Thực tiễn thi hành pháp luật về xử lý nợ xấu trong hoạt động cho vay tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn việt nam - Pdf 52

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN VÂN ANH

THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ NỢ XẤU
TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP
VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM

Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 60380107

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN MINH HẰNG

HÀ NỘI - 2016


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, bên cạnh sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được rất
nhiều sự giúp đỡ, động viên và hướng dẫn của các thầy cô giáo, gia đình và bạn bè trong
suốt khóa học cũng như thời gian nghiên cứu đề tài luận văn.
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban
giám hiệu, toàn thể quý thầy, cô, cán bộ, nhân viên trong Phòng đào tạo, Khoa Sau đại học,
Khoa pháp luật kinh tế và cán bộ, nhân viên thư viện trường Đại học Luật Hà Nội đã tạo
mọi điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
thạc sĩ.

DATC

Debt and Asset Trading Corporation (Công ty trách nhiệm hữu hạn
một thành viên Mua bán nợ Việt Nam)

NHTM

Ngân hàng thương mại

TCTD

Tổ chức tín dụng

VAMC

Vietnam Asset Management Company (Công ty quản lý tài sản của các
Tổ chức tín dụng Việt Nam)


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1

Tiêu chí phân loại nợ theo hướng dẫn của WB

Bảng 2.2

Tình hình nợ xấu tại Agribank giai đoạn 2013 – 2015

Bảng 2.3

LÝ NỢ XẤU TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
6
1.1. Tổng quan về nợ xấu và xử lý nợ xấu trong hoạt động cho vay của
ngân hàng thương mại.
6
1.1.1. Tổng quan về nợ xấu
6
1.1.2. Tổng quan về xử lý nợ xấu
20
1.2. Pháp luật về xử lý nợ xấu trong hoạt động cho vay của ngân hàng
thương mại
24
1.2.1. Đối tượng điều chỉnh của pháp luật về xử lý nợ xấu
24
1.2.2. Nội dung cơ bản pháp luật về xử lý nợ xấu
25
1.3. Khái quát về thi hành pháp luật xử lý nợ xấu trong hoạt động cho
vay của ngân hàng thương mại
29
1.3.1. Khái quát về thi hành pháp luật
29
1.3.2. Thi hành pháp luật ở lĩnh vực xử lý nợ xấu trong hoạt động cho vay
của ngân hàng thương mại
31
Kết luận chương 1
31
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ NỢ XẤU TRONG
HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ
THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ



3.1. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về xử lý nợ xấu
63
3.2. Các giải pháp nâng cao năng lực thi hành pháp luật về xử lý nợ
xấu tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam 69
3.2.1. Hoàn thiện các quy chế nội bộ về phòng ngừa và xử lý nợ xấu 69
3.2.2. Nâng cao nguồn nhân lực về xử lý nợ xấu
74
Kết luận chương 3
75
KẾT LUẬN
76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
77
PHỤ LỤC
Error! Bookmark not defined.


8

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hội nhập kinh tế quốc tế một mặt đem lại cho chúng ta nhiều cơ hội
phát triển nhưng mặt khác cũng khiến nền kinh tế quốc gia nói chung và hoạt
động ngân hàng nói riêng phải đối mặt với nhiều thách thức. Đó là sự cạnh
tranh gay gắt giữa các ngân hàng, áp lực tăng trưởng tín dụng bền vững hay
giải quyết, xử lý nợ xấu triệt để. Những vấn đề này đè nặng lên vai các
NHTfM và cả nền kinh tế, trong đó đặc biệt nổi cộm là vấn đề xử lý nợ xấu.
Quyết định 254/QĐ-TTg ngày 01/3/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê

