Quản lý nhà nước về xây dựng từ thực tiễn tỉnh nghệ an - Pdf 49

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐỖ THỊ THU THỦY

QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ XÂY DỰNG
TỪ THỰC TIỄN TỈNH NGHỆ AN
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và luật Hành chính
Mã số

: 60.38.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

PGS. TS. NGUYỄN HOÀNG ANH

HÀ NỘI - 2018


LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi. Các số
liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung
thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất
kỳ công trình khoa học nào khác.
Tác giả luận văn

ĐỖ THỊ THU THỦY

- VPHC: Vi phạm hành chính


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
Số hiệu

Tên bảng biểu, sơ đồ

Trang

Bảng 2.1

Tổng hợp đánh giá đất xây dựng

26

Sơ đồ 2.2

Cơ cấu tổ chức cơ quan quản lý nhà nước về
xây dựng trên địa bàn thành phố Vinh

31

Bảng 2.3

Tổng hợp, thống kê số lượng dự án được phê
duyệt đầu tư và cấp phép xây dự


MӢĈҪU

ÿ truQKӏ
ÿ{
hóa Fy
WK WiF
ӝ
ng trӣlҥ
ÿ
i vҩ
Q
Ӆÿ
WăQJ
WUѭ
ӣng kinh tӃ
. Không nhӳng thӃ
ÿ{WK
ӏhóa còn ҧ
QKKѭ
ӣQJÿ
Ӄ
n các vҩ
Qÿ
Ӆxã

LP{LWUѭ
ӡng, cuӝ
c sӕng cӫ
a các thӃhӋWURQJWѭѫQJODL0
ӛLQăP9L
Ӌ
t Nam

t luұ
n sӕ20-./7:QJj\WKi
2003 vӅmӝt sӕchӫWUѭѫQJSKiWWUL
Ӈ
n kinh tӃ- xã hӝi cӫa tӍ
nh NghӋ$Qÿ
Ӄ
QQăP
2005 và 2010, bao gӗm nhiӋ
m vөxây dӵng thành phӕVinh trӣthành trung tâm

kinh tӃYăQKyDF
ӫa vùng BTB. Ngày WKiQJQăP
ӫWѭ
ӟng Chính
phӫÿmNê4X\
Ӄ
Wÿ
ӏ
nh sӕ4Ĉ
-TTg phê duyӋ
WĈ
ӅiQ³3KiWWUL
Ӈ
n Thành

phӕVinh, tӍ
nh NghӋAn trӣthành trung tâm kinh tӃ
YăQKyDYQJ
BTB´4XD

ch, khoa hӑ
c - công nghӋ
, công nghӋthông
tin, công nghiӋ
p công nghӋcao, y tӃ
YăQKyDWK
Ӈthao, giáo dө
c - ÿjRW
ҥ
R´
Trong nhӳQJQăPTXD
WuQKKuQKÿ
ҫ
XWѭ[k\G
ӵQJWUrQÿ
ӏ
a bàn tӍ
nh phát
triӇ
n mҥ
nh mӁ
, góp phҫ
n tích cӵc vào sӵphát triӇ
n kinh tӃ- xã hӝi cӫa tӍ
nh.
7URQJ
hành
ÿy
phӕ9LQK
W

pháp luật phù hợp, đảm bảo “gốc pháp lý” làm cơ sở và làm như thế nào để
QLNN có hiệu quả đối với lĩnh vực đầu tư xây dựng khu đô thị, khu nhà ở và
chung cư ở thành phố Vinh theo mô hình “đô thị đa cực, sinh thái phi tập trung”
với mục tiêu và yêu cầu phát triển bền vững?
Từ những lý do trên đây, học viên chọn đề tài “Quản lý nhà nước về xây
dựng từ thực tiễn tỉnh Nghệ An”. Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần tăng cường
hiệu lực, hiệu quả của công tác QLNN trong lĩnh vực này trên địa bàn thành phố
Vinh nói riêng và tỉnh Nghệ An nói chung.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Đến thời điểm hiện tại, đã có một số đề tài, luận văn nghiên cứu của các

