VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ THÙY TRANG
CHỨC NĂNG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
CỦA TÒA ÁN THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN QUẬN SƠN TRÀ,
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - NĂM 2018
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ THÙY TRANG
CHỨC NĂNG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
CỦA TÒA ÁN THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN QUẬN SƠN TRÀ,
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 838.01.04
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. NGUYỄN VĂN HUYÊN
NĂNG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA TÒA ÁN TẠI
QUẬN SƠN TRÀ, TP. ĐÀ NẴNG............................................................... 55
3.1. Yêu cầu hoàn thiện pháp luật ................................................................... 55
3.2. Giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật........................................... 57
3.3. Giải pháp thực hiện chức năng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự tại Quận Sơn
Trà, TP. Đà Nẵng ............................................................................................ 61
KẾT LUẬN .................................................................................................... 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLTTHS
: Bộ luật tố tụng hình sự
BLHS
: Bộ luật hình sự
TAND
: Tòa án nhân dân
TNHS
: Trách nhiệm hình sự
XXST
: Xét xử sơ thẩm
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm vừa qua, thực trạng về vi phạm pháp luật ở nước ta
diễn ra khá nghiêm trọng và diễn biến rất phức tạp, có chiều hướng gia tăng
ảnh hưởng đến quá trình hội nhập toàn cầu của đất nước. Với tình hình trên
các cơ quan tiến hành tố tụng đã cố gắng rất nhiều trong công tác thực thi
pháp luật nên đã góp phần vào việc giữ vững an ninh - chính trị, an toàn xã
hội. Tuy nhiên, chất lượng công tác tư pháp còn chưa ngang tầm với yêu cầu
và nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó, vẫn còn bộc lộ nhiều điểm yếu
kém như bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội, xâm phạm đến các quyền và
lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của xã hội và công dân.
Quyền lực nhà nước là một hệ thống nhất, có sự phân công rõ ràng giữa
các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và
tư pháp. Trong đó Tòa án nhân dân là cơ quan tư pháp, Tòa án được hiến định
là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nơi biểu
hiện tập trung của quyền tư pháp có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ
nghĩa; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ
tài sản nhà nước, của tập thể; bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và
nhân phẩm của công dân.
Hiến pháp 2013 đã ghi nhận rằng xét xử chính là chức năng duy nhất của
Tòa án, tuy nhiên việc thể chế hóa quyết định của Hiến pháp vẫn còn rất
nhiều bất cập, trong đó BLHS 2015 quy định Tòa án được thực hiện cả một
phần của chức năng buộc tội như có quyền khởi tố vụ án, trả hồ sơ yêu cầu
điều tra bổ sung nhiều lần kéo dài thời hạn xét xử, cũng như quá đi sâu vào
việc xét hỏi để chứng minh tội phạm của bị cáo nên chưa thực hiện tốt việc
tranh tụng tại phiên tòa. Do Tòa án đi sâu vào quá trình chứng minh tội phạm
nên vai trò buộc tội của VKS chưa thể hiện rõ nét, vai trò bào chữa của luật sư
1
2
chí Tòa án nhân dân số 5/2003; bài "Bàn về vấn đề tranh tụng trong tố tụng
hình sự" đăng trong Tạp chí Kiểm sát, tháng 9/2003 của tác giả Trần Đại
Thắng; bài viết của nhiều tác giả trong Đặc san nghề luật số 5/2003 về chuyên
đề mở rộng tranh tụng; cuốn chuyên khảo "Cải cách tư pháp ở Việt Nam
trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền" do TSKH Lê Cảm và TS.