nhìn tổng quát về pháp luật về xử lý nợ xấu trong hoạt động cho vay của
NHTM và thực tiễn thi hành tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn Việt Nam, từ đó đánh giá những ưu điểm, hạn chế và đề xuất một số giải
pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả công tác xử lý nợ xấu.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Thời gian qua đã có nhiều công trình khoa học, sách báo, tạp chí nghiên
cứu các nội dung về nợ xấu và thực tiễn áp dụng tại các NHTM ở Việt Nam.
Ở mỗi công trình, tác giả lại có cách tiếp cận khác nhau. Ví dụ như: Quản trị
nợ xấu trong ngân hàng thương mại – thực trạng và giải pháp trong Ngân
hàng thương mại cổ phần ngoại thương Việt Nam, Luận văn thạc sĩ kinh tế
của tác giả Lê Thị Phương Thảo, Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội
(2011); Pháp luật về nợ xấu trong hoạt động cho vay của Ngân hàng thương
mại và thực tiễn áp dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Phương Đông,
Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Phạm Quang Huy, Trường Đại học Luật
Hà Nội (2015); Vấn đề nợ xấu của các ngân hàng thương mại Việt Nam và
giải pháp xử lý, Bài viết của TS. Trịnh Quang Anh, Tập đoàn đầu tư và phát
triển Việt Nam (2012); Nợ xấu ngân hàng dưới khía cạnh pháp lý, bài viết
của tác giả Lê Thị Thu Thủy, Đỗ Minh Tuấn, Tạp chí dân chủ và pháp luật
(số 11/2015), hay trực tiếp liên quan đến nợ xấu của Ngân hàng Nông nghiệp


10

và phát triển Nông thôn Việt Nam như Luận án Tiến sĩ Quản lý nợ xấu của
Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam của tác giả
Nguyễn Thị Thu Cúc, Học viện tài chính (2015). Tuy nhiên, những công trình
nghiên cứu nói trên mới chỉ nghiên cứu, khảo sát, bình luận và đưa ra giải
pháp về quản trị nợ xấu, chưa đi sâu vào vấn đề xử lý nợ xấu ở các NHTM
đặc biệt dưới góc độ pháp lý.
Vấn đề xử lý nợ xấu trong hoạt động cho vay của NHTM cũng có

này. Đồng thời qua việc nghiên cứu thực tiễn áp dụng tại Ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam để đưa ra những nhận xét, đánh giá
về những quy định của pháp luật hiện hành. Từ đó, tổng hợp các giải pháp để
hoàn thiện pháp luật về xử lý nợ xấu và nâng cao hiệu quả xử lý nợ xấu.
5. Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn
- Nợ xấu là gì? Xử lý nợ xấu là gì? Những nội dung chính của pháp luật
về xử lý nợ xấu?
- Thực trạng áp dụng pháp luật về xử lý nợ xấu tại Ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam? Những phương pháp nào đang
được sử dụng và hiệu quả của các phương pháp này ra sao?
- Các giải pháp nào Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Việt Nam cần thực hiện để nâng cao hiệu quả xử lý nợ xấu?
6. Các phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn
Luận văn được triển khai thực hiện trên cơ sở sử dụng phối hợp các
phương pháp nghiên cứu phổ biến trong khoa học xã hội và nhân văn như:
Phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp khảo sát, thống kê; phương
pháp diễn dịch, quy nạp… Phương pháp phân tích được sử dụng khi đánh giá
thực trạng pháp luật về xử lý nợ xấu trong hoạt động cho vay của NHTM.
Phương pháp tổng hợp được sử dụng trong việc đánh giá khái quát, rút ra kết
luận về từng vấn đề trong phạm vi nghiên cứu. Các phương pháp khảo sát,
thống kê được sử dụng để làm rõ các vấn đề thực tiễn về xử lý nợ xấu, từ đó
đưa ra những giải pháp kiến nghị cho việc hoàn thiện pháp luật và nâng cao
hiệu quả hoạt động xử lý nợ xấu.
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Luận văn mang những ý nghĩa về mặt lý luận cũng như thực tiễn sau
đây:


12


hoạt động kinh doanh” 1. Điều đó cho thấy rủi ro tín dụng luôn tồn tại và nợ
xấu là một thực tế hiển nhiên ở bất cứ ngân hàng nào, kể cả các ngân hàng
hàng đầu trên thế giới bởi có những rủi ro nằm ngoài tầm kiểm soát của con
người. Đây đã trở thành một vấn đề quan trọng trong quản trị kinh doanh
ngân hàng. Vì vậy, nợ xấu được nhắc đến gần như được mặc định là nợ xấu
của NHTM. Nhưng thực tế, nợ xấu có thể phát sinh đối với bất kỳ chủ thể nào
trong nền kinh tế, đặc biệt là những chủ thể kinh doanh. Vậy nợ xấu là gì, đặc
điểm của nó như thế nào, vì sao lại phát sinh nợ xấu và tác động đối với
NHTM cũng như nền kinh tế ra sao?
1.1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của nợ xấu
a. Khái niệm nợ xấu
Nợ xấu trong Tiếng Anh được nhắc đến với thuật ngữ “bad debt” hay
“non-performing loan”, “doubtful debt”. Thông thường, nợ xấu được hiểu là
các khoản nợ dưới chuẩn, có thể quá hạn và/hoặc bị nghi ngờ về khả năng trả
nợ. Tuy nhiên chưa có một cách hiểu thống nhất về nợ xấu.
- Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF): Một khoản cho vay được coi là
không sinh lời (nợ xấu) khi tiền thanh toán lãi và/hoặc tiền gốc đã quá hạn từ
90 ngày trở lên, hoặc các khoản thanh toán lãi đến 90 ngày hoặc hơn đã được

