Rối loạn hành vi ở trẻ vị thành niên sống trong cơ sở bảo trợ xã hội (luận văn thạc sỹ) - Pdf 52

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---------------------------------------

LÊ THỊ HƢƠNG THƠ

RỐI LOẠN HÀNH VI Ở TRẺ VỊ THÀNH NIÊN
SỐNG TRONG CƠ SỞ BẢO TRỢ XÃ HỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

Hà Nội - 2017


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---------------------------------------

LÊ THỊ HƢƠNG THƠ

RỐI LOẠN HÀNH VI Ở TRẺ VỊ THÀNH NIÊN
SỐNG TRONG CƠ SỞ BẢO TRỢ XÃ HỘI

CHUYÊN NGÀNH: TÂM LÝ HỌC
MÃ SỐ: 60 31 04 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Bá Đạt

Hà Nội - 2017



MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Phần lớn chúng ta được sinh ra và lớn lên dưới mái ấm gia đình, có đủ cha
mẹ, anh chị em. Tuy nhiên, vẫn có nhiều trẻ em thiếu đi may mắn đó. Năm 2007,
Bộ LĐ-TBXH ước tính có trên 2,6 triệu trẻ em Việt Nam sống trong hoàn cảnh
“đặc biệt”, chiếm 9% trong tổng số 30,2 triệu trẻ em. Con số này bao gồm 1,2 triệu
trẻ khuyết tật; 168.000 trẻ mồ côi và trẻ bị cha mẹ bỏ rơi, 27.000 trẻ phải làm việc
và 3.000 trẻ em đường phố. Bộ LĐ-TBXH báo cáo thống kê có khoảng trên 14.000
trẻ sống trong các cơ sở bảo trợ của Nhà nước. Một phần trong số các em được nuôi
dưỡng trong cơ sở bảo trợ xã hội. [6]
Nghiên cứu của các tác giả trên thế giới chỉ ra rằng, trẻ em sống trong cơ sở
bảo trợ xã hội có nguy cơ rối loạn cảm xúc và hành vi. Suzuki và Tomoda (2015)
nhận định, trẻ em sống trong các cơ sở bảo trợ xã hội là những trẻ dễ bị tổn thương
bởi các em đã trải qua nhiều tình huống căng thẳng trước khi vào sống trong cơ sở
bảo trợ. Những căng thẳng trước đó được xác định là những yếu tố nguy cơ khiến
cho trẻ gặp những khó khăn về cảm xúc và hành vi trong thời điểm hiện tại và
tương lai. Nghiên cứu của Jozefiak và cộng sự (2016); Schmid, Goldbeck, Nuetzel,
và Fegert (2008) đã chỉ ra tỷ lệ và nguy cơ mắc phải những rối loạn cảm xúc và
hành vi ở trẻ em và trẻ vị thành niên sống trong các cơ sở bảo trợ xã hội.
Ở Việt Nam, trong những năm qua, đã có một số nhà nghiên cứu quan tâm
đến trẻ em có hoàn cảnh khó khăn được chăm sóc, nuôi dưỡng trong các cơ sở bảo
trợ xã hội, kết quả nghiên cứu của họ chỉ ra rằng, trẻ em sống trong các cơ sở bảo
trợ xã hội có nguy cơ rối nhiễu tâm lý cao hơn sơ với trẻ em sống cùng gia đình tại
cộng đồng (Hoàng Tú Anh và cộng sự, 2014); có sự khách biệt nhất định trong việc
tự đánh giá giữa trẻ em sống ở các trung tâm bảo trợ xã hội và nhóm trẻ em sống
cùng gia đình (Bùi Hồng Quân, 2014).
Mặc dù đã có những tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu về trẻ em sống
trong cơ sở bảo trợ xã hội, nhưng những khoảng trống trong nghiên cứu về hành vi


