Dạy học tác phẩm đàn tranh của nhạc sĩ phạm thúy hoan tại trường đại học văn hoá nghệ thuật quân đội - Pdf 51

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGHỆ THUẬT TRUNG ƯƠNG

TRẦN THỊ PHƯƠNG ANH

DẠY HỌC TÁC PHẨM ĐÀN TRANH CỦA NHẠC SĨ
PHẠM THÚY HOAN TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA
NGHỆ THUẬT QUÂN ĐỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ
LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC ÂM NHẠC
Khóa 7 (2016 - 2018)

Hà Nội, 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGHỆ THUẬT TRUNG ƯƠNG

TRẦN THỊ PHƯƠNG ANH

DẠY HỌC TÁC PHẨM ĐÀN TRANH CỦA NHẠC SĨ
PHẠM THÚY HOAN TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA
NGHỆ THUẬT QUÂN ĐỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Lý luận và Phương pháp dạy học Âm nhạc
Mã số: 8140111

Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Thanh Phương



NSƯT

Nghệ sĩ ưu tú

NTDT & MN

Nghệ thuật Dân tộc và Miền Núi

Nxb

Nhà xuất bản

QGÂN & KNSG

Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ Sài Gòn

Ths

Thạc sĩ

TLTK

Tài liệu tham khảo

Tr

trang





2.2. Thực hành dạy học tác phẩm của nhạc sĩ Phạm Thúy Hoan ............. 48
2.2.1. Kỹ thuật diễn tấu tay phải .................................................................. 48
2.2.2. Kỹ thuật diễn tấu tay trái .................................................................... 53
2.2.3. Phối hợp hai tay.................................................................................. 57
2.2.4. So sánh kỹ thuật diễn tấu đàn Tranh trong các bài bản cổ truyền và
tác phẩm của nhạc sĩ Phạm Thúy Hoan ....................................................... 60
2.2.5. Xử lí sắc thái to, nhỏ .......................................................................... 62
2.3. Thực nghiệm sư phạm ........................................................................... 65
2.3.1. Mục đích thực nghiệm ....................................................................... 65
2.3.2. Đối tượng thực nghiệm ...................................................................... 65
2.3.3. Nội dung thực nghiệm ........................................................................ 65
2.3.4. Thời gian thực nghiệm ....................................................................... 65
2.3.5. Tiến hành thực nghiệm....................................................................... 65
2.3.6. Kết quả thực nghiệm .......................................................................... 69
Tiểu kết ......................................................................................................... 71
KẾT LUẬN .................................................................................................. 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 74
PHỤ LỤC ..................................................................................................... 77


1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nhà giáo ưu tú, nghệ sĩ đàn tranh Phạm Thúy Hoan đã có 42 năm gắn
bó với sự nghiệp giảng dạy đàn tranh. Cả cuộc đời bà dành tâm huyết và tình
yêu lớn cho cây đàn, đào tạo các thế hệ nghệ sĩ trẻ. Không những vậy, bà còn
sáng tác nhiều tác phẩm cho đàn tranh đạt nhiều giải thưởng, huy chương.
Bên cạnh đó, nhạc sĩ Phạm Thúy Hoan còn chuyển soạn hàng trăm ca khúc