Nguyễn Ngọc Chí đồng chủ biên, có nhiều bài viết của các tác giả (Nxb Đại
học quốc gia, 2004)... Nhưng những bài viết đó chỉ đề cập đến một số vấn đề
nhất định liên quan đến vấn đề chức năng xét xử của Tòa án và còn khá nhiều
ý kiến trái ngược nhau xung quanh ý tưởng đổi mới hoạt động xét xử của
ngành Tòa án Việt Nam, vẫn chưa làm rõ cơ sở lý luận về chức năng xét xử
của Tòa án trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Đồng thời nghiên
cứu cơ sở khoa học của các quy định về chức năng của Tòa án sơ thẩm trong
xét xử các vụ án hình sự, đưa ra các ý kiến đóng góp xây dựng pháp luật cũng
như yêu cầu nhận thức của người tham gia tiến hành tố tụng. Đó chính là lý
do để tác giả tiếp tục nghiên cứu đề tài này.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Đề tài nhầm hướng tới đề ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật cũng như
nâng cao hiệu quả thực hiện chức năng xét xét xử sơ thẩm của Tòa án trên cơ
sở làm rõ lý luận và thực tiễn thực hiện chức năng của Tòa án quận Sơn Trà,
Tp Đà Nẵng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để hoàn thành được mục đích nghiên cứu của luận văn thì nhiệm vụ đặt
ra đối với luận văn đó là:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận liên quan đến chức năng xét xử sơ
thẩm vụ án hình sự.
- Nghiên cứu các quy định của BLTTHS năm 2003 và 2015 liên quan
cứu của luận văn là:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận và các quy định của Bộ luật tố tụng
năm 2015 liên quan đến chức năng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
4
- Về không gian nghiên cứu tình hình xét xử sơ thẩm VAHS trên địa bàn
quận Sơn trà, thành phố Đà Nẵng.
- Về thời gian thực tiễn hoạt động xét xử sơ thẩm VAHS của Tòa án
nhân dân quận Sơn Trà, Tp Đà Nẵng từ năm 2012 đến 2017.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Phương pháp lý luận của luận văn là những thành tựu của các nhà khoa
học: triết học, luật tố tụng hình sự, luật hình sự…phép duy vật biện chứng và
duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mac – Lê nin, tư thưởng Hồ Chí Minh, đường
lối, chính sách của Đảng về nhà nước và pháp luật.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài luận văn, còn sử dụng trong một số tổng thể các
phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau: hệ thống, lịch sử, loogis, tổng hợp, so
sánh, dự báo, kết hợp với phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia để chọn
lọc trí thức khoa học, kinh nghiện thực tiễn trong áp dụng thủ tục xét xử của
Tòa án.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn góp phần bổ sung một số lý luận cho khoa học luật tố tụng
hình sự về chức năng xét xử của Tòa án.
6.2. Ý ghĩa thực tiễn
Luận văn được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho những người nghiên
cứu học tập tìm hiểu về hoạt động xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm.
năng xét xử là ba chức năng cơ bản Trong TTHS.
Chức năng của TTHS là những phương diện (hay những dạng) hoạt
động TTHS do các chủ thể (hoặc nhóm chủ thể) khác nhau thực hiện theo quy
định của BLTTHS với nội dung, định hướng độc lập với nhau nhưng lại gắn
kết với nhau một cách hữu cơ nhằm thực hiện nhiệm vụ chung của TTHS.[22;
tr.4]
+ Chức năng buộc tội: là một trong những chức năng cơ bản của Tố
Tụng Hình Sự nó luôn nhằm hướng vào một cá nhân cụ thể và thực chất đó
chính là hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội.
Trong chức năng buộc tội thì hình thức buộc tội giữ vai trò là khâu khởi động
của hoạt động tố tụng, giữ vai trò chủ đạo và là tiền đề cho việc thực hiện các
chức năng còn lại của hoạt động TTHS, có buộc tội thì mới có gỡ tội và sự
7
xuất hiện của hai mặt đối lập này làm phát sinh nhu cầu phải có một cơ quan
trọng tài giữ vai trò trung lập để xét xử. Theo quan điểm của nhiều nhà khoa
học, về cơ bản đều có sự thống nhất là chức năng buộc tội luôn bắt đầu từ giai
đoạn điều tra, tuy nhiên về chủ thể thực hiện chức năng buộc tội thì vẫn còn
rất nhiều quan điểm. Có quan điểm cho rằng: “Buộc tội không phải là chức
năng riêng của VKS, mà thông qua hoạt động điều tra theo quy định của pháp
luật, CQĐT cũng thực hiện chức năng buộc tội” [ 20, tr.68] . Nhưng có quan
điểm khác thì lại cho rằng “Chức năng buộc tội là hoạt động của Viện kiểm
sát nhằm xác định tội phạm và người phạm tội, buộc kẻ phạm tội phải chịu
trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật” [15, tr.30] . Theo quan điểm
này thì mặc dù CQĐT có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra, có
quyền quyết định việc bắt, tạm giữ, tạm giam…và người bị áp dụng biện pháp
này trở thành người bị buộc tội nhưng các quyết định đó của CQĐT đều phải
được sự phê chuẩn của VKS. Do vậy, chỉ có VKS mới có chức năng buộc tội,
buộc tội mà phát sinh trên quyền bào chữa là sự buộc tội. Chủ thể của
quyền bào chữa bao gồm: bị can, bị cáo, người bị bắt, người bị tạm giữ.
