VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VŨ DUY MINH
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG
ĐẦU TƯ XÂY DỰNG KẾT CẤU HẠ TẦNG
GIAO THÔNG TẠI HÀ NỘI
Ngành: Quản lý kinh tế
Mã số : 8340410
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. Nguyễn Trọng Xuân
HÀ NỘI, 2018
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả nêu trong luận văn là trung thực. Những giải pháp và kết luận khoa học của
luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào.
Hà Nội, ngày
tháng
TÁC GIẢ
3.1 Bối cảnh và nhu cầu hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư
xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông tại Hà Nội .................................................................... 47
3.2 Phương hướng hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư xây
dựng kết cấu hạ tầng giao thông tại Hà Nội giai đoạn 2017 - 2020 tầm nhìn 2030 .............. 52
3.3 Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư xây dựng kết
cấu hạ tầng giao thông tại Hà Nội.......................................................................................... 54
KẾT LUẬN ........................................................................................................................... 64
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Kết cấu hạ tầng phát triển là điều kiện tiền đề quan trọng để thúc đẩy phát
triển kinh tế-xã hội. Hiện nay, nước ta đang thực hiện quá trình chuyển đổi mô hình
tăng trưởng, tái cấu trúc nền kinh tế nên việc xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng
đồng bộ, hiện đại sẽ là yếu tố quan trọng thúc đẩy quá trình cơ cấu lại nền kinh tế,
nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Hà Nội với vai trò là trung tâm chính trị, kinh tế văn hoá, xã hội của cả nước,
có ý nghĩa thúc đẩy nền kinh tế quốc gia. Trong những năm gần đây, Hà Nội đang
trên đà phát triển mạnh mẽ, thu hút hàng trăm nghìn lao động tại các địa phương.
Thủ đô của Việt Nam, vốn được coi là “thành phố phát triển nhanh của thế giới”
đang phải đối mặt với một vấn đề cấp bách đó là quản lý đầu tư xây dựng KCHTGT
một cách hiệu quả. Hàng năm, chính quyền thành phố đã phải tiêu tốn hàng trăm tỷ
đồng cho công tác tu sửa, nâng cấp, xây mới. Tuy nhiên, việc đầu tư vào lĩnh vực
này đối mặt với không ít bất cập. Điển hình là hiệu quả đầu tư thấp, công tác quản
lý vốn đã và đang bộc lộ hạn chế nhiều mặt, từ khâu quy hoạch, kế hoạch, dự toán,
bố trí nguồn vốn đến việc xác lập cơ chế, thực hiện chính sách, triển khai quản lý,
điều hành, kiểm tra, kiểm soát, quyết toán... Chính vì vậy, yêu cầu đặt ra là làm thế
nào để nâng cao hiệu quả đầu tư, nâng cao chất lượng quản lý đối với hoạt động đầu
tư xây dựng KCHTGT, để khắc phục những hạn chế đang diễn ra, tạo điều kiện
thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội.
giả nhận thấy rằng chưa có công trình nghiên cứu nào đi sâu nghiên cứu vào một
vùng cụ thể, khái quát tổng quan các vấn đề để góp phần đưa ra giải pháp tối ưu giải
quyết các vấn đề nhức nhối về việc QLNN trong đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng
như Hà Nội.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận chung về QLNN đối với hoạt động đầu tư xây
dựng KCHTGT, phân tích thực trạng chính sách QLNN đối với hoạt động đầu tư
xây dựng KCHTGT tại Hà Nội để từ đó đề ra những giải pháp nhằm nâng cao vai
trò QLNN đối với hoạt động đầu tư xây dựng KCHTGT trên địa bàn Hà Nội.
2
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: “Quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư xây
dựng kết cấu hạ tầng giao thông tại Hà Nội”.
Phạm vi nghiên cứu:
Về không gian: Luận văn giới hạn nghiên cứu hệ thống KCHTGT trên địa
bàn thành phố Hà Nội trong mối liên quan đến hệ thống KCHTGT toàn quốc nhằm
đề ra những giải pháp có tính gắn kết và khả thi.
Về thời gian: Luận văn tập trung phân tích, đánh giá thực trạng quản lý trong
khoảng thời gian từ 2010 - 2016 và đề xuất những giải pháp đến năm 2020, tầm
nhìn 2030.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp thống kê, phân tích và tổng hợp… đồng thời
tiếp thu, kế thừa có chọn lọc kết quả nghiên cứu của một số công trình nghiên cứu
liên quan đã được công bố.