2


tác giả khác liên quan đến công tác QLNN về xây dựng. Ở đây xin nêu một số
công trình tiêu biểu:
- Luận văn cao học của Nguyễn Thế Anh- Trường Đại học Kinh tế về
“Quản lý dự án đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách trên địa bàn
huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An”
- Luận văn cao học của Phạm Văn Bá-Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
về “Hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng tại huyện Quỳnh Lưu,
tỉnh Nghệ An”.
- Trần Ngọc Chính (2016), Quy hoạch xây dựng thành phố Vinh thành đô
thị hiện đại và đặc sắc miền Trung.
- Nguyễn Đình Chúc (2016), Xây dựng thành phố Vinh thành thành phố
sinh thái.
- Nguyễn Đình Long (2017), Phát triển thành phố Vinh trong kết nối đô
thị nông thôn hiện đại.
- Luận văn cao học của Nguyễn Minh Phương- Trường Đại học Vinh về
“Tăng cường QLNN đối với đầu tư xây dựng trên địa bàn thành phố Vinh, tỉnh


Đánh giá thực tiễn QLNN đối với hoạt động xây dựng khu đô thị,

khu nhà ở và chung cư trên địa bàn thành phố Vinh;
- Đề xuất các biện pháp tăng cường QLNN bằng pháp luật đối
với lĩnh vực xây dựng khu đô thị, khu nhà ở và chung cư trên địa bàn thành
phố Vinh.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
QLNN về xây dựng có nội dung và phạm vi rộng lớn. Trong phạm vi của
luận văn này học viên chỉ nghiên cứu về hoạt động trong lĩnh vực QLNN về xây
dựng khu đô thị, khu nhà ở và chung cư xuất phát từ tầm quan trọng của QLNN
về xây dựng trong lĩnh vực này cũng như thực tiễn phát triển sôi động của hoạt
động đầu tư này trong những năm gần đây.
Phạm vi về không gian: Mặc dù tên đề tài học viên đăng ký là “ Quản lý
nhà nước về xây dựng từ thực tiễn tỉnh Nghệ An”, tuy nhiên trong quá trình
nghiên cứu thực tế, do đặc thù của hoạt động đầu tư trong lĩnh vực xây dựng khu
đô thị, khu nhà ở và chung cư ở tỉnh Nghệ An hầu hết chỉ tập trung trên địa bàn
thành phố Vinh (chiếm hơn 80% của cả tỉnh), hơn nữa các dự án ở các thị xã và
huyện trên địa bàn tỉnh hầu hết triển khai chậm tiến độ hoặc chậm khởi công nên
đã có kiến nghị thu hồi hầu hết dự án. Do vậy, để việc nghiên cứu có trọng tâm
và đi sâu vào thực tế, học viên mạnh dạn giới hạn việc nghiên cứu chỉ tập trung

4


vào vấn đề QLNN về xây dựng trong lĩnh vực xây dựng khu đô thị, khu nhà ở và
chung cư trên địa bàn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.
Phạm vi về thời gian: Luận văn nghiên cứu hoạt động QLNN về xây dựng
khu đô thị, khu nhà ở và chung cư trên địa bàn thành phố Vinh từ năm 2013 đến
năm 2017.