2


Xác định các yếu tố ảnh hưởng góp phần làm tăng, giảm nhẹ rối loạn hành vi
ở trẻ vị thành niên sống trong cơ sở bảo trợ xã hội.
Nhiệm vụ nghiên cứu thực tiễn
Khảo sát thực trạng rối loạn hành vi ở trẻ vị thành niên đang được nuôi
dưỡng trong các cơ sở bảo trợ xã hội hiện nay.
Đề xuất một số khuyến nghị nhằm nâng cao công tác phòng ngừa, can thiệp
rối loạn hành vi ở trẻ vị thành niên sống trong cơ sở bảo trợ xã hội.
4. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là mức độ và các hình thức biểu hiện rối
loạn hành vi; các yếu tố ảnh hưởng góp phần làm tăng và các yếu tố bảo vệ góp phần làm
giảm rối loạn hành vi ở trẻ vị thành niên sống trong cơ sở bảo trợ xã hội.
5. Giới hạn nghiên cứu
5.1. Giới hạn về nội dung nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu một số nội dung sau: (1) Đặc điểm và hình thức
biểu hiện rối loạn hành vi ở trẻ vị thành niên có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn đang
sống trong các cơ sở bảo trợ xã hội; (2) Các yếu tố nguy cơ như hành vi bắt nạt, tâm
trạng buồn chán, cảm nhận tiêu cực về gia đình, khó khăn trong giao tiếp của trẻ
góp phần làm tăng rối loạn hành vi; (3) Các yếu tố bảo vệ như sự tương trợ lẫn
nhau, mối liên hệ với gia đình gốc, số bạn bè thân, các hoạt động văn thể diễn ra
trong cơ sở làm giảm rối loạn hành vi ở trẻ.
5.2. Giới hạn về địa bàn nghiên cứu
Địa bàn nghiên cứu gồm có: Làng trẻ em SOS Hà Nội, thuộc hệ thống Làng
SOS Việt Nam có chức năng chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ em mồ côi – mất nguồn
nuôi dưỡng; Làng trẻ em Birla Hà Nội trực thuộc sở Lao động, Thương bình và Xã
hội Hà Nội. Làng trẻ em Birla có chức năng đón và nuôi dưỡng trẻ em có hoàn cảnh
đặc biệt khó khăn của thành phố Hà Nội.

tương trợ lẫn nhau là nổi bật hơn cả.
8. Phƣơng pháp nghiên cứu

4


Căn cứ vào mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương
pháp nghiên cứu (xem thêm ở chương II).
Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Phương pháp này được sử dụng nhằm khái quát hóa những tài liệu, công
trình nghiên cứu liên quan, phục vụ cho việc xây dựng cơ sở lý luận của đề tài và hệ
thống hóa lý thuyết và xây dựng khung lý thuyết cho vấn đề nghiên cứu.
Phương pháp quan sát
Mục đích của quan sát là tìm hiểu biểu hiện của (rối loạn) hành vi. Các số liệu thu
được được xem như nguồn tài liệu bổ trợ cho phương pháp điều tra bảng hỏi.
Nhóm nghiên cứu tiến hành quan sát hoạt động vui chơi trong Làng, hoạt động học
tập, làm công việc nhà của trẻ.
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, thang đo
Phương pháp này sẽ chỉ ra các biểu hiện, mức độ của hành vi sai phạm và
hành vi gây hấn, từ đó tìm ra các yếu tố ảnh hưởng dẫn đến rối loạn hành vi và các
yếu tố bảo vệ giúp giảm rối loạn hành vi ở trẻ.
Phương pháp phỏng vấn sâu
Chúng tôi thực hiện phỏng vấn sâu một số trẻ vị thành niên sống trong cơ sở
bảo trợ xã hội để thu thập thêm thông tin, phục vụ cho nghiên cứu.
Phương pháp thảo luận nhóm
Thảo luận với nhóm trẻ vị thành niên và nhóm các mẹ, các dì; mỗi nhóm khoảng
15 người. Mục đích của phương pháp này là tìm hiểu các khó khăn trẻ gặp phải và các
biểu hiện hành vi của trẻ vị thành niên sống trong cơ sở bảo trợ xã hội.
Phương pháp phân tích, thống kê (toán học)
Xử lý thang đo: độ tin cậy, độ hiệu lực, phân tích nhân tố và xử lý kết quả

và phương tiện truyền thông đối với hành vi gây hấn, bạo lực ở thanh thiếu niên
[19]. Anjali Subbarao và cs (2008) nghiên cứu về sự ảnh hưởng của gen và môi
trường sống đối với rối loạn trầm cảm điển hình và rối loạn hành vi ở trẻ [17].
Những nghiên cứu gần đây về vấn đề nguồn gốc rối loạn hành vi ở trẻ em và trẻ vị
thành niên chỉ ra sự tác động tương hỗ giữa các yếu tố sinh học, tâm lý và môi
trường sống. Các yếu tố này đều có thể đóng vai trò nguồn gốc hoặc làm gia tăng
rối loạn hành vi ở trẻ.

