Khởi tố theo yêu cầu của người bị hại theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hải Phòng - Pdf 49

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN DŨNG

KHỞI TỐ THEO YÊU CẦU CỦA NGƯỜI
BỊ HẠI THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60.38.01.04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. NGUYỄN VĂN HUYÊN

HÀ NỘI - 2018


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào
khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác,
tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán
tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Học viện Khoa học xã hội.
Vậy, tôi viết lời cam đoan này, đề nghị Học viện xem xét để tôi có thể
bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!



DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BLHS

:

Bộ luật hình sự

BLDS

:

Bộ luật dân sự

BLTTHS

:

Bộ luật tố tụng hình sự

CAND

:

Công an nhân dân

CQĐT


:

Quân đội nhân dân

TAND

:

Tòa án nhân dân

TANDTC

:

Tòa án nhân dân tối cao

VAHS

:

Vụ án hình sự

VKS

:

Viện kiểm sát

VKSNDTC


cho quá trình tố tụng hình sự, bắt đầu từ việc phát hiện những thông tin về
tội phạm và kết thúc bằng việc cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố
hay không khởi tố vụ án hình sự, tạo điều kiện cho việc điều tra, truy tố, xét
xử. Như vậy, khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm, Cơ quan điều tra, Viện
kiểm sát, Tòa án trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách
nhiệm khởi tố vụ án. Nhưng trong một số trường hợp, hành vi phạm tội chỉ
gây thiệt hại ở một mức độ nhất định cho người bị hại, pháp luật cho phép
người bị hại được định đoạt việc xử lý người phạm tội, thông qua chế định
khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại.
1


Tuy nhiên, việc áp dụng trong thực tiễn thời gian qua còn nhiều vướng
mắc: Có trường hợp hành vi phạm tội chỉ thuộc khoản 1 của điều luật nhưng
Cơ quan điều tra lại cho là khoản 2 để tự ra quyết định khởi tố vụ án, không
cần đến ý chí của người bị hại; có trường hợp vụ án nhiều người bị hại, nhưng
có người yêu cầu khởi tố, có người không yêu cầu, có người yêu cầu rút khởi
tố, có người không yêu cầu rút khởi tố, đã gây khó khăn cho việc áp dụng
pháp luật, có nơi đình chỉ vụ án, có nơi không đình chỉ vụ án, đã ảnh hưởng
đến quyền của người bị hại. Trong khi đó, pháp luật quy định về vấn đề trên
chưa thật sự rõ ràng.
Trong bối cảnh Việt Nam đang thực hiện công cuộc cải cách tư pháp,
việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền tự do dân chủ của
công dân đã được ghi nhận trong Nghị quyết số 48- NQ/TW ngày 24/5/2005
của Bộ chính trị, và tiếp tục được khằng định tại Nghị quyết số 49- NQ/TW
ngày 02/6/2005 như “Tôn trọng và bảo vệ quyền con người”, “Tạo điều kiện
thuận lợi cho người dân tham gia tố tụng…”. Việc nghiên cứu sửa đổi các
quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu
của người bị hại để làm sáng tỏ về mặt khoa học và đưa ra những giải pháp
hoàn thiện, nâng cao hiệu quả của việc áp dụng quy định đó không chỉ có ý

Mỹ, Anh và xứ Wales, Australia, Nhật Bản, Nga, Trung Quốc, trong đó để
cập đến vấn đề người bị hại và quyền tư tố ở các quốc gia này.
Ở Việt Nam có các công trình nghiên cứu tiêu biểu như:
Về Giáo trình, sách chuyên khảo, bình luận có các công trình sau:
PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí, Chương VII- người tham gia tố tụng, Chương Xkhởi tố vụ án hình sự, Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Đại học
Quốc gia Hà Nội 2013; Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, trường Đại
học luật Hà Nội [14]; GS.TS Võ Khánh Vinh (chủ biên) Bình luận khoa học
Bộ luật tố tụng hình sự, Nxb CAND, 2007 [67]; Viện Nhà nước và pháp luật,
Tội phạm học, Luật hình sự và tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Chính trị quốc