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu: Phương pháp thu thập dữ liệu
và thống kê kinh tế; Phương pháp phân tích -tổng hợp; Phương pháp so sánh,
Phương pháp dự báo.
phụ trợ khác phục vụ cho vận tải hàng hoá, hành khách và sự đi lại của nhân dân
một cách an toàn, thuận tiện, nhanh chóng. Hệ thống KCHTGT được phân làm 5
chuyên ngành: Đường bộ; Đường sắt; Đường thủy nội địa; Hàng hải; Hàng không.
Đặc trưng của KCHTGT là có tính thống nhất và đồng bộ, giữa các bộ phận
có sự gắn kết hài hoà với nhau tạo thành một thể vững chắc đảm bảo cho phép phát
huy được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống. Các công trình KCHTGT có quy mô
lớn và chủ yếu ở ngoài trời, bố trí rải rác trên phạm vi cả nước, chịu ảnh hưởng
nhiều của tự nhiên.
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của hoạt động đầu tư xây dựng kết cấu hạ
tầng giao thông
Khái niệm hoạt động đầu tư
Hoạt động đầu tư theo nghĩa rộng có nghĩa là sự hy sinh các nguồn lực ở
hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm đem lại cho nhà đầu tư các kết quả
nhất định trong tương lai mà kết quả này thường phải lớn hơn các chi phí về các
nguồn lực đã bỏ ra. Sự biểu hiện bằng tiền với tất cả các nguồn lực đã bỏ ra gọi là
vốn đầu tư. Trong các kết quả đạt được có thể là tài sản vật chất, tài sản trí tuệ,
nguồn nhân lực tăng thêm... Các kết quả đã đạt được của đầu tư đem lại góp phần
tăng thêm năng lực sản xuất của xã hội.
Như vậy, nếu xem xét trên góc độ đầu tư thì đầu tư là những hoạt động sử
dụng các nguồn lực hiện có để làm tăng thêm các tài sản vật chất, nguồn nhân lực
và trí tuệ để cải thiện mức sống của dân cư hoặc để duy trì khả năng hoạt động của
các tài sản và nguồn lực sẵn có.
4
Đặc điểm của hoạt động đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông
Một là, hoạt động đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông luôn đòi hỏi
một lượng vốn lớn và nằm đọng lại trong suốt quá trình thực hiện đầu tư. Vòng
quay của nguồn vốn đầu tư rất dài, chi phí sử dụng vốn là cái giá phải trả cho hoạt
kiện tự nhiên, kinh tế, pháp luật...
Vai trò của hoạt động đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông
Giao thông nói chung là sản phẩm của quá trình sản xuất hàng hoá, ngược
lại giao thông lại là điều kiện để sản xuất hàng hoá phát triển. Do đó, giữa yêu cầu
phát triển của giao thông và sản xuất hàng hoá thì giao thông phải được xây dựng và
phát triển trước so với sản xuất hàng hoá. Song để phát triển nhanh giao thông trước
hết phải đầu tư xây dựng và củng cố KCHTGT.
KCHTGT vận tải có vai trò nền móng là tiền đề vật chất hết sức quan trọng
cho mọi hoạt động vận chuyển, lưu thông hàng hoá. Nếu không có một hệ thống
đường giao thông đầy đủ, đảm bảo tiêu chuẩn thì các phương tiện vận tải sẽ không
thể hoạt động tốt. Vì vậy chất lượng của các công trình hạ tầng giao thông là điều
kiện tiên quyết ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động vận tải nói riêng và ảnh hưởng
đến sự phát triển của nền sản xuất kinh tế- xã hội nói chung. Một xã hội ngày càng
phát triển thì nhu cầu vận tải ngày càng tăng đòi hỏi cơ sở hạ tầng giao thông phải
được đầu tư thích đáng cả về lượng lẫn về chất.