Chủ thể thực hiện quyền bào chữa đó là: người bào chữa, người bị buộc tội.
Phạm vi bào chữa được bắt đầu từ khi bị buộc tội và kết thúc khi bản án
cho đến khi quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Mục đích chính
của chức năng bào chữa đó là giảm nhẹ trách nhiệm cho bên bị buộc tội và
phản kháng lại bên buộc tội.
+ Chức năng xét xử: Là một dạng hoạt động Tố tụng hình sự được
phát sinh khi có cáo buộc từ cáo trạng của Viện kiểm sát, nó được thực
hiện rõ bởi chức năng của Tòa án trên cơ sở tranh tụng một cách bình đẳng,
dân chủ nhằm xem xét và giải quyết vụ án hình sự bằng việc ra bản án,
quyết định bị cáo có tội hay vô tội, hình phạt và các biện pháp tư pháp theo
quy định của pháp luật. Xét xử là hoạt động duy nhất chỉ do Tòa án thực
hiện còn các cơ quan nhà nước khác, các tổ chức và cá nhân không có chức
9
năng này chính vì vậy bản án của Tòa án được đảm bảo bởi sức mạnh của
nhà nước. Xét xử là hoạt động nhân danh quyền lực của nhà nước do Tòa
án thực hiện, nhằm để giải quyết các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân gia
đình, kinh tế, lao động…
Qua hoạt động xét xử tại phiên tòa ta có thể thấy chỉ có Tòa án mới có
quyền quyết định một người có tội hay không có tội, đó là tội gì, hình phạt và
các biện pháp xử lý.Trong mối quan hệ với chức năng buộc tội và chức năng
bào chữa thì chức năng xét xử được coi là chức năng trung tâm của TTHS có
vai trò quyết định.
Có thể nói xét xử sơ thẩm là xét xử lần đầu một vụ án theo thẩm quyền
của từng cấp toà án. Sau khi có bản án sơ thẩm, bị cáo có thể kháng cáo hoặc
viện kiểm sát có thể kháng nghị bản án của Toà án. Khi đó vụ án sẽ được xét
toàn diện và công bằng về các vấn đề của vụ án làm cơ sở để Toà án ra bản án
không kết tội hoặc kết tội và tuyên hình phạt đối với bị cáo. Từ những phân
tích trên thì có thể rút ra chức năng của Tòa án trong giai đoạn xét xử sơ thẩm
vụ án hình sự là xét xử với tính chất xét xử lần đầu, toàn diện, đầy đủ toàn bộ
các vấn đề của vụ án, bao gồm và thể hiện qua các hành vi tố tụng từ thời
điểm tòa án nhận hồ sơ, thụ lý vụ án cho đến khi HĐXX tuyên án và bế mạc
phiên tòa mà mục đích cuối cùng là giải quyết triệt để một vụ án.
1.2. Đặc điểm chức năng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án
1.2.1. Chỉ do Tòa án có thẩm quyền thực hiện
TAND có nhiệm vụ “bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền
công dân, bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi
ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” (khoản 3, Điều 102). Hiến pháp năm 2013
quy định TAND là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, thực
hiện quyền tư pháp. Đây là điểm rất mới so với Hiến pháp năm 1992.
Nội dung mới này có ý nghĩa rất quan trọng, nó nhằm mục đích phân
định quyền lực của nhà nước theo hướng:
11
“TAND” là cơ quan thực hiện quyền tư pháp.
“Chính phủ” là cơ quan thực hiện quyền hành pháp.
“Quốc hội” là cơ quan thực hiện quyền lập hiến, lập pháp.