6


1.1.2. Một số nghiên cứu ở nước ngoài về trẻ vị thành niên sống trong cơ sở bảo
trợ xã hội
Những nghiên cứu về những khó khăn tâm lý ở trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
khó khăn được nuôi dưỡng trong các cơ sở bảo trợ xã hội xuất hiện từ những năm
1990 của thế kỷ trước. Một trong số những nghiên cứu đầu tiên về chủ đề này là
nghiên cứu về rối loạn tâm thần ở thanh thiếu niên trong các cơ sở chăm sóc nội trú
(McCann, 1996); tiếp đến là những nghiên cứu về những điều được và mất của việc
nuôi dưỡng trẻ em trong các cơ sở nội trú (Polnay, 1997); các yếu tố tâm lý xã hội
của trẻ em sống trong các cở sở chăm sóc nội trú và các dịch vụ trợ giúp
(Hukkanen, Sourander, Bergroth, và Piha, 1999). Cho đến những năm gần đây,
những khó khăn tâm lý ở trẻ em được nuôi dưỡng trong các cơ sở bảo trợ xã hội
mới được quan tâm nhiều hơn. Phần tổng quan của đề tài sẽ nêu ra một số nghiên
cứu điển hình về: những khó khăn tâm lý điển hình ở trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
khó khăn sống trong các cơ sở bảo trợ xã hội, các yếu tố nguy cơ làm gia tăng các
khó khăn tâm lý, các yếu tố bảo vệ giúp trẻ tránh gặp phải các khó khăn tâm lý và
các hình thức can thiệp những khó khăn tâm lý.
Bảng số liệu dưới đây tổng hợp kết quả nghiên cứu những khó khăn tâm lý ở trẻ
em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được nuôi dưỡng trong các cơ sở bảo trợ xã hội.
Kết quả đánh giá bằng thang đo SDQ cho thấy, nhóm trẻ em sống trong cơ sở nội

Trẻ em sống
trong khu nội trú
Trẻ em được nhận
Burns và cs., nuôi
2004
Trẻ em sống ở cơ
sở nội trú
Schmid,
Goldbeck,
Trẻ em sống ở cở
Nuetzel và
sở nội trú
Fegert, 2008
Janssens và Trẻ em được nhận
Deboutte,
nuôi, trẻ em sống
2009
ở cơ sở nội trú

Số
lượng

Trẻ em bị
rối loạn tâm lý

(N)

(%)

91

63,1 %
3803
88,6 %
686

59,9 %

292

56 %

Bảng hỏi
cấu trúc
Bronsard và
cs., 2011

Trẻ em sống ở
các cở sở nội trú

Jozefiak và
cs., 2016
[20]

Trẻ em sống ở
các cơ sở nội trú

183

48,6 %


62 % trẻ em trong mẫu khảo sát có ít nhất một khó khăn học đường, điển hình đó là
các hành vi bạo lực học đường, từ chối tham gia các hoạt động diễn ra trong trường
(Attar-Schwartz, 2009).
Những khó khăn tâm lý trên có xu hướng kết hợp, đan xen, quyện vào nhau,
biểu hiện bên ngoài của đứa trẻ có thể là những hành vi chống đối, phá phách, vi
phạm kỷ luật, bên trong là một sự lo lắng, sợ hãi và buồn rầu (Jozefiak và cs.,
2016).
Bên cạnh đó, theo Thompson và Auslander (2007), hoàn cảnh kinh tế khó
khăn, mối quan hệ phức tạp của trẻ với bạn bè trước đó có mối liên hệ với rối loạn
hành vi sau khi trẻ được nuôi dưỡng trong các cơ sở bảo trợ xã hội.
Như vậy, các nghiên cứu đã chỉ ra, trẻ em được nuôi dưỡng trong cơ sở bảo
trợ xã hội có khó khăn tâm lý, trong đó có rối loạn hành vi - vấn đề mà nghiên cứu
đang quan tâm.
Trước thực trạng này, một câu hỏi được đặt ra với các nhà nghiên cứu: Điều
gì có thể giúp trẻ em đang được nuôi dưỡng trong cơ sở bảo trợ xã hội tránh/ giảm
thiểu các khó khăn tâm lý nói chung và rối loạn hành vi nói riêng?