1 P. Volker, cựu Chủ tịch Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED)


14

tái cơ cấu hay gia hạn nợ, hoặc các khoản thanh toán dưới 90 ngày nhưng có
các nguyên nhân nghi ngờ việc trả nợ sẽ được thực hiện đầy đủ.2 Với quan
điểm này, nợ xấu được nhận dạng qua hai giác độ: thời gian quá hạn và khả
năng trả nợ đáng nghi ngờ.
- Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (BCBS): trong các hướng dẫn về
thông lệ chung tại nhiều quốc gia về quản lý rủi ro tín dụng, cơ quan này xác

ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Nợ
xấu ở đây được khẳng định là nợ xấu phát sinh từ hoạt động cho vay của
NHTM. Theo đó, nợ xấu là nợ thuộc các nhóm 3, 4, 5. Việc phân loại nợ vào
các nhóm 3, 4, 5 dựa trên 2 phương pháp định tính và định lượng. Và về cơ
bản cũng dựa trên 2 dấu hiệu được nhắc đến, đó là: các khoản nợ đã quá hạn
trên 90 ngày và khách hàng khó có khả năng trả nợ.
b. Đặc điểm của nợ xấu
Thứ nhất, trong hoạt động ngân hàng, nợ xấu là những khoản nợ dưới
chuẩn. Theo quan điểm chung của nhiều quốc gia trên thế giới, nợ dưới chuẩn
được hiểu là nợ đã quá hạn trên 90 ngày và khách hàng vay không có những
dấu hiệu để nghi ngờ về khả năng trả nợ thì vẫn chưa được xếp vào nhóm “nợ
xấu” trong hoạt động cho vay của ngân hàng.
Thứ hai, nợ xấu là những khoản nợ có bằng chứng nghi ngờ về khả
năng trả nợ của người vay, như: người vay bỏ trốn, tẩu tán tài sản, người vay
thua lỗ dẫn đến nguy cơ phá sản; người vay chấm dứt sự tồn tại trong khi tài
sản còn lại không đủ thanh toán nợ. Đôi khi sự chậm trễ không có lý do trong
việc cung cấp các báo cáo tài chính và trả nợ theo lịch đã thỏa thuận hoặc
chậm trễ trong việc liên lạc với nhân viên tín dụng cũng được xem là dấu hiệu
nghi ngờ về khả năng trả nợ của con nợ. Ngoài ra, những yếu tố khác như
những bất thường về tình hình tài chính, những động thái của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền đối với hoạt động kinh doanh, sự thay đổi lớn trong cơ
cấu tổ chức, quản lý điều hành của doanh nghiệp cũng có thể ảnh hưởng đến
khả năng trả nợ của doanh nghiệp.
c. Phân loại nợ xấu
Phân loại nợ xấu được hiểu là quá trình các NHTM xem xét danh mục
cho vay và đưa khoản vay vào những nhóm khác nhau dựa trên rủi ro và điểm