Đầu tư xây dựng mạng lưới giao thông vững mạnh là cơ sở nền tảng đảm
bảo sự phát triển bền vững cho cả một hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế- xã hội của
một quốc gia. Cơ sở hạ tầng giao thông vận tải là một bộ phận quan trọng cấu thành
nên kết cấu hạ tầng của một nền kinh tế, góp phần tạo mối liên kết hữu cơ giữa các
ngành, các lĩnh vực kinh tế- xã hội. Nhờ đó thúc đẩy quá trình phát triển sản xuất
hàng hoá và lưu thông hàng hoá giữa các vùng trong cả nước. Đồng thời, đó là xu
thế tất yếu của một xã hội đang phát triển với tốc độ đô thị hoá cao.
1.1.3 Các hình thức huy động, đặc điểm nguồn vốn đầu tư xây dựng KCHTGT
Nguồn vốn đầu tư
Tổng vốn đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông được hình thành từ 5 nguồn đó
là: Vốn ngân sách nhà nước (bao gồm của nguồn vốn vay ODA, vốn viện trợ, tài
trợ); Vốn tín dụng đầu tư; Vốn do các doanh nghiệp nhà nước đầu tư; Vốn đầu tư
trong dân cư và tư nhân; Vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài.
6
7
Ba là, vốn đầu tư trong xây dựng KCHTGT thường đầu tư theo các dự án
phát triển và được huy động từ nhiều nguồn. Tuy nhiên, nguồn vốn đầu tư cho phát
triển KCHTGT chủ yếu dựa vào NSNN do mức độ rủi ro cao, thời gian thu hồi vốn
dài, hiệu quả thấp nên khó thu hút các nguồn vốn tư nhân.
Bốn là, hiệu quả vốn đầu tư xây dựng KCHTGT là hiệu quả kinh tế- xã hội
tổng hợp. KCHTGT là sản phẩm công ích và là tài sản do nhà nước quản lý nên
việc tính toán hiệu quả của vốn đầu tư cần được xét đến hiệu quả kinh tế xã hội mà
vốn đầu tư đó mang lại.
1.2 Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư xây dựng kết
cấu hạ tầng giao thông
1.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư xây dựng kết cấu hạ
tầng giao thông
Quản lý là sự tác động lên một hệ thống nào đó với mục tiêu đưa hệ thống đó
đến trạng thái cần đạt được. Quản lý là một phạm trù xuất hiện trước khi có Nhà
nước với tính chất là một loại lao động xã hội hay lao động chung được thực hiện ở
quy mô lớn. Quản lý được phát sinh từ lao động, không tách rời với lao động và bản
thân quản lý cũng là một loại hoạt động lao động.
Là một phạm trù gắn liền với sự xuất hiện của Nhà nước, QLNN ra đời với
tính chất là loại hoạt động quản lý xã hội. QLNN, hiểu theo nghĩa rộng, được thực
hiện bởi tất cả các cơ quan nhà nước. Theo nghĩa hẹp, QLNN là hoạt động chấp
hành và điều hành được đặc trưng bởi các yếu tố có tính tổ chức; được thực hiện
trên cơ sở và để thi hành pháp luật; được bảo đảm thực hiện chủ yếu bởi hệ thống
các cơ quan hành chính nhà nước. QLNN cũng là sản phẩm của việc phân công lao
động nhằm liên kết và phối hợp các đối tượng bị quản lý.
QLNN về hoạt động đầu tư xây dựng KCHTGT có thể hiểu là sự tác động
liên tục có tổ chức, có định hướng tới quá trình sử dụng vốn đầu tư xây dựng
KCHTGT thông qua các cơ chế, chính sách của nhà nước và các biện pháp tổ chức
Rà soát, điều chỉnh, bổ sung chức năng nhiệm vụ của Vụ KCHTGT với các
cơ quan, đơn vị có liên quan nhằm phát huy hiệu quả trong việc tổ chức quản lý,
khai thác và bảo trì KCHTGT.
9
1.2.3 Nội dung của quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư xây dựng kết cấu
hạ tầng giao thông
QLNN đối với hoạt động đầu tư xây dựng KCHTGT là một hoạt động tổng
thể, bao gồm từ khâu lập kế hoạch, tổ chức huy động, phân bổ, thanh quyết toán và
kiểm tra, kiểm soát vốn đầu tư xây dựng KCHTGT cụ thể như sau:
QLNN trong lập quy hoạch, kế hoạch đối với đầu tư phát triển KCHTGT
Định kỳ rà soát điều chỉnh, bổ sung các chiến lược, quy hoạch phát triển
ngành, chuyên ngành, quy hoạch theo vùng, lãnh thổ đáp ứng nhu cầu phát triển
kinh tế - xã hội của cả nước, vùng, địa phương và loại bỏ các dự án treo.