Đây là định hướng nhằm hoàn thiện bộ máy nhà nước ta theo kiểu nhà
nước pháp quyền XHCN.
Nội dung mới nêu trên về TAND còn mang ý nghĩa là cơ sở pháp lý để
giao cho tòa án có thẩm quyền giải quyết những loại vụ việc liên quan đến
việc hạn chế quyền nhân thân của công dân, như việc ra quyết định đưa người
vào các trung tâm giáo dưỡng, cai nghiện…
Về hệ thống TAND, khác với Hiến pháp năm 1992 quy định hệ thống
định đưa vụ án ra xét xử, tại phiên tòa HĐXX Điều khiển phiên Tòa với sự
tham gia của đại diện Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng. Thực
hiện tranh tụng tại phiên tòa Tòa án không hỏi chính mà chỉ nghe bên buộc tôi
(VKS) và bên gỡ tội (Luật sư bào chữa) xét hỏi và đưa ra những lý lẻ lập luận
để chứng minh bị cáo có tội hay không có tội và chỉ khi Tòa án cho phép bên
nào nói thì bên đó mới được phát biểu ý kiến của mình.
+ Trên cơ sở các kết quả tranh tụng tại phiên tòa HĐXX nghị án và ra
bản án, quyết định giải quyết vụ án. Nếu bị cáo không có tội thì ra bản án
tuyên bố bị cáo vô tội, nếu bị cáo có tội thì ra bản án tuyên hình phạt áp
dụng đối với bị cáo.
1.2.3. Xem xét, giải quyết toàn bộ các vấn đề trong vụ án hình sự
+ HĐXX Xem xét bị cáo có tội hay không có tội, phạm tội gì, theo
khung hình phạt nào
+ Áp dụng hình phạt tương ứng với bản chất và mức độ nguy hiểm của
hành vi phạm tội
+ Xử lý vật chứng của vụ án.
+ Giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự.
1.3. Các nguyên tắc khi thực hiện chức năng xét xử sơ thẩm vụ án
hình sự của Tòa án
Một số nguyên tắc cơ quan sau có liên quan chặt chẽ với chức năng xét
13
xử sơ thẩm của Tòa án:
- Xác định sự thật:
Cơ sở thực tiễn: do thực tiễn trong quá trình điều tra phát hiện tội phạm
còn tồn tại nhiều bất cập nên chúng ta cần phải đưa ra một nguyên tắc để hạn
chế tối đa sự bất cập đó, và nguyên tắc đó chính là phải xác định sự thật của
vụ án trong quá trình điều tra vì đã có không ít trường hợp chúng ta đã phạm
các giai đoạn đó đều có mục đích chung là tìm ra sự thật của vụ án. Đây cũng
chính là nhiệm vụ bao trùm của hoạt động tố tụng hình sự. Do đó, đây là
nguyên tắc cơ bản của Luật tố tụng hình sự. Để đấu tranh chống tội phạm đạt
được hiệu quả tốt thì mọi hành vi phạm tội đều được phát hiện và xử lý trước
pháp luật, luật tố tụng hình sự đã ghi nhận nguyên tắc xác định sự thật của vụ
án.
- Suy đoán vô tội
Nguyên tắc này không còn là riêng biệt trong pháp luật của từng quốc
gia mà nó đã được toàn cầu hóa Cụ thể được ghi nhận:
“1. Bất kỳ một người nào bị cáo buộc trong việc thực hiện tội phạm đều
có quyền được coi là chưa có tội khi lỗi của họ chưa được chứng minh bằng
một phiên tòa công khai theo một thủ tục do pháp luật quy định và tại phiên
tòa đó họ được hưởng tất cả những bảo đảm cần thiết cho việc bào chữa của
mình;
2. Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt bởi một hành vi mà
BLHS không coi là tội phạm tại thời điểm thực hiện hành vi đó”,[4,tr.15]
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định nguyên tắc suy đoán vô tội
như sau:
Điều 13. Suy đoán vô tội
“Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng
minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của
Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
15
Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo
trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền
tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội”
Nguyên tắc này đã được công nhận trong tuyên ngôn nhân quyền năm
mình không phạm tội, việc bị cáo có phạm tội hay không phạm tội phụ thuộc
vào điều tra viên và bản cáo trạng của VKS trong khi thẩm tra cũng như qua
tranh tụng tại phiên Tòa thấy có đầy đủ chứng cứ chứng minh bị cáo có tội và
đủ chứng cứ để kết tội Tòa án mới có thể ra bản bán kết tội bị cáo.