16



17

nay chủ yếu từ Trung tâm thông tin tín dụng (CIC), thông tin nội bộ của ngân
hàng và một số nguồn thông tin khác. Ở các nguồn thông tin này hầu hết chỉ
bao gồm thông tin về các chủ thể đã từng có hoạt động tín dụng tại các ngân
hàng. Thế nhưng theo một cuộc điều tra, ở Việt Nam chỉ có 30% doanh
nghiệp nhỏ và vừa (doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm 97% tổng số doanh
nghiệp hoạt động tại Việt Nam) có giao dịch tín dụng với ngân hàng.5 Con số
này so với số khách hàng mới tiềm năng còn quá ít ỏi. Chính vì vậy, những
thông tin tín dụng được cung cấp không thể đầy đủ, đảm bảo cho sự đánh giá
chính xác và ngăn ngừa rủi ro.
Hai là, chính sách tín dụng chưa hiệu quả cũng như quy trình nội bộ
chưa đảm bảo cũng là nguyên nhân dẫn đến nợ xấu. Đối mặt với nhu cầu tăng
trưởng tín dụng đồng thời với việc giảm nợ xấu, mỗi ngân hàng đều phải xây
dựng cho mình một hệ thống chính sách, quy trình nội bộ chặt chẽ trong các
khâu cấp tín dụng để đảm bảo chất lượng tín dụng cũng như ngăn ngừa nợ
xấu phát sinh. Tuy nhiên, sự lỏng lẻo trong quy trình đã tạo nên lỗ hổng khiến
ngân hàng không kiểm soát được những rủi ro tín dụng dẫn đến nợ xấu. Mặt
khác, chính sách tín dụng chưa phù hợp, quá đặt nặng vào mục tiêu lợi nhuận
dẫn đến tăng trưởng tín dụng nóng hoặc cho vay tập trung vào những lĩnh vực
có rủi ro cao (như bất động sản, chứng khoán…) 6, cho vay ưu đãi, không có
4 Cao Thanh Trà (2016), “Giảm tổn thất nhờ cảnh báo sớm rủi ro tín dụng”, Báo điện tử Vietnamnet, tại địa
chỉ: ngày truy cập 15/6/2016.
5 Theo số liệu thống kê từ Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam (CIC), tính đến hết tháng 4 năm
2014, tổng số doanh nghiệp đã có quan hệ tín dụng với TCTD được lưu trữ trong kho dữ liệu là 216.129
doanh nghiệp, trong đó, số doanh nghiệp còn dư nợ là 112.583 doanh nghiệp, tương đương 30% trong tổng
số doanh nghiệp đang hoạt động. Như vậy, tỷ lệ doanh nghiệp đang có vay vốn ngân hàng trong tổng số
doanh nghiệp đang hoạt động đạt 30%, tỷ lệ doanh nghiệp không sử dụng tín dụng ngân hàng chiếm khoảng
70%.

dụng vốn vay, do thiếu sự theo dõi sát sao, không phát hiện được những dấu
hiệu bất thường trong hoạt động kinh doanh của khách hàng nên không có sự
điều chỉnh phù hợp, nợ xấu từ đó rất dễ phát sinh.
Thứ hai, vấn đề đạo đức nghề nghiệp cũng trở thành một trong những
nguyên nhân dẫn đến nợ xấu, đặc biệt ở những ngân hàng chưa có được một
quy trình quản trị rủi ro chặt chẽ.
6 Dư nợ tín dụng trong lĩnh vực bất động sản tính đến 30/11/2015 đạt 374.783 tỷ đồng (tương đương hơn
16,6 tỉ USD), tăng 19,91% so với thời điểm 31/12/2014 và tăng 2,8% so với thời điểm 31/10/2015.
Bình An (2016), “Dư nợ tín dụng bất động sản tăng mạnh”, tại địa chỉ: ngày truy cập 04/2/2016.


19

Vì lợi ích cá nhân, nhân viên ngân hàng có thể thông đồng với khách
hàng vay vốn để tăng mức cho vay, cho vay khi không có đủ điều kiện, hoặc
bỏ qua những yếu tố như sử dụng vốn vay không đúng mục đích, hay thậm
chí là làm giả giấy tờ để thực hiện việc cho vay 7. Có một số trường hợp, cho
vay đối với những khách hàng được cấp trên chỉ định, các doanh nghiệp là
“sân sau” của Ban giám đốc, lãnh đạo ngân hàng, vì quen biết, nể nang mà
nhân viên ngân hàng có thể bỏ qua những quy định về hạn chế cho vay, cho
vay có điều kiện, không tuân thủ quy trình quản trị rủi ro…
Thứ ba, áp lực tăng trưởng dư nợ quá lớn cũng có thể làm phát sinh nợ
xấu.
Sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường đã dẫn đến xu hướng các ngân
hàng chạy theo quy mô, bỏ qua các tiêu chuẩn, điều kiện cho vay, thiếu quan
tâm đến chất lượng khoản vay. Hiện nay, lợi nhuận chủ yếu của các ngân
hàng vẫn phụ thuộc vào hoạt động tín dụng 8. Do đó, để đạt được mức lợi
nhuận kỳ vọng, các ngân hàng luôn bị áp lực phải tăng trưởng tín dụng. Khi
tăng trưởng, NHTM phải chấp nhận một tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ tín dụng
ở một mức nhất định. Tuy nhiên, nếu tăng trưởng tín dụng nhanh sẽ vượt quá