1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của quản lý nhà nước về xây dựng
1.1.1.1. Khái niệm quản lý nhà nước về xây dựng
Quản lý là thuật ngữ được sử dụng khá phổ biến hiện nay và là đối tượng
nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, trong đó có cả tự nhiên và xã hội. Mỗi
ngành khoa học nghiên cứu về quản lý ở góc độ riêng của mình và đưa ra định
nghĩa riêng về quản lý. Trong tiếng Việt, có cách giải thích QLNN là: “Tổ chức,
điều hành các hoạt động kinh tế- xã hội theo pháp luật” [21, tr.504]. Về vấn đề
này, Các Mác đã coi “quản lý là một chức năng đặc biệt nảy sinh từ bản chất xã
hội của quá trình lao động”,[7, tr.29-30]; “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp
hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì đều cần đến
một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức
năng chung... Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một
dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”.[6, tr.480].
Tuy nhiên, quan niệm chung về quản lý do điều khiển học mà ra; theo đó,
“quản lý là sự tác động định hướng bất kỳ lên một hệ thống nào đó nhằm trật tự
hóa nó phát triển phù hợp với những quy luật nhất định”.
Khi nhà nước xuất hiện thì phần lớn (và là phần quan trọng) các công việc
của xã hội do nhà nước quản lý. QLNN được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa rộng và
nghĩa hẹp. QLNN theo nghĩa rộng bao hàm QLNN theo nghĩa hẹp. Cách hiểu
“QLNN theo nghĩa hẹp” chính là nghĩa vốn có của thuật ngữ “QLNN” trong
khoa học Luật hành chính Xã hội chủ nghĩa cũng như ở Việt Nam từ trước đến
nay, cụ thể là:
Theo nghĩa rộng, QLNN là toàn bộ mọi hoạt động của nhà nước nói
chung, mọi hoạt động mang tính chất nhà nước, nhằm thực hiện nhiệm vụ, chức
năng của nhà nước. Nói cách khác, QLNN là hoạt động của nhà nước trên các

6


lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm thực hiện các chức năng đối nội,

7


riêng của nó. Chủ thể quản lý là hệ thống pháp nhân công quyền- thiết chế tổ
chức hành chính nhà nước và khách thể của QLNN là các quá trình xã hội và
hành vi của con người hoặc tổ chức của con người. Trong QLNN, chủ thể và
khách thể quản lý được tách biệt tương đối vì con người vừa là chủ thể vừa là
khách thể của QLNN [18, tr.14].
Trên cơ sở quan niệm chung về QLNN, chúng ta xem xét khái niệm
QLNN về xây dựng.
Lịch sử phát triển ngành xây dựng trên thế giới đã có từ lâu đời. Ngày nay
ngành xây dựng đã phát triển mạnh mẽ nhờ được áp dụng thành quả khoa học,
các loại máy móc, công nghệ xây dựng hiện đại. QLNN về xây dựng đã ra đời
và đồng thời phát triển cùng lịch sử ngành xây dựng; góp phần định hướng và tổ
chức thực hiện các quy hoạch phát triển đô thị- nông thôn; tăng cường chất
lượng công trình; đảm bảo việc sử dụng đất tiết kiệm, có hiệu quả và đúng mục
đích sử dụng; đảm bảo trật tự xây dựng và tuân thủ pháp luật trong hoạt động
xây dựng. Vì vậy, từ khi ngành xây dựng ra đời, công tác quản lý xây dựng đã
hình thành và song song phát triển cho đến ngày nay với tính phức tạp và yêu
cầu ngày càng cao hơn.
Có những cách tiếp cận và diễn đạt khác nhau về QLNN về xây dựng.
Song theo nghĩa thông thường, phổ biến thì đó hoạt động nhà nước đối với các
nội dung của hoạt động xây dựng được thực hiện bởi các cơ quan hành chính
nhà nước có thẩm quyền về QLNN. Mỗi cơ quan có thẩm quyền quản lý phải
thực hiện theo quy định của pháp luật. Ở đây chủ thể QLNN về xây dựng là các
cơ quan trong hệ thống bộ máy hành chính nhà nước có nhiệm vụ, quyền hạn
quản lý về xây dựng theo luật định. Đối tượng của QLNN về xây dựng là các
hoạt động xây dựng nói chung.
Từ những phân tích trên đây, QLNN về xây dựng được hiểu là: QLNN về
xây dựng là quá trình tổ chức, điều hành của cơ quan nhà nước đối với các nội

công, nếu không có phương án, kế hoạch thi công phù hợp sẽ rất dễ làm ảnh
hưởng đến những người xung quanh, ảnh hưởng đến những người xung quanh,
ảnh hưởng đến các quan hệ xã hội. Do đó, QLNN phải chú ý vấn đề này, phải
đặt vấn đề quản lý từng công trình riêng lẻ trong tổng thể chung và trong mối
quan hệ với các vấn đề, sự vật có liên quan.
Đối với QLNN trong hoạt động xây dựng khu đô thị, khu nhà ở và chung
cư, QLNN trong lĩnh vực này lại có các dấu hiệu, đặc điểm riêng nữa:

9


Một là, yêu cầu đầu tiên và quan trọng nhất là phải đảm bảo chủ đầu tư có
quyền sử dụng đất hợp pháp, được cơ quan có thẩm quyền giao đất, cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sơ hữu công trình khi dự án đã đưa vào sử
dụng. Trên cơ sở này, nhà nước tiếp tục cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu căn
hộ, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở đối với người
nhận chuyển nhượng căn hộ chung cư hoặc lô đất (bao gồm đất nền hoặc lô đất
đã xây dựng nhà ở) từ chủ đầu tư.
Hai là, việc xây dựng phải được triển khai theo đúng các phân khu chức
năng quy hoạch chung được duyệt và phải có giấy phép xây dựng sau khi được
chấp thuận chủ trương đầu tư.
Ba là, việc xây dựng phải đảm bảo yêu cầu về tiêu chuẩn, quy chuẩn hiện
hành, kết nối với hệ thống hạ tầng kỹ thuật chung của đô thị. Mỗi công trình là
một bộ phận cấu thành của đô thị, việc khớp nối hệ thống hạ tầng kỹ thuật (bao
gồm; giao thông, thoát nước, cấp điện, cấp nước) đảm bảo tính đồng bộ, sự gắn
kết của công trình đó trong tổng thể quy hoạch phát triển đô thị của địa phương.
Bốn là, phải tuân thủ theo quy hoạch, kiến trúc, trình tự, thủ tục trong đầu
tư xây dựng; chịu trách nhiệm về chất lượng nhà ở đối với người nhận chuyển
nhượng và trước nhà nước theo quy định pháp luật.
1.1.2. Vai trò của QLNN về xây dựng

Mỗi công trình của hoạt động xây dựng được xem là một bộ phận cấu thành gắn
kết trong tổng thể quy hoạch chung của đô thị Vinh.
1.1.3. Các nguyên tắc của QLNN về xây dựng
QLNN về xây dựng phải được thực hiện theo các tư tưởng hay các
nguyên tắc nhất định. Các nguyên tắc này vừa có tính khách quan, vừa có tính
chủ quan, nó là nhân tố đảm bảo tính ổn định và tính hệ thống thống nhất của
quản lý. QLNN về xây dựng phải tuân thủ các nguyên tắc chung về quản lý như
đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng, tập trung dân chủ, pháp chế, dân chủ..., nhưng
cũng có các nguyên tắc đặc trưng sau đây:
Một là, phải đảm bảo xây dựng công trình theo đúng quy hoạch, thiết kế,
đảm bảo mỹ quan công trình, bảo vệ môi trường và cảnh quan chung; phù hợp
với điều kiện tự nhiên, đặc điểm văn hóa, xã hội của từng địa phương; kết hợp
phát triển kinh tế- xã hội với quốc phòng, an ninh.
Hai là, tuân thủ quy chuẩn xây dựng, tiêu chuẩn xây dựng. Bộ quy chuẩn
này góp phần đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ trong áp dụng pháp luật vào

11


QLNN về xây dựng. Tuy nhiên, quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng có thể được cơ
quan có thẩm quyền điều chỉnh, bổ sung, thay đổi tùy theo yêu cầu phát triển
thực tế trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể.
Ba là, phải đảm bảo chất lượng, tiến độ, an toàn công trình, tính mạng con
người và tài sản, phòng chống cháy nổ, vệ sinh môi trường.
Bốn là, bảo đảm xây dựng đồng bộ trong từng công trình, đồng bộ các
công trình hạ tầng kỹ thuật.
Năm là, bảo đảm tiết kiệm, có hiệu quả, chống lãng phí, thất thoát và các
tiêu cực khác trong xây dựng.
1.2. Nội dung quản lý nhà nƣớc về xây dựng
Nội dung QLNN về xây dựng là những công việc mà hoạt động quản lý