3


gia, Hà Nội, 1995 [64]; trường Đại học Quốc gia Hà Nội- khoa Luật (2009),
Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người, Nxb Chính trị quốc gia.
Một số tác giả cũng đã công bố những bài báo khoa học có đề cập đến vấn
đề khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại như: Ths. Lê Thị Thúy
Nga, “Một số vấn đề về người bị hại trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
2009” [26]; Lê Tiến Châu, “Người bị hại trong tố tụng hình sự”, Tạp chí Khoa
học pháp lý [9, tr. 7- 11]; Phạm Mạnh Hùng, “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
của việc khởi tố vụ án và kiểm sát việc khởi tố vụ án”, Tạp chí Kiểm sát, 2007;
Phan Thanh Trung (2003), “Người đại diện hợp pháp hoàn toàn có quyền rút
đơn khởi tố”; Tạp chí Dân chủ và pháp luật [53, tr. 28- 32].
Ở cấp độ luận văn thạc sĩ thực hiện ở khoa Luật- Đại học Quốc gia Hà
Nội có các đề tài của các tác giả Hoàng Lan Phương, “Khởi tố vụ án hình sự
theo yêu cầu của người bị hại trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam”, 2014
[30]; Thịnh Quang Thắng, “Người bị hại trong Luật tố tụng hình sự Việt
Nam”, 2009; Nguyễn Trương Tín, “Một số vấn đề lý luận về chức năng buộc
tội trong tố tụng hình sự và vấn đề sửa đổi, bổ sung BLTTHS năm 2003 liên
quan đến chức năng buộc tội”, 2009 [51, tr. 29- 32]; Phạm Văn Huân,

tiễn áp dụng quy định khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại từ
thành phố Hải Phòng. Trên cơ sở đó, đề ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quy định khởi tố vụ án hình sự theo
yêu cầu của người bị hại theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam và những
khó khăn, vướng mắc, bất cập, tồn tại trong thực tiễn áp dụng, làm cơ sở cho
việc đề ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận cơ bản và thực
tiễn áp dụng chế định khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại tại
thành phố Hải Phòng, trên cơ sở tiếp cận các văn bản pháp luật có liên quan,
chủ yếu là văn bản pháp luật tố tụng hình sự ban hành từ năm 1988 đến nay;
thông tin từ báo cáo công tác hàng năm và thông báo rút kinh nghiệm trong
5


việc giải quyết các vụ án hình sự của các Cơ quan tiến hành tố tụng cấp tỉnh
và Trung ương, thông tin vụ án đăng tải trên các phương tiện thông tin đại
chúng và hồ sơ vụ án.
Về thời gian: Luận văn nghiên cứu thực tiễn áp dụng chế định khởi tố
vụ án hình sự tại thành phố Hải Phòng từ năm 2013 đến năm 2017.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận Mác- Lênin về Nhà
nước và pháp luật, các quan điểm đổi mới của Đảng, nhất là trong lĩnh vực cải
cách tư pháp. Các phương pháp luận chung để nghiên cứu đề tài là phép duy
vật biện chứng và phép duy vật lịch sử, chú trọng các phương pháp kết hợp
giữa lý luận và thực tiễn.
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể: Các phương pháp nghiên cứu đặc
thù của khoa học xã hội như phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp
logic; phương pháp lịch sử, so sánh; phương pháp phân tích quy nạp, diễn
dịch; phương pháp thống kê và một số phương pháp khác.

nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu
của người bị hại.
Chương 2: Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về khởi tố
vụ án theo yêu cầu của người bị hại và thực tiễn thực hiện trên địa bàn thành
phố Hải Phòng.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện và nâng cao chất lượng áp dụng các quy
định của pháp luật về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại.