hoặc dễ dàng cho các công ty con của các doanh nghiệp có vốn sở hữu tại
Ngân hàng vay vốn, thậm chí khi một tổ chức tín dụng lớn chiếm cổ phần chi
phối ngân hàng khác và biến Ngân hàng này thành “sân sau” của mình, họ có
thể buộc Ngân hàng bị chi phối cấp tín dụng cho những dự án không an toàn
hoặc cho doanh nghiệp có quan hệ thân thiết. Việc cho vay dễ dàng, thiếu
kiểm soát cộng với việc thẩm định vốn vay thiếu cẩn trọng tất yếu sẽ dẫn đến
nợ xấu. Do đó, tình trạng sở hữu chéo được xem là một trong những nguyên
nhân dẫn đến tình trạng nợ xấu tăng cao trong những năm vừa qua.
b. Nguyên nhân khách quan
Nguyên nhân khách quan là những nguyên nhân xuất phát từ yếu tố bên
ngoài nhưng có ảnh hưởng lớn đến hoạt động tín dụng Ngân hàng.
Thứ nhất, các nguyên nhân xuất phát từ nền kinh tế.
Như đã trình bày, hoạt động tài chính - ngân hàng được coi là mạch
máu của nền kinh tế. Chính vì vậy, những biến động của môi trường kinh tế
sẽ có tác động mạnh đến hoạt động của NHTM, đặc biệt là hoạt động tín
dụng. Nếu môi trường kinh tế chưa thực sự phát triển, trên thị trường chưa
9 Nguyễn Thanh Tú, Nguyễn Hồng Nhung (2013), “Nợ xấu của các TCTD ở Việt Nam – nguyên nhân và
một số giải pháp”, Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ, (03+04), tr. 49-55.


21

thực sự bình đẳng, tốc độ cũng như trình độ phát triển chưa cao sẽ dẫn đến
việc các cá nhân và tổ chức cũng như các doanh nghiệp không có tiềm lực tài
chính đủ mạnh. Mặt khác, với sự thay đổi liên tục trong các chính sách kinh tế
vĩ mô như sự thay đổi về cơ chế lãi suất, chính sách xuất nhập khẩu, hàng tiêu
dùng; thay đổi quy hoạch xây dựng hạ tầng, thay đổi cơ chế tài chính, cơ chế
sử dụng đất đai… cũng ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của các cá nhân, tổ
chức, doanh nghiệp, khiến các đối tượng này rơi vào thế bị động, do đó nó
gián tiếp ảnh hưởng đến chất lượng nợ của các đối tượng này tại NHTM.

vướng mắc như giấy phép hoạt động, lãi suất huy động, việc đảo nợ, vấn đề
bảo lãnh, giới hạn dư nợ cấp tín dụng, mua cổ phần của ngân hàng khác…
Đáng chú ý, “có tới 30 vấn đề bất cập về giao dịch bảo đảm được liệt kê,
trong khi đây là một yếu tố quan trọng đảm bảo ngân hàng có thể thu hồi
được vốn khi khách hàng không trả nợ” 10. Có những trường hợp dù ngân
hàng đã khởi kiện, nhưng việc kiện tụng kéo dài, tài sản bảo đảm vẫn chưa thể
xử lý và nợ xấu ngân hàng vẫn còn tiếp diễn. Khi các quy định về giao dịch
bảo đảm, xử lý tài sản bảo đảm còn thiếu cơ chế thực hiện hiệu quả sẽ dễ dẫn
đến tâm lý coi thường của người có tài sản cũng như khách hàng vay vốn.
Hai là, sự giám sát của các cơ quan quản lý chức năng chưa chặt chẽ.
Việc thực hiện giám sát trên cơ sở rủi ro, giám sát an toàn vĩ mô yếu kém, chủ
yếu vẫn thiên về giám sát tuân thủ. Nợ xấu là con số ở một thời điểm nhưng
sự hình thành và phát sinh nợ xấu là cả một quá trình. Hoạt động giám sát
được thực hiện những vẫn không thể phát hiện ra những khoản tín dụng có
nguy cơ rủi ro cao để có thể cảnh báo sớm và yêu cầu các tổ chức tín dụng
thực hiện việc trích lập dự phòng rủi ro kịp thời dẫn đến việc phát sinh nợ xấu
là không thể tránh khỏi. Việc hoạt động giám sát hiện nay vẫn chưa đạt được
hiệu quả như mong muốn xuất phát từ nhiều nguyên nhân: thiếu nguồn thông
tin minh bạch, chính xác; thiếu nguồn nhân lực và công nghệ đủ mạnh để thực
hiện.
Thứ ba, các nguyên nhân xuất phát từ khách hàng vay vốn.
10 Theo Luật sư Trương Thanh Đức – Chủ nhiệm CLB Pháp chế ngân hàng
Bùi Trang (2013), “Pháp luật về ngân hàng: Nhiều quy định, lắm bất cập”, Báo Đầu tư Chứng khoán, tại địa
chỉ: />ngày truy cập 03/5/2016.