quản lý đầu tư kinh doanh, có những văn bản mang tính kỹ thuật như quy chuẩn,
tiêu chuẩn xây dựng... Trong năm 2018, dự kiến Quốc hội sẽ thông qua ba dự án
luật quan trọng về xây dựng, đông thời Bộ xây dựng tổ chức triển khai Đề án hoàn
thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng.
Thứ ba, tổ chức bộ máy QLNN về xây dựng trong cả nước. Bộ máy
QLNN về xây dựng có vị trí đặc biệt quan trọng trong hoạt động QLNN về xây
dựng nhằm hiện thực hóa trên thực tiễn các chủ trương, chính sách, pháp luật
của Đảng và nhà nước ta về xây dựng. Toàn bộ hoạt động của bộ máy này sẽ
được tiến hành trên cơ sở các quy định của pháp luật đã ban hành về QLNN về
xây dựng. Bộ máy này được bố trí ở các bộ, ngành và địa phương, từ Trung
ương đến địa phương, từ các cơ quan cấp trên đến các cơ quan cấp dưới và hoạt
động đồng bộ, thống nhất theo các quy định chung trong phạm vi cả nước.
Trong đó, tham gia công tác quản lý xây dựng gồm có bộ máy của Chính phủ,
các Bộ, ngành, các địa phương từ tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đến các
quận, huyện, phường xã.
Thứ tư, quản lý chất lượng, lưu trữ hồ sơ công trình xây dựng, giám sát
chất lượng thiết kế và xây dựng. Hoạt động QLNN về xây dựng nói chung, đặc
biệt đối với xây dựng khu đô thị, khu nhà ở và chung cư không thể thiếu nội
dung này. Trước hết là hoạt động quản lý chất lượng xây dựng, nhà nước- thông
qua các biện pháp giám sát, thanh kiểm tra theo phân cấp- nhằm đảm bảo cho
chất lượng các công trình được đáp ứng theo yêu cầu thiết kế tiêu chuẩn, quy
chuẩn kỹ thuật. Các hoạt động thiết kế và nhất là thi công công trình luôn chứa
đựng nhiều yếu tố rủi ro, có thể gây thiệt hại lớn về người và tài sản. Do vậy,

13


trong hoạt động QLNN về xây dựng, nhà nước cũng luôn có các biện pháp giám
sát, can thiệp nhằm bảo đảm việc tuân thủ thực hiện pháp luật của các tổ chức,
cá nhân có liên quan. Ngoài ra, do tính chất phức tạp của hoạt động xây dựng,


ngăn chặn và xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền
xử lý các vi phạm pháp luật về xây dựng; xác minh, kiến nghị cơ quan nhà nước
có thẩm quyền xử lý khiếu nại, tố cáo về xây dựng [23, tr.48]. Để thực hiện các
nhiệm vụ trên, thanh tra xây dựng có các quyền: Yêu cầu tổ chức, cá nhân có
liên quan cung cấp tài liệu và giải trình những vấn đề cần thiết; Yêu cầu giám
định những nội dung có liên quan đến chất lượng công trình trong trường hợp
cần thiết; Áp dụng các biện pháp ngăn chặn theo quy định của pháp luật; Lập
Biên bản thanh tra, xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị với cơ quan nhà nước
có thẩm quyền thực hiện các biện pháp xử lý cần thiết và áp dụng biện pháp
ngăn chặn theo quy định pháp luật.
Ngoài ra, luật xây dựng và các văn bản liên quan công nhận cá nhân hoạt
động xây dựng có quyền khiếu nại, tố cáo; cá nhân, tổ chức hoạt động xây dựng
có quyền khiếu nại với cơ quan QLNN có thẩm quyền đối với những quyết định
hành chính, hành vi vi phạm pháp luật xây dựng của bất kỳ đối tượng nào.
Cơ quan QLNN có thẩm quyền về xây dựng, các cấp có trách nhiệm giải
quyết khiếu nại, tố cáo của các cá nhân, tổ chức thuộc thẩm quyền của mình
theo luật định.
Thủ tục tiến hành khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo được thực
hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nai, tố cáo.
Thứ bảy, quản lý sử dụng tài nguyên thiên nhiên về xây dựng; các công
trình hạ tầng kỹ thuật đô thị và nông thôn. Đây được xem là công cụ điều hành
vĩ mô “cũ mà mới” của nhà nước ta. Tương tự như các quốc gia khác trên thế
giới, vấn đề này đã được tích hợp vào trong chiến lược, quy hoạch phát triển
kinh tế xã hội. Đơn cử, trong các nguồn tài nguyên thiên nhiên mà ngành xây
dựng sử dụng nhiều nhất là đất đai. Vấn đề đặt ra trong hoạt động QLNN về xây
dựng là làm sao sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả? Tốc độ đô thị hóa sẽ ảnh hưởng
và hệ lụy thế nào đến quỹ đất nông nghiệp và các quỹ đất khác…?
Thứ tám, tổ chức nghiên cứu khoa học và công nghệ trong hoạt động xây
dựng. Trong bối cảnh khoa hoc và công nghệ phát triển như vũ bão với nhiều

