Chức năng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của tòa án theo pháp luật tố tụng hình sự việt nam từ thực tiễn quận sơn trà, đà nẵng - Pdf 51

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ THÙY TRANG

CHỨC NĂNG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
CỦA TÒA ÁN THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH
PHỐ ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - NĂM 2018


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ THÙY TRANG

CHỨC NĂNG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
CỦA TÒA ÁN THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH
PHỐ ĐÀ NẴNG

Ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 838.01.04

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. NGUYỄN VĂN HUYÊN


QUẬN SƠN TRÀ, TP. ĐÀ NẴNG..................................................................................... 55
3.1. Yêu cầu hoàn thiện pháp luật.......................................................................................... 55
3.2. Giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật.......................................................... 57
3.3. Giải pháp thực hiện chức năng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự tại Quận Sơn
Trà, TP. Đà Nẵng............................................................................................................................. 61
KẾT LUẬN....................................................................................................................................... 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLTTHS

: Bộ luật tố tụng hình sự

BLHS

: Bộ luật hình sự

TAND

: Tòa án nhân dân

TNHS

: Trách nhiệm hình sự

XXST

: Xét xử sơ thẩm


2.3.

Kết quả kháng cáo, kháng nghị từ năm 2013-2017

52


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm vừa qua, thực trạng về vi phạm pháp luật ở nước ta
diễn ra khá nghiêm trọng và diễn biến rất phức tạp, có chiều hướng gia tăng
ảnh hưởng đến quá trình hội nhập toàn cầu của đất nước. Với tình hình trên
các cơ quan tiến hành tố tụng đã cố gắng rất nhiều trong công tác thực thi
pháp luật nên đã góp phần vào việc giữ vững an ninh - chính trị, an toàn xã
hội. Tuy nhiên, chất lượng công tác tư pháp còn chưa ngang tầm với yêu cầu
và nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó, vẫn còn bộc lộ nhiều điểm yếu
kém như bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội, xâm phạm đến các quyền và
lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của xã hội và công dân.
Quyền lực nhà nước là một hệ thống nhất, có sự phân công rõ ràng giữa
các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và
tư pháp. Trong đó Tòa án nhân dân là cơ quan tư pháp, Tòa án được hiến định
là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nơi biểu hiện
tập trung của quyền tư pháp có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa;
bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ tài sản
nhà nước, của tập thể; bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm
của công dân.
Hiến pháp 2013 đã ghi nhận rằng xét xử chính là chức năng duy nhất của
Tòa án, tuy nhiên việc thể chế hóa quyết định của Hiến pháp vẫn còn rất nhiều
bất cập, trong đó BLHS 2015 quy định Tòa án được thực hiện cả một phần
của chức năng buộc tội như có quyền khởi tố vụ án, trả hồ sơ yêu cầu điều tra

tụng hình sự của Tòa án trong giai đoạn xét xử sơ thẩm đáp ứng yêu cầu cải
cách tư pháp” Thạc sĩ Nguyễn Thị Tuyết, tạp chí Tòa án nhân dân số 03/2011.
“Bàn về giới hạn xét xử của Tòa án theo quy định của pháp luật tố tụng hình
sự” của tác giả Nguyễn Duy Nam - Toà án quân sự Quân khu 4. ; bài "Về
tranh tụng tại phiên tòa hình sự" của tác giả Tống Anh Hào trong Tạp

2


chí Tòa án nhân dân số 5/2003; bài "Bàn về vấn đề tranh tụng trong tố tụng
hình sự" đăng trong Tạp chí Kiểm sát, tháng 9/2003 của tác giả Trần Đại
Thắng; bài viết của nhiều tác giả trong Đặc san nghề luật số 5/2003 về chuyên
đề mở rộng tranh tụng; cuốn chuyên khảo "Cải cách tư pháp ở Việt Nam
trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền" do TSKH Lê Cảm và TS.
Nguyễn Ngọc Chí đồng chủ biên, có nhiều bài viết của các tác giả (Nxb Đại
học quốc gia, 2004)... Nhưng những bài viết đó chỉ đề cập đến một số vấn đề
nhất định liên quan đến vấn đề chức năng xét xử của Tòa án và còn khá nhiều
ý kiến trái ngược nhau xung quanh ý tưởng đổi mới hoạt động xét xử của
ngành Tòa án Việt Nam, vẫn chưa làm rõ cơ sở lý luận về chức năng xét xử
của Tòa án trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Đồng thời nghiên
cứu cơ sở khoa học của các quy định về chức năng của Tòa án sơ thẩm trong
xét xử các vụ án hình sự, đưa ra các ý kiến đóng góp xây dựng pháp luật cũng
như yêu cầu nhận thức của người tham gia tiến hành tố tụng. Đó chính là lý
do để tác giả tiếp tục nghiên cứu đề tài này.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Đề tài nhầm hướng tới đề ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật cũng như
nâng cao hiệu quả thực hiện chức năng xét xét xử sơ thẩm của Tòa án trên cơ
sở làm rõ lý luận và thực tiễn thực hiện chức năng của Tòa án quận Sơn Trà,
Tp Đà Nẵng.