Trong giai đoạn hiện nay, với nhu cầu nâng cao chất lượng đào tạo tài
năng nghệ thuật âm nhạc truyền thống, việc đào tạo những nghệ sĩ biểu diễn
có trình độ cao đối với các nhạc cụ dân tộc Việt Nam là hết sức cần thiết để
bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa dân gian và di sản văn hóa của cha
ông ta để lại trong xã hội hiện đại ngày nay. Trên thực tế, khoa Nghệ thuật
Dân tộc và Miền núi, trường Đại học Văn hóa Nghệ thuật Quân đội trong quy
trình đào tạo hệ Trung cấp hiện nay có một số điểm chưa được thống nhất về
chương trình, giáo trình, chưa đưa ra mối quan hệ giữa bài tập và tác phẩm, về
kỹ thuật, về xử lý tác phẩm của nhạc sĩ Phạm Thúy Hoan, mặc dù vẫn được
học về diễn tấu, nhưng chưa thể hiện hết nội dung tác phẩm, …Vì vậy, nghiên
cứu phương pháp giảng dạy các tác phẩm viết cho đàn Tranh của nhạc sĩ
Phạm Thúy Hoan là cần thiết, một mặt giúp các học viên, nghệ sĩ trẻ vươn tới
kĩ năng điêu luyện trong trình diễn mặt khác, góp phần nâng cao chất lượng
đào tạo của nhà trường.
Với những lý do đã nêu trên, tác giả luận văn hướng đến đề tài “Dạy
học tác phẩm đàn Tranh của nhạc sĩ Phạm Thúy Hoan tại Trường Đại học
Văn hoá Nghệ thuật Quân đội".
2. Lịch sử nghiên cứu
Qua tham khảo các tài liệu và tìm hiểu thực tế, có nhiều công trình
nghiên cứu liên quan đến đàn tranh và phương pháp dạy học đàn tranh như:
Nguyễn Thị Thanh Phương (1997), Tìm hiểu một số tác phẩm viết cho
đàn tranh độc tấu, khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Lí luận âm nhạc, Nhạc


3
viện Hà Nội. Trong đó tác giả đã lựa chọn, phân tích một số tác phẩm tiêu
biểu sáng tác cho đàn tranh đồng thời đưa ra những kĩ thuật diễn tấu cơ bản
giúp người học đàn tranh dễ dàng hơn trong việc tiếp cận tác phẩm. Tuy
nhiên, tác giả không hề nghiên cứu chuyên sâu các tác phẩm sáng tác cho đàn
tranh của nhà giáo ưu tú Phạm Thúy Hoan.

Guzheng của Trung Quốc. Tác giả biên soạn lại giáo trình giảng dạy đàn
tranh bậc Trung học dài hạn tại Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam.
Khai thác kỹ năng diễn tấu tác phẩm mới cho đàn tranh và ứng dụng
trong giảng dạy tại Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam, (2008) Luận văn
thạc sĩ NSƯT Mai Lai. Luận văn giới thiệu các kĩ thuật diễn tấu tai phải, tay
trái cảu đàn tranh và các sáng tác mới. Các kĩ năng diễn tấu trong tác phẩm
mới cho cây đàn.
Giảng dạy các bài bản âm nhạc truyền thống Huế cho Đàn Tranh trong
các cơ sở đào tạo âm nhạc chuyên nghiệp, (2010) luận văn thạc sĩ của
Nguyễn Ngọc Huyền chủ yếu nghiên cứu về âm nhạc truyền thống Huế.
Giảng dạy các tác phẩm đàn Tranh của nhạc sĩ Xuân Khải tại Học Viện
Âm nhạc Quốc gia Việt Nam,(2016) luận văn thạc sĩ của Đoàn Phương Anh
2016. Nội dung viết về các tác phẩm của nhạc sĩ Xuân Khải và biện pháp nâng
cao dạy học các tác phẩm của nhạc sĩ tại Học Viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam
Ngoài ra còn có nhiều tác phẩm về đàn Tranh đã được và thu thanh xuất
bản như: Album Tiếng đàn Tranh của Việt Hồng, Album Độc tấu đàn Tranh
của Nguyễn Thanh Thuỷ và Album Tiếng Đàn Hải Phượng của hãng Bến
Thành Audio.
Qua quá trình nghiên cứu thực tế, tìm hiểu tài liệu, nhìn chung, các công
trình và luận văn nêu trên là những tài liệu tốt để chúng tôi tham khảo, học
tập, kế thừa trong quá trình triển khai luận văn của mình. Có thể nói, cho đến
thời điểm này chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về việc giảng
dạy các tác phẩm đàn Tranh của nhạc sĩ Phạm Thuý Hoan. Vì vậy, tôi mong
muốn được đi sâu khai thác, tìm hiểu và tìm ra những phương pháp giảng dạy