Tăng cường kiểm tra, giám sát thực hiện chiến lược, quy hoạch đảm bảo tính
công khai minh bạch và nâng cao tính khả thi của quy hoạch.
Tăng cường sự phối kết hợp giữa các bộ ngành, các địa phương trong lập,
quản lý và thực hiện quy hoạch.
QLNN đối với hoạt động đầu tư xây dựng KCHTGT
Đẩy mạnh các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng trong đầu tư
xây dựng các công trình giao thông:
Chấn chỉnh nâng cao năng lực của các chủ đầu tư, ban quản lý dự án, các tổ
chức tư vấn thiết kế, giám sát, rà soát để loại bỏ ngay các nhà thầu có năng lực yếu
kém ra khỏi các dự án của ngành.
Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, xử lý ngay những vấn đề vướng mắc
liên quan đến tiến độ và chất lượng công trình, xử lý kịp thời những tồn tại về chất
lượng, sự cố công trình; nghiêm khắc xử lý trách nhiệm của tập thể, cá nhân có liên
quan; tiếp tục đẩy mạnh công tác chống tham nhũng trong đầu tư xây dựng.
có sự tham gia của các cơ quan thanh tra chuyên ngành như thanh tra tài chính,
thanh tra xây dựng, thanh tra giao thông… nhằm ngăn ngừa các sai phạm, kịp thời
phát hiện và xử lý các sai phạm.
Rà soát điều chỉnh, bổ sung hoặc xây dựng mới các quy hoạch, kế hoạch đầu
tư. Gắn quy hoạch với mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, chuyển dịch cơ
cấu kinh tế, bảo đảm tính liên ngành, liên vùng. Phân cấp, phân định rõ quyền hạn và
11
trách nhiệm của từng Bộ, giữa các Bộ, giữa Bộ với tỉnh, thành phố; xác định rõ và
nâng cao trách nhiệm quản lý, điều hành của Bộ trưởng đối với toàn ngành, của chủ
đầu tư. Ngăn chặn kịp thời và xử lý nghiêm những trường hợp không chấp hành đúng
quy định của pháp luật, quyết định của cơ quan có thẩm quyền, của cấp trên.
1.2.4 Nhân tố ảnh hưởng tới quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư xây
dựng kết cấu hạ tầng giao thông
Điều kiện tự nhiên
Các công trình xây dựng KCHTGT thường được tiến hành ngoài trời. Do đó
nó chịu ảnh hưởng của điều kiện khí hậu. Bên cạnh đó, ở mỗi vùng, mỗi lãnh thổ có
điều kiện tự nhiên khác nhau, do vậy cần phải có những thiết kế, kiến trúc phù hợp
với điều kiện tự nhiên ở nơi xây dựng công trình.
Điều kiện kinh tế – xã hội
QLNN về đầu tư xây dựng KCHTGT chịu ảnh hưởng bởi điều kiện kinh tế
xã hội. Với môi trường kinh tế ổn định, vốn đầu tư sẽ được cung cấp đầy đủ, đúng
tiến độ. Ngược lại nền kinh tế mất ổn định, mức tăng trưởng kinh tế chậm Nhà nước
sẽ thắt chặt tín dụng để kìm chế lạm phát, các dự án sẽ bị điều chỉnh cơ cấu vốn đầu
tư. Lạm phát cũng làm cho giá cả nguyên vật liệu tăng, làm chi phí công trình tăng
điều này có thể hoãn thực hiện dự án vì không đủ vốn đầu tư để thực hiện. Vì vậy,
có thể nói các yếu tố về kinh tế – xã hội có ảnh hưởng không nhỏ đến việc QLNN
về hoạt động đầu tư xây dựng KCHTGT.
cơ quan này có sự phối hợp chặt chẽ với nhau trong các hoạt động quản lý nhằm
giải quyết những vấn đề xảy ra trong quá trình thực hiện.
Vấn đề công tác cán bộ là cốt lõi trong bộ máy quản lý. Một bộ máy quản lý
tốt là bộ máy có đội ngũ cán bộ có đủ năng lực, trình độ chuyên môn, phẩm chất
đạo đức. Bộ máy quản lý tốt sẽ làm giảm tham nhũng, thất thoát lãng phí và tăng
hiệu quả công trình.
Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển KCHTGT của thành phố
Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển KCHTGT là căn cứ để kế hoạch
đầu tư xây dựng KCHTGT như nhu cầu về vốn, nguồn vốn, các giải pháp huy động
13
vốn... được xây dựng và phê duyệt. Do đó, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát
triển giao thông phải được nghiên cứu cẩn thận, có tầm nhìn xa, được xây dựng chi
tiết, cụ thể sẽ giúp cho công tác lập kế hoạch vốn thuận lợi, việc sử dụng vốn đầu tư
cho các công trình giao thông đem lại kết quả cao, đáp ứng yêu cầu phát triển của
thành phố.
1.2.5 Tiêu chí đánh giá về quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư xây dựng
kết cấu hạ tầng giao thông
Đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội
Giao thông vận tải là một bộ phận quan trọng trong kết cấu hạ tầng kinh tế - xã
hội, một trong ba khâu đột phá, cần ưu tiên đầu tư phát triển đi trước một bước với
tốc độ nhanh, bền vững nhằm tạo tiền đề cho phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc
phòng, an ninh, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.
Phát huy tối đa lợi thế về vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên để phát triển hệ
thống giao thông vận tải hợp lý, tiết kiệm chi phí xã hội.
Phù hợp với quy hoạch
Xem xét lập quy hoạch dự án có đúng với nhiệm vụ quy hoạch đã được phê
duyệt và có phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế- xã hội của vùng, quy
Công trình khi được nghiệm thu để đa vào sử dụng phải đáp ứng yêu cầu của
thiết kế, quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn kỹ thuật áp dụng cho công trình và các thỏa
thuận khác về chất lượng công trình nêu trong hợp đồng xây dựng.
Cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm tra, kiểm soát việc tuân thủ các quy
định pháp Luật về quản lý chất lượng công trình xây dựng của các tổ chức, cá nhân;
kiến nghị và xử lý các vi phạm về chất lượng công trình xây dựng theo quy định của
pháp luật.
-Thời gian hoàn thành dự án
Thời gian hoàn thành dự án bao gồm thời gian hoàn thành các công việc từ
khâu chuẩn bị đầu tư đến thực hiện đầu tư và hoàn thành dự án. Mỗi công đoạn đều
có kế hoạch và tiến độ cụ thể. Vì vậy để đánh giá tiêu chí này ta chỉ cần so sánh thời
gian thực hiện thực tế các công việc của dự án với thời gian theo kế hoạch đề ra.
15
Vấn đề quan trọng ở từng khâu quản lý dự án là thực hiện công tác kiểm tra,
giám sát và đề xuất các biện pháp điều chỉnh kịp thời làm sao có thể rút ngắn được
thời gian các công việc đó.
- Chi phí đầu tư
Quản lý chi phí trong hoạt động đầu tư hạ tầng giao thông từ nguồn vốn
NSNN là một nhiệm vụ rất quan trọng với mục tiêu cuối cùng là đầu tư xây dựng
được công trình đảm bảo các yêu cầu về chất lượng, sử dụng đúng mục đích với
mức chi phí tiết kiệm nhất. Do vậy ngay trong khâu lập, thẩm định, phê duyệt dự án
đầu tư, nhà quản lý phải kiểm tra, rà soát kỹ hồ sơ để xác định tổng mức đầu tư, dự
toán đảm bảo tính đúng, tính đủ các khoản mục chi phí, loại bỏ các phát sinh có thể
xảy ra trong giai đoạn thực hiện dự án.
Khi tiến hành thực hiện dự án thì chi phí để chi trả cho các công việc đề ra
thường thấp hơn hoặc cao hơn so với giá trị dự toán được duyệt đó. Mục tiêu của
nhà quản lý dự án là làm sao cho chi phí chi trả cho các công việc thực hiện đó phải
Luật hay không.
Đánh giá việc sử dụng nguồn vốn có phù hợp với mục đích, khối lượng hoàn
thành của dự án hay không.
Quản lý và đánh giá các chi phí chi trả cho các công việc trong dự án có phù
hợp và nằm trong giới hạn cho phép của tổng mức đầu tư và dự toán được phê duyệt
cho công trình.