9


1.1.4. Một số nghiên cứu ở nước ngoài về những yếu tố góp phần làm tăng /
giảm rối loạn hành vi ở trẻ vị thành niên sống trong cơ sở bảo trợ xã hội
Một số nghiên cứu sau này đã chỉ ra những yếu tố bảo vệ, giúp cho trẻ em và thanh
thiếu niên bị ngược đãi phục hồi sức khỏe tâm thần, tránh được những khó khăn
tâm lý sau khi các em được đưa vào nuôi dưỡng trong các cơ sở bảo trợ xã hội, đó
là môi trường sống an toàn, mối quan hệ thân thiện với cán bộ chăm sóc (Drapeau,
Saint-Jacques, Lepine, Begin và Bernard, 2007). Sống trong cơ sở nội trú có đầy đủ
trang thiết bị, chế độ dinh dưỡng đảm bảo, các cán bộ chăm sóc được đào tạo bài
bản, hiểu được hoàn cảnh của trẻ giúp cho sự hình thành và phát triển tình cảm gắn
bó với mọi người xung quanh, từ đó sự phục hồi sức khỏe diễn ra nhanh hơn

hướng thể hiện hành vi gây hấn cao hơn trẻ khác. Tuy vậy, đặc điểm của nơi sống
không tác động lên hành vi của những trẻ ở theo nhóm tại nhà. Kết quả nghiên cứu
gợi ý rằng các vấn đề sức khỏe tâm thần ở trẻ và dạng khuyết tật mà trẻ có nên được
xem xét trong quá trình phân bổ nơi ở và các can thiệp tập trung vào việc làm giảm
sự kỳ thị nên được đẩy mạnh và cung cấp cho trẻ được chăm sóc ngoài gia đình.
[22]
Một số nghiên cứu ở trong nước về rối loạn hành vi ở trẻ vị thành niên
Nghiên cứu “Một số biểu hiện rối nhiễu hành vi của học sinh cuối tuổi tiểu học”
của Dương Thị Diệu Hoa và Trịnh Thanh Trang (2011) đã tìm hiểu thực trạng rối
nhiễu tâm lý trên 402 trẻ cuối bậc tiểu học tại 2 trường tiểu học tỉnh Kiên Giang.
Thông qua bộ câu hỏi trắc nhiệm CBCL - phiếu liệt kê hành vi trẻ em lứa tuổi 4-18
tuổi (bộ trắc nhiệm đã được chuẩn hóa và bước đầu được áp dụng để phát hiện,
nhận dạng và phân loại những hành vi rối nhiễu tâm lý thường gặp ở trẻ em Việt
Nam), hai tác giả đã chỉ ra được thực trạng rối nhiễu hành vi ở học sinh. Tất cả 112
hành vi được phân thành 9 nhóm thể hiện mức rối nhiễu hành vi cần can thiệp. Các
rối nhiễu thường gặp ở trẻ là rối nhiễu hành vi và cảm xúc. Để xử lý kết quả trắc
nhiệm CBCL do trẻ tự ghi, nhóm nghiên cứu đã nhóm các biến theo khối lớp (lớp 4,
lớp 5), theo địa bàn thành phố và nông thôn (tương ứng là trường Hồng Bàng và
trường Thạnh Đông A), nhóm hành vi rối nhiễu (hướng nội, hướng ngoại) để tìm
hiểu có sự khác nhau hay không về tỷ lệ rối nhiễu ở trẻ theo các tiêu chí trên. Kết
quả nghiên cứu cũng cho thấy, số em có rối nhiễu hành vi chiếm tỷ lệ khá cao: 96

11


trẻ (chiếm tỷ lệ 23,9%) có biểu hiện rối nhiễu hành vi cần được can thiệp và 111
học sinh (chiếm tỷ lệ 27,6%) đang ở mức có nguy cơ rối nhiễu. [5]
Nghiên cứu của GS. Đặng Phương Kiệt (1999) trên 1.266 học sinh THPT khu vực
Hà Nội cho thấy có 9,24% khách thể (117 trẻ) có biểu hiện rối nhiễu hành vi; năm
2000, tác giả Nguyễn Công Khanh cùng các cộng sự nghiên cứu trên 503 học sinh