7


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ
THEO YÊU CẦU CỦA NGƯỜI BỊ HẠI
1.1. Khái niệm và bản chất của khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu
của người bị hại
1.1.1. Khái niệm khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại
Bất cứ quốc gia nào khi xây dựng pháp luật hình sự và tố tụng hình sự
cũng đều hướng đến mục tiêu phòng ngừa tội phạm, phát hiện và xử lý kịp thời
mọi hành vi phạm tội, nhằm bảo vệ chế độ chính trị, lợi ích của Nhà nước, quyền
và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức. Trong đó, bảo vệ người bị hại là một
trong những mục tiêu và nhiệm vụ mà pháp luật hướng tới.
Ở nước ta, Nhà nước toàn quyền quyết định việc truy cứu trách nhiệm
hình sự đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội là tội phạm,
nhưng vẫn dành cho người bị hại quyền quyết định việc khởi tố hay không
khởi tố vụ án hình sự đối với một số tội phạm thông qua quyền yêu cầu khởi
tố vụ án hình sự. Đây là quyền buộc tội của người bị hại mang bản chất của
quyền tư tố, quyền tư tố nằm trong giới hạn và không làm mất đi quyền công
tố của Nhà nước. Hay nói cách khác, cơ sở lý luận của việc hình thành chế

chiếm đoạt, bị hủy hoại hoặc bị làm hư hỏng. Thiệt hại nói trên phải do chính
người thực hiện hành vi tội phạm trực tiếp gây ra cho người bị hại. Người bị
thiệt hại về thể chất, tinh thần, về tài sản…do tội phạm gây ra chỉ được coi là
người bị hại và có quyền yêu cầu khởi tố vụ án trong tố tụng hình sự khi được
CQĐT, VKS, Tòa án công nhận.
Ý nghĩa của việc quy định khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại
là ở chỗ, một trong những mục tiêu quan trọng của cuộc đấu tranh với tội
phạm mà Nhà nước và xã hội, tổ chức là vì bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của những con người, cá nhân công dân của Nhà nước, thành viên của xã hội
đó. Do đó, đối với một số tội phạm không cần thiết bắt buộc phải khởi tố vụ
án hình sự mà để người bị hại tự lựa chọn hình thức giải quyết phù hợp nhằm
9


có lợi nhất cho họ, vừa đảm bảo pháp luật, vừa bù đắp được những thiệt hại
mà họ phải gánh chịu.
Quá trình giải quyết vụ án hình sự phải tuân theo trình tự tố tụng chặt
chẽ được quy định trong BLTTHS, bao gồm nhiều giai đoạn kế tiếp nhau,
mỗi giai đoạn là một bước trong trình tự tố tụng có nhiệm vụ riêng mang tính
đặc thù về chủ thể tiến hành tố tụng, hành vi tố tụng và văn bản tố tụng. Các
giai đoạn tố tụng hình sự bao gồm khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành
án hình sự. Trình tự tố tụng được mở đầu bằng giai đoạn khởi tố vụ án hình
sự và kết thúc là thi hành án hình sự.
Tố tụng hình sự Việt Nam coi khởi tố vụ án là một giai đoạn của quá
trình tiến hành tố tụng. Tuy nhiên, tính độc lập của giai đoạn khởi tố vụ án
cũng như các giai đoạn khác trong quá trình tố tụng chỉ mang tính tương đối,
giữa chúng có mối quan hệ qua lại, tác động lẫn nhau; giai đoạn trước là tiền
đề cần thiết cho việc thực hiện nhiệm vụ của giai đoạn sau, giai đoạn sau
kiểm nghiệm kết quả của giai đoạn trước.
Giai đoạn khởi tố vụ án hình sự được bắt đầu từ khi cơ quan có thẩm

cụ thể để xác định các tiền đề pháp luật về nội dung (Dấu hiệu tội phạm của
hành vi nguy hiểm cho xã hội) và tiền đề pháp luật về hình thức (Quyết định
khởi tố vụ án hình sự) của việc điều tra vụ án hình sự, cũng như các giai đoạn
tố tụng hình sự tiếp theo.
Dấu hiệu tội phạm là tiền đề pháp luật về nội dung, được xác định trên
cơ sở: Tố giác của công dân; tin báo của cơ quan, tổ chức, tin báo trên các
phương tiện thông tin đại chúng; CQĐT, VKS, Tòa án, Bộ đội biên phòng,
Cơ quan Hải Quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác
của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một
số hoạt động điều tra trực tiếp phát hiện tội phạm; người phạm tội tự thú. Sau
khi tiếp nhận thông tin về tội phạm, cơ quan có thẩm quyền phải tiến hành
kiểm tra, xác minh nguồn tin, tùy từng sự việc mà đề ra biện pháp kiểm tra,
xác minh phù hợp. Qua kiểm tra, xác minh thông tin về tội phạm, xác định có
11