là một chuỗi quá trình tiến hành tố tụng và phải trải qua nhiều quy trình pháp
lý khác nhau. Hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của TAND quận huyện
tại TP Đà Nẵng nói chung và TAND quận Sơn Trà nói riêng hiện nay là một
đề tài tương đối rộng, chứa đựng nhiều vấn đề liên quan đến lý luận và thực
tiễn, đòi hỏi cần phải nghiên cứu một cách khách quan khoa học. Do đó, phạm
vi nghiên cứu một cách khách quan khoa học, do đó phạm vi nghiên cứu của
luận văn là:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận và các quy định của Bộ luật tố tụng
năm 2015 liên quan đến chức năng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.

4


- Về không gian nghiên cứu tình hình xét xử sơ thẩm VAHS trên địa bàn
quận Sơn trà, thành phố Đà Nẵng.
- Về thời gian thực tiễn hoạt động xét xử sơ thẩm VAHS của Tòa án nhân
dân quận Sơn Trà, Tp Đà Nẵng từ năm 2012 đến 2017.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Phương pháp lý luận của luận văn là những thành tựu của các nhà khoa
học: triết học, luật tố tụng hình sự, luật hình sự…phép duy vật biện chứng và
duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mac – Lê nin, tư thưởng Hồ Chí Minh, đường
lối, chính sách của Đảng về nhà nước và pháp luật.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài luận văn, còn sử dụng trong một số tổng thể các
phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau: hệ thống, lịch sử, loogis, tổng hợp,
so sánh, dự báo, kết hợp với phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia để
chọn lọc trí thức khoa học, kinh nghiện thực tiễn trong áp dụng thủ tục xét xử
của Tòa án.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

nhau được điều chỉnh bởi những nguyên tắc hoặc quy định của luật. Chức
năng không cơ bản của TTHS là những phương diện hoạt động không tiêu
biểu cho hoạt động TTHS và không liên quan trực tiếp đến sự tồn tại hoặc
chấm dứt hoạt động TTHS nhưng cũng góp phần thực hiện nhiệm vụ chung
của TTHS. Ngoài ra các chức năng này tồn tại nhằm hỗ trợ cho các chức chức
năng cơ bản của TTHS. Chức năng buộc tội, chức năng bào chữa và chức
năng xét xử là ba chức năng cơ bản Trong TTHS.
Chức năng của TTHS là những phương diện (hay những dạng) hoạt
động TTHS do các chủ thể (hoặc nhóm chủ thể) khác nhau thực hiện theo quy
định của BLTTHS với nội dung, định hướng độc lập với nhau nhưng lại gắn
kết với nhau một cách hữu cơ nhằm thực hiện nhiệm vụ chung của TTHS.[22;
tr.4]
+ Chức năng buộc tội: là một trong những chức năng cơ bản của Tố
Tụng Hình Sự nó luôn nhằm hướng vào một cá nhân cụ thể và thực chất đó
chính là hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội.
Trong chức năng buộc tội thì hình thức buộc tội giữ vai trò là khâu khởi động
của hoạt động tố tụng, giữ vai trò chủ đạo và là tiền đề cho việc thực hiện các
chức năng còn lại của hoạt động TTHS, có buộc tội thì mới có gỡ tội và sự