5
hiệu quả nhất các tác phẩm đàn tranh của nhạc sĩ Phạm Thúy Hoan tại Trường
Đại học Văn hoá Nghệ thuật Quân đội.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Khảo sát, điền dã, phỏng vấn chuyên gia: giúp tác giả luận văn tìm
hiểu, thu thập ý kiến kinh nghiệm của các nhà nghiên cứu, các thầy cô qua
nhiều thế hệ đi trước, học hỏi kinh nghiệm các bậc nghệ nhân, các anh chị em,
bạn bè đồng nghiệp. Tiếp thu ý kiến của những nghệ sỹ trực tiếp giảng dạy,
biểu diễn.
6. Những đóng góp của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu về việc dạy học tác phẩm đàn Tranh
của nhạc sĩ Phạm Thúy Hoan tại khoa NTDT& MN, trường Đại học Văn hóa
Nghệ thuật Quân đội. Trong luận văn cũng đề xuất một sốbiện pháp nhằm nâng
cao chất lượng dạy học các tác phẩm đàn Tranh của nhạc sỹ Phạm Thúy Hoan.
Vì vậy, luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho đồng nghiệp, học viên các
cơ sở có đào tạo đàn Tranh.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn
gồm 2 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn dạy học đàn Tranh tại trường Đại
học Văn hóa Nghệ thuật Quân đội.
Chương 2: Biện pháp dạy học tác phẩm đàn Tranh của nhạc sĩ Phạm
Thúy Hoan.


7
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN DẠY HỌC ĐÀN TRANH
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUÂN ĐỘI

1.1. Khái niệm
1.1.1. Dạy học đàn Tranh
Trong phần nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền về khái niệm
Hoạt động dạy học trong đổi mới giáo dục hiện nay tại trường Đại học Khoa

“nhân - quả”.
Trong xu thế phát triển của khoa học, kỹ thuật trên thế giới ngày nay,
nền giáo dục của mỗi quốc gia đều phải được đổi mới, cải cách để đào tạo
nguồn nhân lực phù hợp trình độ phát triển kinh tế, văn hóa của quốc gia và
quốc tế. Để đáp ứng yêu cầu này, cần thiết phải nghiên cứu hoạt động dạy của
giáo viên và hoạt động học của học sinh xuất phát từ thực tiễn của mỗi quốc
gia, dân tộc và xu thế phát triển của thế giới ngày nay.
Dạy học đàn Tranh cũng giống như dạy học các bộ môn nghệ thuật
khác, là cách thức làm việc giữa giáo viên và học trò, nhờ đó mà học trò nắm
vững được kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo trong cách chơi đàn. Phương pháp dạy
học là yếu tố vô cùng quan trọng giúp cho người học tiếp thu được những
kiến thức từ người thầy mang lại. Trong tiếng Hy lạp, Méthodo - phương
pháp là con đường để đạt được mục đích. Chúng tôi cho rằng phương pháp là
cách thức, con đường để đạt tới mục tiêu trong một hoạt động nào đó, là hệ
thống các cách sử dụng được sắp xếp theo một trật tự nhất định để tiến hành
hoạt động đó. Dạy học âm nhạc nói chung và dạy học đàn Tranh nói riêng là
một môn học mang tính đặc thù cao, tư duy âm nhạc khá trừu tượng.
1.2. Khái quát về đàn Tranh ở Việt Nam
Trong Vũ Trung tùy bút của Phạm Đình Hổ cho rằng:
“Đàn Tranh du nhập vào Việt Nam rất sớm vào cuối thế kỉ thứ XIII đời
nhà Trần lúc đó chỉ có 15 dây không phải 16 dây như bây giờ và nhắc đến lần
đầu tiên trong dàn tiểu nhạc dưới thời nhà Trần (1225 - 1400) Lúc bấy giờ


9

người chơi đàn dùng móng bạc để gẩy hoặc dùng hai khúc cây sậy nhỏ
để đánh lên dây” [4, tr.235].
Trong cuốn luận văn của Ngô Bích Vượng Cây đàn Tranh và bài bản tài
tử cải lương (năm 1999) đã có những ghi chép về nguồn gốc của cây đàn Tranh.