trong cơ sở bảo trợ xã hội” làm đề tài nghiên cứu.
Tổng quan một số nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước liên quan đến vấn
đề nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy, các tác giả trên thế giới có xu hướng nghiên
cứu sự tác động tương hỗ giữa các yếu tố sinh học, tâm lý, môi trường sống đến sự
hình thành và làm gia tăng rối loạn hành vi của trẻ em nói chung. Các tác giả trong
nước có xu hướng chỉ ra sự tác động của yếu tố môi trường sống, văn hóa xã hội tới
rối loạn hành vi. Chưa có nhiều công trình nghiên cứu về rối loạn hành vi ở nhóm
trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, mất nguồn nuôi dưỡng, đang sống trong các
cơ sở bảo trợ xã hội, cũng không có nhiều các nghiên cứu trong nước về sự tác động
của yếu tố gia đình gốc và môi trường sống tập trung trong các cơ sở bảo trợ xã hội
đối với rối loạn hành vi ở nhóm trẻ em này, đây là một khoảng trống trong nghiên
cứu về rối loạn hành vi ở trẻ vị thành niên. Do vậy, luận văn sẽ tập trung nghiên cứu
rối loạn hành vi ở trẻ vị thành niên đang sống trong cơ sở bảo trợ xã hội, bên cạnh
đó là sự ảnh hưởng của hoàn cảnh gia đình gốc, môi trường sống tập trung đến rối
loạn hành vi ở trẻ.
1.2. Những khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1. Rối loạn hành vi
1.2.1.1. Khái niệm rối loạn hành vi
Rối loạn hành vi được Hiệp hội các Nhà tâm thần học Mỹ định nghĩa là những
khuôn mẫu hành vi lặp đi lặp lại nhiều lần trong đó các quyền cơ bản của người
khác, các chuẩn mực xã hội (phù hợp với lứa tuổi) hay các luật lệ bị vi phạm.
Những trẻ với rối loạn hành vi có tần suất cao các hành vi đánh nhau, tàn ác với
động vật hoặc người khác, phá hoại tài sản, nghịch lửa, trộm cắp, thường xuyên nói
dối, trốn học, bỏ nhà ra đi, thường xuyên trong trạng thái cáu kỉnh và có những

13


hành vi thách thức bằng lời nói. Những trẻ rối loạn hành vi hay vi phạm các mong
đợi xã hội (độ tuổi phù hợp của trẻ); thường xuyên có những hành vi nghiêm trọng

hành vi thách thức bằng lời nói. Những trẻ rối loạn hành vi hay vi phạm các mong
đợi xã hội (độ tuổi phù hợp của trẻ); thường xuyên có những hành vi nghiêm trọng
hơn so với hành vi tinh nghịch ở các bạn cùng tuổi hoặc có những hành vi mang
tính nổi loạn chống đối với người lớn. Ngoài ra, các biểu hiện này phải kéo dài liên
tục trong sáu tháng thì mới đủ tiêu chuẩn để chẩn đoán rối loạn hành vi.
Rối loạn hành vi còn được hiểu là một trong số những rối loạn tâm lý và các vấn đề
sức khỏe tâm thần thường gặp ở trẻ vị thành niên. Rối loạn hành vi thuộc nhóm các
vấn đề hướng ngoại (các hành vi hướng ra bên ngoài, hướng đến người khác).
Trong số các hình thức của rối loạn hành vi, nhóm nghiên cứu chúng tôi tập trung
vào hành vi gây hấn (hung tính) và hành vi sai phạm (vi phạm).
Hành vi gây hấn là những dạng lời nói hoặc hành động có chủ đích làm tổn thương,
hại đến người khác hoặc vật khác. Gây hấn có thể bao gồm: cãi cọ, bắt nạt, đòi được
chú ý, phá đồ của mình / đồ của người khác, không nghe lời / vâng lời thầy cô / cha
mẹ, đánh nhau, la hét, bướng bỉnh, thay đổi cảm xúc nhanh chóng, hờn dỗi, đa nghi,
trêu chọc người khác, dễ nổi khùng, dọa nạt / de dọa người khác, ồn ào quá mức.
Những biểu hiện này có thể có kế hoạch trước hoặc không có kế hoạch. Mục đích
của gây hấn có thể nhằm thể hiện sự bực tức hoặc thù địch, khẳng định chủ quyền,
dọa nạt, thể hiện sự sở hữu, đáp trả lại sự sợ hãi hoặc đau đớn, ganh đua, v.v.
Hành vi sai phạm có thể bao gồm: uống rượu, không hối lỗi, không theo quy định,
chơi với trẻ hư, nói dối, chơi với trẻ lớn, bỏ nhà, nghịch lửa, vấn đề tình dục, lấy
cắp ở nhà, lấy cắp nơi khác, nói tục / chửi, nghĩ nhiều về tình dục, hút thuốc lá, trốn
học, sử dụng ma túy, làm hỏng đồ.
1.2.1.2. Phân loại rối loạn hành vi
Theo Bảng phân loại bệnh Quốc tế về các bệnh tâm thần lần thứ 10 năm 1992 (ICD10) [14], rối loạn hành vi được chẩn đoán theo một số nhóm như sau:
F66: Các rối loạn hành vi và tâm lý kết hợp với sự phát triển và định hƣớng
giới tính.
.0: Rối loạn về sự trưởng thành tình dục.

