thức cảm tính nhưng
ông không tuyệt đối hóa nó. Theo ông “thị giác thường hay bị lừa” bởi “tự
nhiên thích giấu mình” nên khó nhận thức được. Vì vậy không nên phán đoán
về thế giới và các sự vật theo cái chúng thể hiện ra bề mặt mà phải cố gắng lý
giải sự thống nhất của các sự vật đằng sau sự đa dạng của chúng. (Phan Trọng
Ngọ, [4, tr10]).
Các nhà triết học phương Đông cổ đại rất coi trọng nhận thức cảm tính.
Theo Khổng Tử, để có được tri thức nhất quán chung, nhất quán thì phải
“Học chi tập chi” (học lý thuyết luôn gắn với thực hành), phải có suy nghĩ
chứ không đơn thuần ghi nhớ máy móc và học thuộc các hình ảnh. Vấn đề
Vũ Thị Hoa
11
K36B - GDTH
Khóa luận tốt nghiệp
trung tâm trong nhận thức luận của Tuân Tử là mối quan hệ giữa lý tính với
trực quan cảm tính trong nhận thức của con người. Theo ông muốn nhận thức
được thế giới vạn vật thì trước hết phải có 5 giác quan đem lại hình ảnh của
sự vật và muốn nhận thức đúng, sâu sắc cần phải có sự tham gia của nhận
Khóa luận tốt nghiệp
của sự vật, hiện tượng cần phải xử lý các thông tin (thu được nhờ quan sát) ở
trong trí óc. Khi đó, từ hình tượng cảm tính đã thu được, ta loại bỏ các khía
cạnh ngẫu nhiên, không cơ bản, chỉ giữ lại những dấu hiệu cơ bản nhất quá
trình này là quá trình tư duy
1.2.2. Sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học ở bậc tiểu học
1.2.2.1. Nguyên tắc trực quan
Bàn về nguyên tắc trực quan, chúng tôi phân tích sự chuyển hóa và mối
quan hệ giữa cái cụ thể và cái trừu tượng, với tư cách là những quan điểm lý
luận chỉ đạo phương pháp tổ chức sử dụng phương tiện trực quan.
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mac – Lênin, cái cụ thể là tính toàn bộ
của sự vật hiện tượng được thể hiện trong tính muôn vẻ những thuộc tính của
chúng. Còn đối lập với cái cụ thể thì tính trừu tượng được xem là cái bộ phận
của toàn bộ, tách khỏi cái toàn bộ và cô lập với những mối quan hệ và sự tác
động lẫn nhau với những mối quan hệ khác nhau của cái toàn bộ ấy.
Nhận thức bắt đầu từ cái cảm tính đến khái niệm trừu tượng rồi phát
triển đến cái cụ thể trong tư duy, và cái cụ thể ở đây được xuất hiện 2 lần ở
bước đầu và bước cuối của quá trình nhận thức. Cái cụ thể ở bước đầu chứa
chất liệu cảm tính, được hiểu là cái cảm tính hay Lênin gọi là trực quan sinh
động, cái cụ thể ở bước sau là sự chuyển hóa những vật liệu cảm tính đã có
vào trong chất liệu mới. Cũng có thể nói ở giai đoạn đầu của quá trình nhận
thức cái cụ thể có thể nhận thức trong tính cụ thể trực tiếp với các thuộc tính
bên ngoài của đối tượng, còn những thuộc tính bên trong, những quy luật tồn
tại và phát triển của sự vật thì chủ thể chưa nhìn thấy được. Cái cụ thể ở bước
cuối của quá trình nhận thức là cái cụ thể được soi sáng bằng cái trừu tượng.
Vì vậy nó nhìn thấy cả được những mối quan hệ những thuộc tính bị che kín
bên trong, trong sự thống nhất và hòa lẫn với nhau trong một hoạt động nhận
thức cụ thể.
Vũ Thị Hoa
Chúng chứa đối tượng nghiên cứu học tập dưới dạng khả năng. Còn đối tượng
đó có trở thành đối tượng nhận thức của hoạt động học tập hay không thì lại
do vật trực quan đó có mối quan hệ như thế nào đối với hoạt động nhận thức
của các em, tức là dựa vào mục đích và chức năng của vật trực quan trong các
Vũ Thị Hoa
14
K36B - GDTH
Khóa luận tốt nghiệp
hoạt động học tập của các em. Khi tiến hành các hoạt động đồ vật nhằm một
mục đích nhất định, chủ thể nhận thức không những thấy được các thuộc tính
của sự vật hiện tượng mà quan trọng hơn là làm cho mối quan hệ giữa các
thuộc tính của sự vật được bộc lộ một cách trực quan.