âm sắc tiếng đàn vang hơn khi chơi đàn. Hệ thống dây đàn được sắp xếp theo
thang âm ngũ cung. Tùy theo bài bản, phong cách Bắc, Nam, Xuân, Ai, Oán,
Đảo mà người ta lấy dây.
Trục đàn: Trục đàn dùng để chỉnh dây đàn vặn trục đàn theo chiều kim
đồng hồ khi cần xuống thấp và vặn ngược chiều kim đồng hồ khi cần lên cao.
Con nhạn: Con nhạn có nhiệm vụ truyền âm từ dây xuống mặt đàn để
tạo ra âm thanh. Vì thế con nhạn lúc nào cũng phải đứng vững trên mặt đàn.
Con nhạn đàn không dính chặt vào mặt đàn để có thể xê dịch được. Khi cần
chỉnh dây lên xuống một chút ta không cần phải vặn trục đàn mà chỉ cần xê
dịch con nhạn. Xê dịch con nhạn về phía tay phải sẽ làm dây đàn cao hơn,
dịch qua bên tay trái sẽ làm dây đàn xuống thấp hơn.
Cầu đàn: Dây đàn được bắc ngang qua cầu đàn. Gẩy ở gần cầu đàn tiếng
đàn sẽ thô, đanh, xa cầu đàn tiếng đàn sẽ mờ, ủng. Khoảng cách tiếng đang vang
và mềm mại cách cầu đàn khoảng 2cm.
Móng đàn: Các nhạc công truyền thống miền Nam Việt Nam chỉ dùng
hai ngón là ngón cái và ngón trỏ. Các nhạc sĩ miền Bắc và miền Trung thường
dùng ba ngón là ngón cái, ngón trỏ và ngón giữa.
1.2.2. Những kỹ thuật diễn tấu đàn Tranh
Với đàn Tranh, bàn tay phải được coi là nơi “sinh” ra âm thanh, bàn tay
trái là nơi “nuôi dưỡng” âm thanh. Do đó, việc nắm vững kỹ thuật bàn tay
phải và bàn tay trái là điều quan trọng với người chơi đàn Tranh. Trước đây,
ngón gảy tay phải thường dùng 2 ngón gẩy, ngày nay phổ biến là 3 ngón, cá
biệt sử dụng 4 hoặc 5 ngón. Đàn được gẩy bằng móng đồi mồi ở miền Bắc và


11
móng inox ở miền Nam, tuy nhiên, cách gẩy 3 ngón là cách gẩy thông dụng
nhất là ngón cái (số 1), ngón trỏ (số 2) và ngón giữa (số 3). Với những cách
gẩy cơ bản: liền bậc, cách bậc, gẩy đi lên và đi xuống liền bậc hay cách bậc.
Bàn tay phải nâng lên, ngón tay khum lại, thả lỏng, ngón áp út tì nhẹ lên cầu


Song huyền: Là lối đánh hai dây cùng một lúc nhưng âm thanh cách
nhau quãng 2, quãng 3, quãng 4. Từ ngón song huyền đánh hai dây cùng một
lúc, có thể đánh ba bốn dây cùng một lúc sẽ đạt những chồng âm hay hợp âm
nhất định và có thể dùng cả tay trái.
Ví dụ số 7

Ngón vê: (Trémolo) là sử dụng ngón tay phải ngón 2 hoặc kết hợp
ngón 1-2, 1-3, 1-2-3, gảy trên dây liên tục và các ngón khác phải khum tròn,
cổ tay kết hợp với ngón tay đánh xuống, hất lên đều đặn.
Ví dụ số 8. Vê ngón 1 -2