15


1.2.1.3. Biểu hiện của rối loạn hành vi
Thông thường, các biểu hiện rối loạn hành vi ở trẻ được tập hợp thành 4 nhóm như
sau:
* Độc ác với người và động vật bao gồm:
(1) Hay bắt nạt, đe dọa, uy hiếp người khác;
(2) Hay gây sự đánh nhau;
(3) Sử dụng vũ khí có thể gây hại nghiêm trọng về thân thể cho người khác;
(4) Có hành vi độc ác về thân thể với người khác;
(6) có hành vi độc ác về thân thể với động vật; (5) Ăn cướp đối mặt với nạn nhân
(ví dụ: cướp đoạt, giật túi tiền, tống tiền, ăn cướp có vũ khí);
(7) Cưỡng dâm.
* Phá hoại tài sản (hành vi xâm hại gây tổn thất tài sản):
(8) Cố ý gây cháy với ý định gây hại nghiêm trọng;
(9) Cố ý phá hoại tài sản của người khác (bằng các hình thức khác ngoài gây cháy).
* Lừa đảo hay trộm cắp:
(10) Đập phá xông vào nhà hoặc đột nhập vào ô tô của người khác;
(11) Thường xuyên nói dối để nhận được đồ vật, ân huệ hoặc để tránh các nghĩa vụ
(nghĩa là lừa gạt người khác);
(12) Ăn cắp những đồ vật có giá trị không lớn không đối mặt với nạn nhân (ví dụ:
lấy cắp trong cửa hàng, giả mạo giấy tờ,…)
* Vi phạm nghiêm trọng các luật lệ:
(13) Thường ở qua đêm ngoài gia đình bỏ mặc sự cấm đoán của cha mẹ, bắt đầu
trước tuổi 13;
(14) Trốn nhà qua đêm ít nhất 2 lần trong khi đang sống ở nhà với bố mẹ hoặc gia
đình người bảo trợ (hoặc bỏ đi một lần không trở về trong một thời gian dài);
(15) Thường trốn học bắt đầu trước tuổi 13. [11]

17





hình dáng và phối hợp thể chất. Trong nhiều trường hợp, ở trẻ vị thành niên có thể
xuất hiện các xung đột vì bố mẹ muốn kiểm soát, điều khiển con cái. [11]
Đối với vị thành niên sống trong cơ sở bảo trợ xã hội, theo tôi, các em cũng không
tránh khỏi những xung đột nêu trên. Tuy nhiên, thay vì các em có sự xung đột với
bố mẹ đẻ, vị thành niên sống trong cơ sở xã hội cũng có những xung đột với người
chăm sóc (các “mẹ”, các “dì”). Những xung đột có thể xảy ra trong “nhà” bao gồm:
cách ăn mặc của trẻ, cách cư xử với các “anh chị em”, cách thực hiện công việc
nhà,…
Trẻ vị thành niên dần tách khỏi cha mẹ để tìm và khẳng định bản sắc riêng, sự độc
lập của bản thân nên bạn bè đồng trang lứa trở nên quan trọng hơn với các em.
Nhóm bạn có thể là nơi an toàn với trẻ vị thành niên bởi ở đó, các em có thể thử
những ý tưởng mới.
Ở giai đoạn đầu của tuổi vị thành niên, nhóm bạn thường là những trẻ có những
hành vi giống nhau, cách ăn mặc giống nhau, có những bí mật chung và cùng thực
hiện một số hoạt động. Khi bước vào giai đoạn giữa và cuối tuổi vị thành niên, các
em bắt đầu có những mối quan hệ lãng mạn, yêu đương.
1.2.3. Cơ sở bảo trợ xã hội
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội là cơ quan đưa ra các quy định về tiêu chuẩn
chăm sóc tại các cơ sở bảo trợ xã hội, bao gồm: đối tượng phục vụ của các cơ sở
bảo trợ xã hội, tiêu chuẩn chăm sóc, quy trình tiếp nhận và chăm sóc đối tượng,
tiêu chuẩn về y tế, vệ sinh, quần áo và dinh dưỡng, tiêu chuẩn về giáo dục và học
nghề, tiêu chuẩn về văn hóa, thể thao và giải trí, các quyền của đối tượng trong cơ
sở bảo trợ xã hội, tiêu chuẩn về môi trường, khuôn viên và nhà ở, về quản lý hành
chính. [25]
1.2.4. Trẻ vị thành niên sống trong cơ sở bảo trợ xã hội
1.2.4.1. Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt sống trong cơ sở bảo trợ xã hội
Theo Luật trẻ em năm 2016, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là trẻ em không đủ điều
kiện thực hiện được quyền sống, quyền được bảo vệ, quyền được chăm sóc, nuôi