Quản lý và giám sát việc sử dụng nguồn vốn tạm ứng, thanh toán của dự án
cho các đơn vị thực hiện dự án có được sử dụng đúng cho dự án này không, đặc biệt
là nguồn vốn tạm ứng.
Đánh giá hiệu quả tiết kiệm vốn đầu tư sau khi kết thúc dự án trong tất cả các
khâu từ lập dự án đầu tư, đấu thầu và thanh toán, quyết toán vốn đầu tư.
Rút ra bài học kinh nghiệm để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư cho các
dự án tiếp theo.
-Hiệu quả xã hội của dự án
Các công trình hạ tầng giao thông mang tính hiệu quả lâu dài, tác động đến
xã hội trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng, văn hóa xã hội...
17
của địa phương do vậy việc đánh giá hiệu quả xã hội của dự án cần thực hiện liên
tục trong quá trình chuẩn bị, thực hiện, kết thúc dự án và đặc biệt là giai đoạn khai
thác sử dụng công trình, một số chỉ tiêu chính để đánh giá sau:
Đánh giá mức độ ảnh hưởng của dự án đến các mặt đời sống của xã hội về
những ảnh hưởng tích cực và ảnh hưởng tiêu cực mà dự án mang lại cho xã hội.
Trong quá trình khai thác, sử dụng công trình, theo định kỳ tiến hành thu
thập, điều tra để tổng hợp hiệu quả mà dự án mang lại trên tất cả các mặt của xã hội
để có biện pháp phát huy những tác động tích cực và hạn chế, giảm thiểu các tác
động tiêu cực.
1.3 Kinh nghiệm và bài học rút ra về quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu
tư xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông từ một số địa phương
tư, Vĩnh Phúc xác định một trong những yếu tố níu chân được các nhà đầu tư là
phải đầu tư nâng cấp hệ thống hạ tầng giao thông đồng bộ. Do đó, trong kế hoạch
đầu tư công, tỉnh luôn ưu tiên, dành nguồn lực cho đầu tư phát triển lĩnh vực giao
thông vận tải. Cụ thể, năm 2017, tỉnh đã dành 825/1.200 tỷ đồng vốn đầu tư công
trình trọng điểm cho lĩnh vực này.
Sở Giao thông Vận tải đã và đang tiếp tục hoàn thiện Quy hoạch phát triển
giao thông vận tải tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050 theo
hướng đồng bộ, hiện đại để làm căn cứ triển khai đầu tư xây dựng hạ tầng giao
thông toàn tỉnh.
Cùng với tranh thủ tối đa vốn đầu tư từ ngân sách Trung ương, ngân sách
tỉnh, ngành Giao thông Vận tải tham mưu UBND tỉnh tục ban hành các cơ chế,
chính sách khuyến khích, thu hút các nhà đầu tư vào lĩnh vực giao thông vận tải
theo hình thức: BOT, PPP, BTO, BT được thể hiện ở các văn bản như: Quy hoạch
phát triển giao thông vận tải tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 1997-2010; Quy hoạch điều
chỉnh phát triển giao thông vận tải đường bộ giai đoạn 2003-2010 và định hướng
đến năm 2020… Các hình thức này góp phần phát huy hiệu quả, tạo ra các công
trình hạ tầng giao thông, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế cho địa phương, vùng
và cả nước giúp công trình sớm được đưa vào khai thác, sử dụng, phát huy hiệu quả,
19
tận dụng được nguồn lực từ xã hội, giảm áp lực vốn đầu tư bằng ngân sách Nhà
nước. Tránh gây tốn kém chi phí quản lý, bảo trì, bảo dưỡng công trình.
- Kết quả thực hiện: Theo báo của Sở Giao thông Vận tải, hiện toàn tỉnh có
24 tuyến đường tỉnh, dài 330km với tỷ lệ cứng hóa 100%. Các tuyến đường từ trung
tâm hành chính tỉnh đến trung tâm huyện, thị đều được mở rộng, cải tạo, nâng cấp
thành đường đôi có dải phân cách cứng. Cùng với đó, các tuyến đường vành đai,
hướng tâm, đường qua các khu, cụm công nghiệp, khu du lịch, tuyến đường huyết
mạch qua các địa phương được cải tạo, nâng cấp, đầu tư xây mới với tổng số tiền
21