7


xuất hiện của hai mặt đối lập này làm phát sinh nhu cầu phải có một cơ quan
trọng tài giữ vai trò trung lập để xét xử. Theo quan điểm của nhiều nhà khoa
học, về cơ bản đều có sự thống nhất là chức năng buộc tội luôn bắt đầu từ giai
đoạn điều tra, tuy nhiên về chủ thể thực hiện chức năng buộc tội thì vẫn còn
rất nhiều quan điểm. Có quan điểm cho rằng: “Buộc tội không phải là chức
năng riêng của VKS, mà thông qua hoạt động điều tra theo quy định của pháp
luật, CQĐT cũng thực hiện chức năng buộc tội” [ 20, tr.68]. Nhưng có quan
điểm khác thì lại cho rằng “Chức năng buộc tội là hoạt động của Viện kiểm

buộc tội và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho mình.
Hoạt động bào chữa trong vụ án hình sự là một hành động tự vệ hợp
pháp của người bị buộc tội, bên bị buộc tội sử dụng các quyền năng mà pháp
luật cho phép mình để đưa ra những chứng cứ và lập luận để chống lại sự
buộc tội và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Chức năng bào chữa bắt đầu từ Quyền được bào chữa của người bị buộc
tội mà phát sinh trên quyền bào chữa là sự buộc tội. Chủ thể của quyền bào
chữa bao gồm: bị can, bị cáo, người bị bắt, người bị tạm giữ. Chủ thể thực
hiện quyền bào chữa đó là: người bào chữa, người bị buộc tội. Phạm vi bào
chữa được bắt đầu từ khi bị buộc tội và kết thúc khi bản án cho đến khi quyết
định của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Mục đích chính của chức năng bào
chữa đó là giảm nhẹ trách nhiệm cho bên bị buộc tội và phản kháng lại bên
buộc tội.
+

Chức năng xét xử: Là một dạng hoạt động Tố tụng hình sự được phát

sinh khi có cáo buộc từ cáo trạng của Viện kiểm sát, nó được thực hiện rõ bởi
chức năng của Tòa án trên cơ sở tranh tụng một cách bình đẳng, dân chủ
nhằm xem xét và giải quyết vụ án hình sự bằng việc ra bản án, quyết định bị
cáo có tội hay vô tội, hình phạt và các biện pháp tư pháp theo quy định của
pháp luật. Xét xử là hoạt động duy nhất chỉ do Tòa án thực hiện còn các cơ
quan nhà nước khác, các tổ chức và cá nhân không có chức

9


năng này chính vì vậy bản án của Tòa án được đảm bảo bởi sức mạnh của nhà
nước. Xét xử là hoạt động nhân danh quyền lực của nhà nước do Tòa án thực
hiện, nhằm để giải quyết các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân gia đình, kinh tế,

Tại phiên Tòa Hội đồng xét xử điều khiển phiên Tòa, thực hiện việc
tranh tụng giữa bên buộc tội và bên bào chữa, còn Toà án thực hiện chức năng
xét xử, làm trọng tài phân xử đưa ra các phán quyết giải quyết vụ án. Như vậy,
chức năng xét xử chỉ thuộc về một chủ thể duy nhất đó là Toà án và chỉ có thể
được thực hiện ở tại phiên toà. Chức năng xét xử sơ thẩm bắt đầu từ thời điểm
Tòa án thụ lý vụ án, sau đó Tòa án thực hiện các công việc chuẩn bị xét xử,
khi có đủ điều kiện thì Tòa án sẽ đưa vụ án ra xét xử. Toà án có trách nhiệm
thẩm tra tất cả các chứng cứ của vụ án và bảo đảm sự bình đẳng và các điều
kiện cần thiết khác để các bên tiến hành tranh tụng một cách khách quan, toàn
diện và công bằng về các vấn đề của vụ án làm cơ sở để Toà án ra bản án
không kết tội hoặc kết tội và tuyên hình phạt đối với bị cáo. Từ những phân
tích trên thì có thể rút ra chức năng của Tòa án trong giai đoạn xét xử sơ thẩm
vụ án hình sự là xét xử với tính chất xét xử lần đầu, toàn diện, đầy đủ toàn bộ
các vấn đề của vụ án, bao gồm và thể hiện qua các hành vi tố tụng từ thời
điểm tòa án nhận hồ sơ, thụ lý vụ án cho đến khi HĐXX tuyên án và bế mạc
phiên tòa mà mục đích cuối cùng là giải quyết triệt để một vụ án.
1.2. Đặc điểm chức năng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án
1.2.1. Chỉ do Tòa án có thẩm quyền thực hiện
TAND có nhiệm vụ “bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền
công dân, bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi
ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” (khoản 3, Điều 102). Hiến pháp năm 2013
quy định TAND là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, thực
hiện quyền tư pháp. Đây là điểm rất mới so với Hiến pháp năm 1992.
Nội dung mới này có ý nghĩa rất quan trọng, nó nhằm mục đích phân
định quyền lực của nhà nước theo hướng:

11


“TAND” là cơ quan thực hiện quyền tư pháp.


theo pháp luật.
1.2.2. Tòa án thực hiện hoạt động xét xử để ra bản án, quyết định giải
quyết vụ án
+ Tòa án chuẩn bị xét xử bằng việc nghiên cứu hồ sơ nếu thấy thiếu
chứng cứ hoặc có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng thì Trả hồ sơ điều tra
bỏ sung… Nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự là một hoạt động quan trọng trong
quá trình giải quyết vụ án hình sự của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân.
+ khi có đủ điều kiện phẩm đươc phân công chủ tọa phiên tòa ra quyết
định đưa vụ án ra xét xử, tại phiên tòa HĐXX Điều khiển phiên Tòa với sự
tham gia của đại diện Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng. Thực
hiện tranh tụng tại phiên tòa Tòa án không hỏi chính mà chỉ nghe bên buộc tôi
(VKS) và bên gỡ tội (Luật sư bào chữa) xét hỏi và đưa ra những lý lẻ lập luận
để chứng minh bị cáo có tội hay không có tội và chỉ khi Tòa án cho phép bên
nào nói thì bên đó mới được phát biểu ý kiến của mình.
+ Trên cơ sở các kết quả tranh tụng tại phiên tòa HĐXX nghị án và ra
bản án, quyết định giải quyết vụ án. Nếu bị cáo không có tội thì ra bản án
tuyên bố bị cáo vô tội, nếu bị cáo có tội thì ra bản án tuyên hình phạt áp dụng
đối với bị cáo.
1.2.3. Xem xét, giải quyết toàn bộ các vấn đề trong vụ án hình sự
+ HĐXX Xem xét bị cáo có tội hay không có tội, phạm tội gì, theo
khung hình phạt nào
+ Áp dụng hình phạt tương ứng với bản chất và mức độ nguy hiểm của
hành vi phạm tội
+ Xử lý vật chứng của vụ án.
+ Giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự.
1.3. Các nguyên tắc khi thực hiện chức năng xét xử sơ thẩm vụ án
hình sự của Tòa án
Một số nguyên tắc cơ quan sau có liên quan chặt chẽ với chức năng xét



14


pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện
và đầy đủ, làm rõ chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, tình
tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc
tội”.
Quá trình giả quyết vụ án thông qua những giai đoạn khác nhau, nhưng
các giai đoạn đó đều có mục đích chung là tìm ra sự thật của vụ án. Đây cũng
chính là nhiệm vụ bao trùm của hoạt động tố tụng hình sự. Do đó, đây là
nguyên tắc cơ bản của Luật tố tụng hình sự. Để đấu tranh chống tội phạm đạt
được hiệu quả tốt thì mọi hành vi phạm tội đều được phát hiện và xử lý trước
pháp luật, luật tố tụng hình sự đã ghi nhận nguyên tắc xác định sự thật của vụ
án.
- Suy đoán vô tội
Nguyên tắc này không còn là riêng biệt trong pháp luật của từng quốc
gia mà nó đã được toàn cầu hóa Cụ thể được ghi nhận:
“1. Bất kỳ một người nào bị cáo buộc trong việc thực hiện tội phạm đều
có quyền được coi là chưa có tội khi lỗi của họ chưa được chứng minh bằng
một phiên tòa công khai theo một thủ tục do pháp luật quy định và tại phiên
tòa đó họ được hưởng tất cả những bảo đảm cần thiết cho việc bào chữa của
mình;
2. Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt bởi một hành vi mà
BLHS không coi là tội phạm tại thời điểm thực hiện hành vi đó”,[4,tr.15]
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định nguyên tắc suy đoán vô tội
như sau:
Điều 13. Suy đoán vô tội
“Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng
minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của

bản án của tòa án đã tuyên đối với người này là có tội và bản án đó đã có hiệu
lực pháp luật. Điều này khẳng định chỉ có Tòa án là chủ thể duy nhất có thẩm