dấu hiệu tội phạm thì cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự phải ra
quyết định khởi tố; nếu không có dấu hiệu tội phạm thì ra quyết định không
khởi tố vụ án hình sự, đây là các văn kiện tố tụng đặc trưng của giai đoạn khởi
tố vụ án. Dấu hiệu tội phạm được xác định trong giai đoạn khởi tố vụ án hình
sự là cơ sở để cơ quan có thẩm quyền tiến hành hoạt động điều tra, nói cách
khác, giai đoạn khởi tố vụ án hình sự đã xác định tiền đề pháp luật về nội
dung của việc điều tra vụ án hình sự.
Quyết định khởi tố vụ án hình sự là tiền đề pháp luật về hình thức (tố
tụng) của giai đoạn điều tra, sau khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự thì các
hoạt động điều tra mới được tiến hành, trừ trường hợp đặc biệt cần ngăn chặn
ngay tội phạm hoặc đảm bảo cho việc điều tra sau này được tiến hành thuận lợi
thì một số hoạt động điều tra như bất khẩn cấp, phạm tội quả tang, khám nghiệm
hiện trường, khám nghiệm tử thi…có thể thực hiện trước khi khởi tố vụ án.
Quyết định khởi tố vụ án hình sự là văn bản pháp lý, làm cơ sở để tiến hành một

dài hơn, nhưng không quá hai tháng (BLTTHS năm 2003) [39, tr. 81]. Kết
thúc thời gian này, cơ quan có thẩm quyền phải ra quyết định khởi tố vụ án
hình sự nếu xác định có dấu hiệu tội phạm hoặc quyết định không khởi tố vụ
án hình sự nếu không có dấu hiệu tội phạm.
Có thể thấy, thông qua việc tiếp nhận thông tin về tội phạm và tiến
hành xác minh trong một thời gian nhất định rồi ra quyết định khởi tố vụ án
hình sự, điều đó thể hiện khởi tố vụ án hình sự là sự phản ứng của các cơ
quan đấu tranh chống tội phạm, nhằm khởi phát tiến trình tố tụng hình sự để
xác định sự thật của vụ án và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực
hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Khởi tố vụ án hình sự không chỉ là chức
năng quan trọng trong hoạt động tố tụng hình sự, mà còn là phương tiện cơ
bản để thực hiện tốt nguyên tắc người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội
đến mức là tội phạm thì phải chịu trách nhiệm hình sự. Khởi tố vụ án hình sự
còn là một giai đoạn tố tụng hình sự cơ bản và quan trọng để tăng cường pháp
chế, bảo vệ các quyền tự do của công dân trước khi khởi tố bị can và áp dụng
các biện pháp điều tra, cùng với các giai đoạn tố tụng hình sự khác, góp phần

13


có hiệu quả vào cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ lợi ích của
Nhà nước, xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại, ngoài ý nghĩa của
khởi tố vụ án hình sự, còn mang ý nghĩa là một trong những quy định nhằm
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại trong tố tụng hình sự. Xuất
phát từ vị trí pháp lý đặc biệt là người bị hành vi phạm tội gây thiệt hại và
được Nhà nước bảo vệ, nên người bị hại có những quyền năng pháp lý để có
thể tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chống lại người thực hiện hành vi
phạm tội đã gây thiệt hại cho mình. Trong đó, quyền đặc biệt nhất của người
bị hại là quyền yêu cầu khởi tố đối với một số tội phạm, khi hành vi phạm tội