Nếu trong trường hợp không có đủ chứng cứ chứng minh bị cáo có tội
hay không thì Tòa án phải ra bản án tuyên bị cáo vô tội.
- Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm:
Tranh tụng là hoạt động tại phiên tòa để các bên đưa ra các quan điểm
của mình và tranh luận lại để phản bác lại quan điểm của phía bên kia. Đồng
thời tranh tụng tại phiên tào cũng là cơ sở để Tòa án đánh giá các tình tiết,
nội dung vụ án và đưa ra kết quả phán quyết cuối cùng để đảm bảo được tính
khách quan, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Hoạt động tranh tụng
tại phiên tòa được xác định là rất quan trọng nên Điều 103 khoản 5 Hiến
pháp sửa đổi năm 2013 quy định “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được
bảo đảm”. Đây là một trong những đổi mới đáng chú ý vì lần đầu tiên Hiến
pháp đã ghi nhận nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử.
Vấn đề tranh tụng và nâng cao chất lượng tranh tụng luôn được quan tâm
đến rất nhiều, Đảng và Nhà nước ta cũng đã có nhiều chủ trương về vấn đề
này. Việt nâng cao chất lượng kiểm sát của Kiểm sát viên tại phiên tòa, bảo
đảm việc tranh tụng dân chủ với luật sư và những người tham gia tố tụng
khác... Tất cả các phán quyết của Tòa án chủ yếu là căn cứ vào kết quả tranh
tụng của phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ chứng cứ ý kiến của Kiểm sát
viên, của người bào chữa, luật sư, bị cáo và những người có quyền, lợi ích
hợp pháp để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục
17
và trong thời gian quy định”. Tiếp đó, Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005
của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 khẳng định:
bảo đảm tính dân chủ, khách quan. Tuy nhiên so với tình hình đặt ra thì hoạt
động tranh tụng chưa đáp ứng yêu cầu. Nguyên nhân của tình hình trên có
nhiều, trong đó có nguyên nhân từ những quy định của pháp luật về tranh
tụng tại phiên tòa và bảo đảm việc tranh tụng chưa rõ ràng nên hiệu lực của
nó chưa cao.
Hiến pháp sửa đổi năm 2013 quy định chính thức về nguyên tắc bảo đảm
tranh tụng như vậy sẽ tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức của cán bộ tư
pháp, của công dân trong quá trình thực hiện các quyền năng khi tham gia
tranh tụng. Đồng thời thực tiễn xét xử sẽ thay đổi, với bước tiến mới trọng
tâm là hoạt động tranh tụng được bảo đảm, phát huy tối đa tính công bằng,
dân chủ.
- Nguyên tắc “ khi xét xử có hội thẩm nhân dân tham gia, hội thẩm
ngang quyền với thẩm phán”:
Từ năm 1946 đến nay trong các bản Hiến pháp của nước ta và trong các
Luật tổ chức Tòa án năm 1960, 1981, 1992 đều quy định về sự tham gia của
hội thẩm trong quá trình xét xử của Tòa án và khi xét xử hội thẩm ngang
quyền với thẩm phán. Đối với những hội thẩm nhân dân theo luật tổ chức Tòa
án nhân dân năm1992 vẫn theo chế độ tuyển cử như trước. Các hội thẩm nhân
dân, Tòa án nhân dân tối cao, các hội thẩm quân nhân Tòa án quân sự được
cử, còn các hội thẩm nhân dân Tòa án nhân dân địa phương do hội đồng nhân
dân cùng cấp bầu ra, miễn nhiệm, bãi nhiệm.
Luật quy định hội thẩm chỉ được tham gia hội đồng xét xử sơ thẩm chứ
không được tham gia hội đồng xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm.
Khi tham gia xét xử, hội thẩm bình đẳng với thẩm phán trong việc giải
quyết các vấn đề phát sinh khi xét xử. Có quyền ngang với thẩm phán. Khi
xét xử các thành viên trong hội đồng xét xử đều có quyền đưa ra thảo luận tất
19