20


không được cha mẹ đẻ nuôi nấng; 27.000 trẻ lao động; hơn 13.000 trẻ em đường
phố; 20.000 trẻ sống trong các trung tâm xã hội; 3.800 trẻ sử dụng ma túy; và ít nhất
850 trẻ bị lạm dụng tình dục. Các vấn đề như khai thác tình dục trẻ em vì mục đích
thương mại và buôn bán trẻ em cũng ở mức độ nghiêm trọng song chưa có số liệu
cụ thể do không có nguồn số liệu đáng tin cậy. [30]
Cho đến nay, đã có nhiều cơ sở bảo trợ xã hội với nhiều mô hình khác nhau
đã được thành lập để giúp đỡ các trẻ em khó khăn. Trẻ vị thành niên có hoàn cảnh
đặc biệt khó khăn nói riêng là đối tượng cần được hỗ trợ và quan tâm hơn nữa. Đề
tài nghiên cứu của chúng tôi cũng đặc biệt lưu ý tới nhóm đối tượng này.
Trẻ vị thành niên sống trong cơ sở bảo trợ xã hội vốn là những trẻ em xuất thân từ
những gia đình có hoàn cảnh đặc biệt. Do đó, nhóm trẻ em này có những đặc điểm
tâm lý như sau:
Từ kết quả tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề, chúng ta có thể thấy tác giả
Jozefiak và cs., (2016) chỉ ra rằng, trẻ em sống trong cơ sở bảo trợ xã hội có tâm lý
lo âu, có biểu hiện thiếu tập trung. Tác giả Attar-Schwartz, (2009) chỉ ra hành vi
bạo lực học đường ở trẻ. Jozefiak và cs., (2016) cho biết nhóm trẻ này thường có có
hành vi chống đối, phá phách, vi phạm kỷ luật, bên trong là một sự lo lắng, sợ hãi
và buồn rầu. Tâm lý xấu hổ là một đặc điểm mà tác giả Trần Thành Nam tìm thấy ở
nhóm trẻ em này.
1.2.5. Rối loạn hành vi ở trẻ vị thành niên sống trong cơ sở bảo trợ xã hội
Từ các khái niệm cơ bản của đề tài như: rối loạn hành vi, vị thành niên, cơ sở bảo
trợ xã hội, “rối loạn hành vi ở trẻ vị thành niên sống trong cơ sở bảo trợ xã hội”
được hiểu như sau: là khuôn mẫu hành vi lặp đi lặp lại nhiều lần trong đó các
quyền cơ bản của người khác, các chuẩn mực xã hội (phù hợp với lứa tuổi từ 10-18
tuổi) hay các luật lệ trong cơ sở bảo trợ mà trẻ sinh sống bị vi phạm. Những trẻ với
rối loạn hành vi có tần xuất cao các hành vi đánh nhau, tàn ác với động vật hoặc

Trong nghiên cứu này, chúng tôi xem xét một số yếu tố ảnh hưởng có thể
góp phần làm tăng rối loạn hành vi ở trẻ vị thành niên sống trong cơ sở bảo trợ xã
hội, bao gồm: Sự thiếu hụt về kỹ năng giao tiếp, tâm trạng buồn chán, cảm nhận và
suy nghĩ tiêu cực về hoàn cảnh gia đình, hiện tượng bắt nạt lẫn nhau,...

22



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status