BLTTHS quy định chỉ được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại, tùy từng
giai đoạn mà các tội này có thể thay đổi nhưng thông thường đây là những tội
ít nghiêm trọng, tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể và xâm hại
trực tiếp đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, một số quyền nhân thân của con
người. Điều kiện đủ là phải có yêu cầu khởi tố của người bị hại. Đây là yếu tố
quan trọng, làm phát sinh việc khởi tố vụ án và là cơ sở để chấm dứt việc truy
cứu trách nhiệm hình sự trong một số trường hợp nhất định.
Từ những phân tích trên, có thể thấy: “Khởi tố vụ án hình sự theo yêu
cầu của người bị hại là trường hợp khởi tố vụ án, được áp dụng đối với một
số tội phạm xâm hại đến người bị hại mà pháp luật quy định, cơ quan có
thẩm quyền sau khi xác định có dấu hiệu của tội phạm, chỉ được ra quyết định
khởi tố vụ án hình sự khi có yêu cầu của người bị hại”.
1.1.2. Bản chất của khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại
Người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại là người
chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất trong các vụ
án khởi tố theo yêu cầu của người bị hại là người quyết định việc truy cứu
trách nhiệm hình sự người thực hiện hành vi phạm tội, thông qua quyền yêu
cầu khởi tố vụ án hình sự. Yêu cầu của người bị hại là căn cứ làm phát sinh
việc khởi tố vụ án hình sự. Bên cạnh đó, ý chí của người bị hại cũng là căn cứ
15


để chấm dứt việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội ở một
số giai đoạn tố tụng nhất định nếu việc chấm dứt đó không phải do ép buộc.
Do có vai trò quyết định trong việc đưa người phạm tội ra xử lý hình sự, nên
người bị hại được coi là chủ thể buộc tội trong tố tụng hình sự, nhưng chỉ giới
hạn trong các vụ án khởi tố theo yêu cầu của người bị hại. Như vậy, bản chất
của hoạt động khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại trong tố
tụng hình sự Việt Nam chính là quyền buộc tội của người bị hại trong tố tụng
hình sự.

khởi tố vụ án hình sự đối với một số tội phạm thông qua quyền yêu cầu khởi
tố vụ án hình sự. Đó chính là sự kết hợp giữa quyền tư tố và quyền công tố
trong tố tụng hình sự.
Qua nghiên cứu, tham khảo pháp luật của một số nước, đặc biệt là pháp
luật tố tụng của Liên Xô trước đây, các nhà lập pháp cũng nhận thấy quyền tư
tố của người bị hại được xã hội chấp nhận khi nó ở trong giới hạn nhất định
và không làm ảnh hưởng đến quyền công tố của Nhà nước. Do đó, BLTTHS
năm 1988 đã chính thức ghi nhận chế định khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu
của người bị hại. Chế định này tiếp tục được bổ sung, phát triển trong
BLTTHS năm 2003 và BLTTHS năm 2015, cho thấy sự cần thiết của chế
định khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại trong hệ thống pháp
luật tố tụng hình sự của nước ta.
1.2.2. Đặc điểm của công tố, tư tố và vấn đề khởi tố theo yêu cầu của
người bị hại
Mối quan hệ giữa Nhà nước với cá nhân người phạm tội do chính hành
vi phạm tội phát sinh ra. Bất kỳ Nhà nước nào cũng phải sử dụng quyền công
tố để chống lại những hành vi gây nguy hại đến sự thống trị và những lợi ích
căn bản của giai cấp cầm quyền, đồng thời cũng là để nhân danh xã hội duy
trì trật tự công cộng. Một trong những nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình
sự Việt Nam là nguyên tắc công tố, tức là mọi hành vi phạm tội đều phải chịu
trách nhiệm theo quy định của pháp luật và Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích

17


hợp pháp của công dân bằng Hiến pháp, bằng pháp luật và bằng cơ chế đảm
bảo thực hiện.
Tuy nhiên, trong thực tế không ít những trường hợp tội phạm xảy ra đã
gây thiệt hại cho người bị hại ở một mức độ nhất định không chỉ về lợi ích vật
chất mà cả về tinh thần. Việc khởi tố vụ án hình sự để truy cứu trách nhiệm