dựng 2014.
Như vậy, đào tạo nguồn nhân lực cho hoạt động xây dựng và hợp tác quốc
tế trong lĩnh vực này là một trong những nội dung quan trọng, đáp ứng yêu cầu
bức thiết của thực tế và phù hợp với xu thể hội nhập hóa, toàn cầu hóa hiện nay
của các nước trên thế giới.

16


Các mặt QLNN trên đây có quan hệ mật thiết, tác động qua lại với nhau.
Chúng là hệ thống có tính chất đồng bộ, phản ánh các yêu cầu nội tại của quản
lý khoa học và các mối quan hệ khác. Hiệu lực, hiệu quả QLNN đối với nội
dung này có tác động trực tiếp theo hướng tích cực hoặc tiêu cực đối với những
nội dung khác của QLNN về xây dựng.
1.3. Các yếu tố tác động đến quản lý nhà nƣớc về xây dựng
1.3.1. Hệ thống pháp luật về quản lý xây dựng
QLNN bằng pháp luật là một trong những nguyên tắc của nhà nước Pháp
quyền xã hội chủ nghĩa, là hình thức biểu hiện của thể chế QLNN về xây dựng.
Thể chế QLNN về xây dựng đầy đủ, thống nhất, phù hợp với tình hình thực tiễn
thì đảm bảo cho hoạt động QLNN về xây dựng có hiệu quả và ngược lại. Bởi
vậy ở nước ta, ngay từ các triều vua phong kiến đã sớm ban hành những quy
định pháp luật nhằm phục vụ cho quản lý xây dựng, thể hiện trong Bộ luật Hồng
Đức cũng như Bộ luật Gia Long...[2, tr.407]
Những năm gần đây, hệ thống pháp luật về xây dựng ngày càng được chú
trọng hơn cả về số lượng và chất lượng để đáp ứng tốt hơn các yêu cầu của
QLNN về xây dựng. Các hình thức biểu hiện của hệ thống thể chế quản lý về
xây dựng bao gồm các loại chủ yếu sau: Luật (hoặc Pháp lệnh); Nghị định của
Chính phủ; Thông tư hoặc Thông tư liên tịch quy định chi tiết và hướng dẫn việc
thực hiện. Ngoài ra, còn có các quyết định, chỉ thị và các văn bản hành chính
thông thường của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Hội đồng nhân dân và UBND các