Trên cơ sở phân tích trên chúng ta thấy, trong dạy học nếu đối tượng
lĩnh hội nằm trong vật trực quan thì vật trực quan ấy phải ở trong cấu trúc của
hoạt động với tư cách là một yếu tố (đối tượng hay phương tiện) hoạt động
nhận thức của học sinh. Trong quá trình hoạt động với đối tượng trực quan
các mối quan hệ, các dấu hiệu bản chất quy định sự tồn tại của chúng sẽ được
bộc lộ. Qua đó các em có thể nhận thức được chúng. Vì vậy có thể khẳng định
rằng, trong dạy học muốn nhận thức được đối tượng, cần phải có những hoạt
động vật chất nhất định lên đối tượng. Hoạt động này sẽ làm bộc lộ những
thuộc tính, những mối quan hệ của đối tượng, tạo điều kiện cho chủ thể nhận
thức chúng một cách trực quan. Chính trong quá trình tác động đó, những yếu
tố quy định sự tồn tại của sự vật được bộc lộ ra và được học sinh nhận thức để
hình thành các khái niệm khoa học. Như vậy quan điểm của Lênin về nhận
thức là: hoạt động thực tiễn - Lý luận (khái niệm, cái trừu tượng,…) - Hoạt
điểm xuất phát có thể là hình ảnh trực quan, có thể là cái trừu tượng, và hình
ảnh trực quan cũng có thể được xuất hiện hai lần là quan điểm đúng đắn.
Tóm lại, giữa cái cụ thể và cái trừu tượng có mối quan hệ biện chứng
trong quá trình nhận thức thống nhất. Nhận thức bắt đầu từ cái cụ thể cảm tính
qua cái trừu tượng rồi phát triển thành cái cụ thể trong tư duy. Chất lượng của
cái cụ thể phụ thuộc vào cái trừu tượng. Nguyên tắc trực quan truyền thống
cho rằng sự trừu tượng trong phương pháp dạy học trực quan chính là quá
trình khái quát những dấu hiệu cảm tính thành các biểu tượng chung, thành
khái niệm. Nguyên tắc dạy học trực quan cần được xây dựng trên quan điểm
biện chứng về sự trừu tượng khoa học. Muốn hình thành khái niệm khoa học
cho học sinh cần bắt đầu từ những hoạt động của các em để hình thành hình
ảnh trực quan. Thông qua hoạt động các thuộc tính và các mối quan hệ của
đối tượng được bộc lộ, từ đó giúp các em nhận thức được các thuộc tính bản
chất và các mối quan hệ có tính quy luật của sự vật hiện tượng và hình thành
các khái niệm khoa học, các khái niệm này không ngừng được kiểm nghiệm
Vũ Thị Hoa
16
K36B - GDTH
Khóa luận tốt nghiệp
và bổ sung thông qua hoạt động thực tiễn. Như vậy, nguyên tắc trực quan
được hiểu là hệ thống các luận điểm hay nguyên lý, quy định hoạt động của
giáo viên trong việc xác định vị trí của hình ảnh trực quan trong hoạt động
dạy học cụ thể, quy định việc lựa chọn phương tiện trực quan của giáo viên và
học sinh trên cơ sở phù hợp với quy luật của nhận thức, học tập nhằm đạt mục
đích dạy học cụ thể.
cách phân loại ít chú ý đến chức năng của phương tiện đối với mục đích và
nội dung dạy học. Vì thế, trong thực tiễn của việc sử dụng các phương tiện
trực quan vào nội dung dạy học khác nhau của giáo viên thường gặp rất nhiều
khó khăn, nhất là khi cùng một phương tiện dạy học lại được sử dụng trong
bài học khác nhau. Để làm rõ chức năng, tác dụng và cách sử dụng các
phương tiện trực quan một cách mềm dẻo, linh hoạt lại phù hợp với mục tiêu,
nội dung dạy học khác nhau cần phải có cách phân loại khác nhau về các
phương tiện trực quan. Mỗi sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan có
những thuộc tính vật lý và vai trò, chức năng nhất định đối với những sự vật
khác nhau. Trong quá trình dạy học để một vật nào đó có phải là phương tiện
trực quan hay không và là phương tiện trực quan nào không chỉ dựa vào vai
trò chức năng trong quan hệ với nội dung và mục đích dạy học. Do vậy phân
loại phương tiện trực quan có thể xét theo tiêu chí chức năng của phương tiện
trong một hoạt động dạy học cụ thể.
Trên cơ sở phân tích các quan hệ chức năng của phương tiện trực quan
với đối tượng học tập của học sinh, AN. Lêôchiev đã khẳng định... Việc đưa
tài liệu trực quan vào dạy học ít nhất cũng phải phân tích đến hai yếu tố tâm
lý: tài liệu trực quan đóng vai trò cụ thể nào trong việc lĩnh hội. Nội dung vật
thể của tài liệu trực quan này có quan hệ như thế nào đối với đối tượng cần
phải được ý thức và cần phải được lĩnh hội....
Như vậy dựa vào quan điểm của AN. Lêôchiev để xem xét vấn đề
phương tiện trực quan chúng ta thấy: Trong phương pháp dạy học trực quan
mối quan hệ chức năng giữa nội dung đồ vật trực quan với đối tượng mà hoạt
động dạy học hướng vào. Hoạt động lĩnh hội của người học có thể xảy ra hai
trường hợp sau:
Trường hợp 1: vật (vật thật, tranh ảnh, mô hình, lời nói giàu hình ảnh...)
được sử dụng làm phương tiện trực quan không phải là đối tượng của hoạt
Vũ Thị Hoa
phương tiện trực quan trong các tình huống dạy học cụ thể.
Vũ Thị Hoa
19
K36B - GDTH