1.2.3.1. Chủ thể có quyền yêu cầu khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu
của người bị hại
Quyền yêu cầu khởi tố vụ án hình sự trước hết thuộc về người bị hại,
bởi lẽ họ là người trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do tội
phạm gây ra. Người bị hại tham gia tố tụng hình sự với địa vị pháp lý là người
được Nhà nước bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp bị hành vi phạm tội xâm
hại. Chính vì vậy, quyền yêu cầu khởi tố phải trao cho họ, chỉ khi nào vì lý do
khách quan và theo luật định, họ không thể thực hiện được quyền yêu cầu
khởi tố thì quyền này mới được giao cho người khác thay mặt họ thực hiện.
Theo quy định của pháp luật, trong trường hợp người bị hại là người
dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất, là những trường
hợp người bị hại chưa đủ năng lực hoặc mất năng lực pháp luật, hoặc trường
hợp người bị hại chết thì người đại diện hợp pháp của người bị hại có quyền
yêu cầu khởi tố. Lúc này yêu cầu của người đại diện hợp pháp có giá trị như
yêu cầu của người bị hại. Sở dĩ có quy định này, bởi theo các nhà làm luật,
người dưới 18 tuổi là người chưa có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển
hành vi, do đó họ không nhận biết được đầy đủ quyền làm chủ của mình,
cũng như chưa thể hiện ý thức rõ ràng về những thiệt hại mà hành vi phạm tội
gây ra cho họ. Bởi vậy, đối với người chưa thành niên và người có nhược
điểm về thể chất, tâm thần, nhà làm luật đã hạn chế việc khởi tố vụ án hình sự
theo yêu cầu của người bị hại đối với họ và chỉ chấp nhận khi có yêu cầu của
người đại diện hợp pháp của họ. Người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể
chất ở đây mà do những khuyết tật, bệnh lý, bị tàn phế, thương tật mà dẫn đến
không có khả năng thể hiện được tự do ý chí của mình hoặc không nhận thức
19


được hoặc không điều chỉnh được hành vi, do đó không có khả năng tự thể
hiện yêu cầu và bảo vệ lợi ích của mình trước pháp luật. Người đại diện hợp
pháp của người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm

Như vậy, hậu quả pháp lý đặc trưng của những vụ án mà Cơ quan điều
tra ra quyết định khởi tố theo yêu cầu của người bị hại là vụ án sẽ được giải
quyết theo thủ tục chung và người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của
người bị hại trình bày lời buộc tội tại phiên tòa.
Về thời điểm người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ được
trình bày lời buộc tội tại phiên tòa thì BLTTHS năm 2003 và BLTTHS năm
2015 lại không quy định. Tuy nhiên, theo Mục 1.7 Nghị quyết số
03/2004/NQ-HĐTP ngày 02/10/2004 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC về
Hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất “Những quy định
chung” của BLTTHS năm 2003 thể hiện: “…BLTTHS không quy định cụ thể
người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ trình bày lởi buộc tội tại
phiên tòa vào lúc nào. Tuy nhiên, việc người bị hại hoặc người đại diện hợp
pháp của họ trình bày lời buộc tội tại phiên tòa phải thực hiện theo đúng quy
định chung của BLTTHS về phiên tòa sơ thẩm; do đó, việc người bị hại hoặc
người đại diện hợp pháp của họ trình bày lời buộc tội tại phiên tòa được thực
hiện theo trình tự phát biểu khi tranh luận tại phiên tòa quy định tại Điều 217
của BLTTHS” [20].
Trên cơ sở hướng dẫn của Nghị quyết số 03, ta có thể hiểu người bị hại
hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại trình bày lời buộc tội sau khi
Kiểm sát viên trình bày lời luận tội và bị cáo hoặc người bào chữa của bị cáo
trình bày lời bào chữa.
1.2.4. Các quan hệ pháp luật trong quá trình khởi tố vụ án hình sự
theo yêu cầu của người bị hại
Theo Giáo trình Luật tố tụng hình sự của trường Đại học Luật Hà Nội thì
quan hệ pháp luật tố tụng hình sự là quan hệ do các quy phạm pháp luật tố tụng

21




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status