của pháp luật.
1.3.3. Vai trò lãnh đạo của Đảng trong lĩnh vực quản lý xây dựng
Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa Việt Nam là hệ thống chính trị nhất
nguyên, trong đó chỉ tồn tại một đảng là Đảng Cộng Sản Việt Nam- lực lượng
duy nhất lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đảng Cộng Sản Việt Nam là Đảng cầm
quyền, giữ vai trò lãnh đạo toàn dân, toàn diện bao gồm chính trị, kinh tế- xã
hội, an ninh, quốc phòng, ngoại giao. Sự lãnh đạo của Đảng là một trong những
nhân tố hàng đầu đảm bảo sự thắng lợi của sự nghiệp cách mạng nói chung và
định hướng, chỉ đạo cho công tác quản lý xây dựng ngày càng tốt hơn nói riêng.
Những chủ trương lớn trong Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng về xây dựng là cơ sở
định hướng chiến lược đề nhà nước cụ thể hóa thành các văn bản luật, chính
sách, kế hoạch trong quá trình tổ chức thực hiện. Đơn cử như nội dung Nghị
quyết của Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Vinh về việc phấn đấu hoàn thành

18


các tiêu chí xây dựng đô thị loại I vào năm 2008 là chủ trương lớn, tác động trực
tiếp đến yêu cầu đối với QLNN về xây dựng trên địa bàn. Nếu không có chủ
trương này của Đảng bộ thành phố thì công tác QLNN về xây dựng trên địa bàn
thành phố cũng tương tự như các địa phương khác, không có các yêu cầu và đặc
thù riêng trong công tác QLNN.
1.3.4. Ý thức pháp luật của người dân
Hiệu lực, hiệu quả QLNN nói chung, về xây dựng nói riêng luôn đi đôi
với trình độ dân trí, ý thức pháp luật của người dân và thường có mối quan hệ
theo tỷ lệ thuận với nhau. Nếu đại bộ phận người dân có ý thức pháp luật tốt,
nắm bắt đầy đủ các quy phạm pháp luật có liên quan và hưởng ứng thực hiện,
chấp hành nghiêm pháp luật thì hiệu lực hiệu quả QLNN sẽ được nâng cao và
ngược lại. Khi công dân hiểu biết pháp luật thì sẽ tự bảo vệ tốt hơn quyền và
nghĩa vụ của mình; đồng thời tích cực tham gia vào các quá trình QLNN, tham

lực, là điều kiện và phương tiện phục vụ cho sự vận hành của các cơ quan hành
chính nhà nước; sự thực thi nhiệm vụ, công vụ của đội ngũ công chức. Việc đảm
bảo nguồn lực tài chính và cơ sở vật chất sẽ giúp công tác QLNN về xây dựng
đạt kết quả cao hơn, nâng cao tính khả thi của các quyết định hành chính trong
thực tiễn. Điều này được thể hiện rất rõ trong việc hiện thực hóa các chủ trương,
chính sách, quy hoạch, kế hoạch xây dựng của nước ta và từng địa phương trong
thời gian qua. Đơn cử như tình trạng quy hoạch, dự án xây dựng “treo”, chậm
triển khai thực hiện do thiếu nguồn lực tài chính diễn ra khá phổ biến ở nhiều
địa phương, gây lãng phí nguồn tài nguyên thiên nhiên, làm chậm cơ hội đầu tư
phát triển và xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người dân sống trong
vùng quy hoạch. Từ đó, giải pháp cho vấn đề giải quyết chỗ ở cho người dân
trong vùng quy hoạch “treo” đã trở thành đề tài được bản thảo với nhiều ý kiến
đa chiều. Điều này càng cho thấy sự ảnh hưởng to lớn của nguồn lực tài chính và
cơ sở vật chất đến QLNN về xây dựng.
Mặt khác, sự đảm bảo của Nhà nước về tiền lương, thưởng, chế độ bảo
hiểm xã hội... là động lực thu hút những tài năng trong xã hội tham gia hoạt
động quản lý xây dựng, hạn chế tình trạng chảy máu chất xám ra khỏi cơ quan
nhà nước. Tuy nhiên, bên cạnh những ảnh hưởng tích cực thì tài chính và cơ sở
vật chất cũng có những ảnh hưởng tiêu cực nhất định đến quản lý xây dựng nếu
không được quản lý chặt chẽ, đúng luật, bảo đảm công khai, minh bạch, hướng
tới mục đích phục vụ lợi ích nhân dân và xã hội. Bởi lẽ thực tế đã cho thấy, xây

20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status