Ví dụ số 9. Vê ngón 1-3


13

Ví dụ số 10. Vê ngón 1-2-3

- Kỹ thuật diễn tấu tay trái
Trong nghệ thuật diễn tấu đàn Tranh, tay trái là nơi tạo nên phần hồn
của cây đàn. Bàn tay trái đã góp phần tạo hiệu quả rõ rệt của âm thanh, nuôi
dưỡng âm thanh qua các ngón rung, ngón nhấn, ngón nảy, ngón vỗ.
Thủ pháp diễn tấu của tay trái gồm:
Ngón rung: Là cách dùng một, hai hoặc ba ngón tay trái rung nhẹ trên
sợi dây đàn mà tay phải vừa gảy với tần số nhanh cho các nét giai điệu quyện
với nhau. Kĩ thuật ngón rung nhanh thường dùng trong các sáng tác mới và
các bản dân ca.
Ví dụ số 11


gảy, và nhấc ngay các ngón tay lên làm âm thanh cao lên đột ngột từ nửa cung
đến một cung. Có hai loại vỗ:


15
- Vỗ đồng thời: Tức là cùng lúc tay phải gảy dây, tay trái vỗ sẽ nghe
thấy hai âm: một âm phụ cao hơn nửa cung hoặc 1 cung luyến nhanh ngay
xuống âm chính (âm phụ do ngón tay trái vỗ tạo nên).
Ví dụ số 16

- Vỗ sau: Tay phải gảy dây xong, tay trái mới vỗ lên dây, như vậy sẽ
nghe thấy 3 âm luyến. Âm thứ nhất do tay phải gảy lên dây, âm thứ hai do
ngón vỗ tạo nên, âm nầy cao hơn âm thứ nhất khoảng nửa cung hoặc 1 cung
tiếp đó là âm thứ ba do ngón tay vỗ xong nhấc lên ngay, dây đàn được trở lại
trạng thái cũ, âm thanh còn lại vang lên theo độ căng của dây đó lúc đầu.
Ví dụ số 17

Ngón vuốt (miết): Tay phải gảy đàn tiếp theo dùng hai, ba ngón tay trái
vuốt lên dây đàn đó từ nhạn đàn ra trục dây hay ngược lại làm tăng sức căng
của dây một cách đều đều, liên tục. Âm thanh được nâng cao dần lên trong
phạm vi 1/2 cung đến 1 cung.
Ví dụ số 18

Ngón gảy tay trái: Để thay đổi màu sắc, đồng thời phát huy khả năng
âm thanh của dây đàn, ngón tay trái cũng có thể gảy dây trong phạm vi phía
bên tay phải hàng nhạn đàn. Tay trái không đeo móng gảy nên khi gảy âm
thanh nghe êm hơn nhưng không vang bằng âm thanh tay phải gảy. Có thể


16

hướng dẫn tận tình bởi các giáo viên bộ môn. Các em không chỉ học tập mà
còn được thực hành biểu diễn cùng với các giáo viên trong các chương trình
của nhà trường và các cuộc thi lớn trên toàn quốc mang nhiều thành tích về
cho Khoa và Nhà trường. Điều đó rất thuận lợi khi các em tốt nghiệp ra
trường trở thành các nghệ sĩ biểu diễn chuyên nghiệp tại các đoàn nghệ thuật
trong Quân đội.
Do đó, vai trò trong đào tạo của đàn tranh rất được chú trọng. Trong
giai đoạn hiện nay với nhu cầu nâng cao chất lượng đào tạo tài năng nghệ
thuật âm nhạc truyền thống, việc đào tạo những nghệ sĩ biểu diễn có trình độ
đối với các nhạc cụ dân tộc Việt Nam là hết sức cần thiết để bảo tồn và phát
huy những giá trị văn hóa dân gian và di sản văn hóa của cha ông ta để lại
trong xã hội hiện đại ngày nay.
1.3. Thực trạng dạy và học đàn Tranh tại trường Đại học Văn hóa Nghệ
thuật Quân đội
1.3.1. Vài nét về trường Đại học Văn hóa Nghệ thuật Quân đội
Trường Đại học Văn hóa Nghệ thuật Quân đội trực thuộc Tổng cục
Chính trị - Bộ Quốc Phòng. Tiền thân là Trường Nghệ thuật Quân đội được
thành lập từ năm 1955 là trường đào tạo sĩ quan văn hóa nghệ thuật trong
Quân đội đầu tiên trên cả nước.
Căn cứ vào cuốn sách Trường Đại học Văn hóa Nghệ thuật Quân đội
60 năm xây dựng và trưởng thành (1955 - 2015) do nhà xuất bản Quân đội ấn
hành năm 2015, chúng tôi xin tóm tắt lại quá trình xây dựng và trưởng thành
của Trường Đại học Văn hóa Nghệ thuật Quân đội như sau:
Năm 1955 được coi là năm đánh dấu cho sự khởi đầu, đặt cơ sở cho sự
ra đời của Trường Đại học Văn hóa Nghệ thuật Quân đội. “Ngày 23/9/1955,