16


quyền ra bản án, tuyên bố một người có tội hay không có tội. Ngoài Tòa án thì
không có bất kỳ cơ quan nhà nước nào được ra bản án kết tội bị cáo.
Thứ hai Trong khi xét xử Tòa án không thể buộc bị cáo phải chứng minh
mình không phạm tội, việc bị cáo có phạm tội hay không phạm tội phụ thuộc
vào điều tra viên và bản cáo trạng của VKS trong khi thẩm tra cũng như qua
tranh tụng tại phiên Tòa thấy có đầy đủ chứng cứ chứng minh bị cáo có tội và
đủ chứng cứ để kết tội Tòa án mới có thể ra bản bán kết tội bị cáo.
Nếu trong trường hợp không có đủ chứng cứ chứng minh bị cáo có tội
hay không thì Tòa án phải ra bản án tuyên bị cáo vô tội.
- Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm:
Tranh tụng là hoạt động tại phiên tòa để các bên đưa ra các quan điểm
của mình và tranh luận lại để phản bác lại quan điểm của phía bên kia. Đồng
thời tranh tụng tại phiên tào cũng là cơ sở để Tòa án đánh giá các tình tiết, nội
dung vụ án và đưa ra kết quả phán quyết cuối cùng để đảm bảo được tính
khách quan, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Hoạt động tranh tụng tại
phiên tòa được xác định là rất quan trọng nên Điều 103 khoản 5 Hiến pháp
sửa đổi năm 2013 quy định “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo
đảm”. Đây là một trong những đổi mới đáng chú ý vì lần đầu tiên Hiến pháp
đã ghi nhận nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử.
Vấn đề tranh tụng và nâng cao chất lượng tranh tụng luôn được quan tâm
đến rất nhiều, Đảng và Nhà nước ta cũng đã có nhiều chủ trương về vấn đề
này. Việt nâng cao chất lượng kiểm sát của Kiểm sát viên tại phiên tòa, bảo
đảm việc tranh tụng dân chủ với luật sư và những người tham gia tố tụng
khác... Tất cả các phán quyết của Tòa án chủ yếu là căn cứ vào kết quả tranh

Ngoài ra thì quy định nguyên tắc này trong Hiến pháp đã tạo sự chuyển
biến rất mạnh mẽ cả về nhận thức lẫn hoạt động thực tiễn trong công tác xét
xử của Tòa án. Các quy định pháp TTHS hiện hành đang phát huy hiệu lực
trên công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội... Hiệu quả của

18


công tác điều tra, truy tố, xét xử ngày càng cao, việc tranh luận tại phiên tòa
bảo đảm tính dân chủ, khách quan. Tuy nhiên so với tình hình đặt ra thì hoạt
động tranh tụng chưa đáp ứng yêu cầu. Nguyên nhân của tình hình trên có
nhiều, trong đó có nguyên nhân từ những quy định của pháp luật về tranh tụng
tại phiên tòa và bảo đảm việc tranh tụng chưa rõ ràng nên hiệu lực của nó
chưa cao.
Hiến pháp sửa đổi năm 2013 quy định chính thức về nguyên tắc bảo đảm
tranh tụng như vậy sẽ tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức của cán bộ tư
pháp, của công dân trong quá trình thực hiện các quyền năng khi tham gia
tranh tụng. Đồng thời thực tiễn xét xử sẽ thay đổi, với bước tiến mới trọng
tâm là hoạt động tranh tụng được bảo đảm, phát huy tối đa tính công bằng,
dân chủ.
- Nguyên tắc “ khi xét xử có hội thẩm nhân dân tham gia, hội thẩm
ngang quyền với thẩm phán”:
Từ năm 1946 đến nay trong các bản Hiến pháp của nước ta và trong các
Luật tổ chức Tòa án năm 1960, 1981, 1992 đều quy định về sự tham gia của
hội thẩm trong quá trình xét xử của Tòa án và khi xét xử hội thẩm ngang
quyền với thẩm phán. Đối với những hội thẩm nhân dân theo luật tổ chức Tòa
án nhân dân năm1992 vẫn theo chế độ tuyển cử như trước. Các hội thẩm nhân
dân, Tòa án nhân dân tối cao, các hội thẩm quân nhân Tòa án quân sự được
cử, còn các hội thẩm nhân dân Tòa án nhân dân địa phương do hội đồng nhân
dân cùng cấp bầu ra, miễn nhiệm, bãi nhiệm.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status