23

Cũng như nhóm nguyên nhân chủ quan, các nguyên nhân phát sinh nợ
xấu từ phía khách hàng vay vốn cũng xuất phát từ hai yếu tố chính là năng lực



24

không trả nợ nếu như ngân hàng không có những biện pháp mạnh hay có sự
trợ giúp của những cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Tuy nhiên, cũng cần
nhìn nhận một cách toàn diện, việc khách hàng không trả nợ đúng hạn dẫn
đến nợ xấu ngân hàng không đơn thuần xuất phát từ vấn đề đạo đức của người
vay. Sự kết hợp của những yếu tố khác như quy trình cho vay không chặt chẽ
hay trình độ non kém của nhân viên ngân hàng đã biến nợ xấu từ nguy cơ trở
thành con số thật sự.
Ngoài ra, các nguyên nhân khác như thiên tai, dịch bệnh, các sự kiện
khách quan khác xảy ra cũng có thể khiến hoạt động sản xuất kinh doanh của
các khách hàng vay vốn bị ảnh hưởng, ngưng trệ, dẫn đến mất khả năng trả nợ
ngân hàng làm phát sinh nợ xấu.
1.1.1.3. Tác động của nợ xấu đến hoạt động của ngân hàng thương mại và
nền kinh tế
a. Tác động của nợ xấu đến hoạt động của ngân hàng thương mại
Thứ nhất, nợ xấu làm giảm lợi nhuận của NHTM, ảnh hưởng đến khả
năng thanh khoản và có nguy cơ dẫn đến phá sản. Khi phát sinh nợ xấu, ngân
hàng phải sử dụng các khoản dự phòng rủi ro. Thông thường các khoản này
được tính vào chi phí, khiến cho lợi nhuận của ngân hàng sụt giảm. Không
những thế khi nợ xấu càng kéo dài thì các chi phí bỏ ra đối với xử lý nợ xấu
càng lớn, không đơn thuần chỉ là không thu hồi được nguồn vốn đã cấp. Về
mặt hữu hình việc các tài sản cầm cố, thế chấp tại ngân hàng sẽ ngày càng bị
hao mòn, hư hỏng, giá trị và giá trị sử dụng sẽ mất dần. Mặt khác, nợ xấu tăng
sẽ làm mất khả năng cân đối thu chi của ngân hàng. Như đã trình bày, khi
phát sinh nợ xấu, ngân hàng phải thực hiện trích lập các khoản dự phòng rủi
ro, nhưng vẫn phải trả vốn và lãi cho khoản tiền huy động khi đến hạn. Nợ
xấu càng cao, khoản trích lập dự phòng rủi ro càng lớn, nguy cơ rơi vào tình

thành hệ quả.
Thứ tư, nợ xấu ảnh hướng đến quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của
NHTM. Ở Việt Nam, sự xâm nhập của các ngân hàng nước ngoài đang tạo
nên một môi trường tài chính nhiều sự cạnh tranh. Cạnh tranh bởi chất lượng,
hình ảnh và uy tín. Có được ba yếu tố này ở thị trường trong nước sẽ là tiền



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status