18
Chủ nhiệm Tổng cục chính trị Quân đội Nhân dân Việt nam quyết định tổ
chức các lớp tập huấn, đào tạo ngành nghệ thuật, đặt nền móng cho sự hình

Chất lượng đào tạo của nhà trường luôn tích cực đổi mới nội dung,
phương pháp, hình thức đào tạo, gắn nội dung đào tạo của nhà trường với
thực tiễn xã hội và đơn vị cơ sở, nhanh chóng đào tạo nhiều loại hình văn hóa
nghệ thuật mới, đáp ứng yêu cầu cuộc sống xã hội. Nhiều nghệ sĩ biểu diễn,
nhạc sĩ sáng tác, biên đạo múa, cán bộ quản lí văn hóa, nhà văn, sân khấu,
điện ảnh trưởng thành từ ngôi trường. Trường Đại học Văn hóa Nghệ thuật
Quân đội là cơ sở đào tạo nghệ thuật uy tín và chất lượng hàng đầu trong
nước. Rất nhiều nghệ sĩ nổi tiếng trong làng âm nhạc Việt nam trưởng thành
từ đây những thế hệ đầu những ngày thành lập như: Lương Ngọc Trác, Tường
Vi, Quốc Hương, Linh Nhâm, Hồ Mộ La, Ngọc Dậu.. Tiếp sau là thế hệ của
An Thuyên, Dương Minh Đức, Ma Bích Việt, Đức Trịnh, Hoàng Chè.. Và tới
nay các nghệ sĩ trẻ như: Xuân Thủy, Kiều Lê, Vân Mai, Mai Kiên, Hồ Trọng
Tuấn, Xuân Hảo...
1.3.2. Khái quát về khoa Nghệ thuật Dân tộc và Miền núi
Khoa NTDT & MN trường ĐHVHNTQĐ được Tổng cục Chính trị
quyết định thành lập ngày 24/3/1994 với các bộ môn đào tạo gồm các nhạc cụ
dân tộc như: đàn Tranh, đàn Bầu, Sáo, Nhị, Tam thập lục, bộ Gõ, Nguyệt, Tỳ
bà, T’rưng, đàn Tính…
Từ những ngày thành lập, Khoa NTDT & MN không chỉ tuyển sinh và
đào tạo con em Thủ đô hoặc từ các vùng lân cận mà đặc biệt còn có con em
các dân tộc vùng sâu, vùng xa như Tây Nguyên, các tỉnh miền núi phía Bắc
với số lượng các em học viên tương đối đông.
Các giáo viên bộ môn trong Khoa hầu hết được đào tạo chính quy tại
Học viện Âm nhạc Quốc Gia Việt Nam, điều này góp phần hệ đào tạo tại
Khoa NTDT & MN khá chính quy và bài bản. Không những thế, thầy trò của
Khoa đạt rất nhiều thành tích cao tại các cuộc thi, liên hoan nghệ thuật toàn



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status