SỞ GD&ĐT THÁI BÌNH
TRƯỜNG THPT CHUYÊN
THÁI BÌNH
ĐỀ THI THỬ THPT QUỐC GIA NĂM 2019
Môn thi: NGỮ VĂN
Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề
ĐỀ THI LẦN 3
Họ, tên thí sinh: .......................................................................
Số báo danh: ............................................................................
I.ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
Đọc văn bản dưới dây bà thực hiện các yêu cầu:
Có câu chuyện kể rằng, một đôi vợ chồng trẻ vừa dọn đến ở trong một khu phố mới. Sáng hôm sau, vào
lúc hai vợ chồng ăn điểm tâm, người vợ thấy bà hàng xóm giăng tấm vải trên giàn phơi.
“Tấm vải bẩn thật” – Cô vợ thốt lên. “Bà ấy không biết giặt, có lẽ bà ấy cần một loại xà phòng mới thì sẽ
giặt sạch sẽ hơn”. Người chồng nhìn cảnh ấy nhưng vẫn lặng im. Thế là, vẫn cứ lời bình phẩm ấy thốt ra
từ miệng cô vợ mỗi ngày, sau khi nhìn thấy bà hàng xóm phơi đồ trong sân.
Một tháng sau, vào một buổi sáng, người vợ ngạc nhiên vì thấy tấm vải của bà hàng xóm rất sạch nên cô
nói với chồng: “Anh nhìn kìa! Bây giờ bà ấy đã biết giặt tấm vải rồi. Ai dạy bà ấy thế nhỉ?” Người chồng
đáp: “Không! Sáng nay anh dậy sớm và đã lau cửa kính nhà mình đấy.”
Thực ra mỗi người trong chúng ta, ai cũng giống như cô vợ trong câu chuyện kia. Chúng ta đang nhìn đời,
nhìn người qua lăng kính loang lổ những vệt màu của cảm xúc, bám dày lớp bụi bặm của thành kiến và
những kinh nghiệm thương đau. Chúng ta trở nên phán xét, bực dọc và bất an trước những gì mà tự mình
cho là “Lỗi lầm của người khác”.
…Cuộc đời này ngắn lắm, sẽ chẳng ai có khả năng và trách nhiệm níu giữ cho ta những thời khắc sinh
mệnh đang vùn vụt trôi qua. Vậy chúng ta có muốn hoài phí cuộc sống để đi phán xét những sai lầm của
người khác? Cách mà chúng ta nhìn người khác, thực chất đang phản ánh nội tâm của chính mình…
(Trích Luôn nhìn thấy lỗi của người khác: Nỗi bất hạnh lớn lao của những cái đầu chứa đầy thành kiến,
)
Câu 1. Nhận biết
- Phép lặp: tấm vải, chúng ta
2.
Phương pháp: căn cứ nội dung đoạn trích
Cách giải:
- Vì: Chúng ta đang nhìn đời, nhìn người qua lăng kính loang lổ những vệt màu của cảm xúc,
bám dày lớp bụi bặm của thành kiến và những kinh nghiệm thương đau. Chúng ta trở nên
phán xét, bực dọc và bất an trước những gì mà tự mình cho là “Lỗi lầm của người khác”.
3.
Phương pháp: phân tích, lý giải
Cách giải:
Vì: Con người luôn có xu hướng đổ lỗi cho hoàn cảnh và cho người khác, khắt khe với lỗi
lầm người khác hơn là với chính mình. Bởi vậy, khi nhìn nhận sai lầm của người khác khó
có ai có được cái nhìn “trong sáng”.
4.
Phương pháp: căn cứ các phép liên kết đã học
Cách giải:
- Đồng ý.
- Lí giải:
+ Một người đang túng thiếu sẽ khó chịu với người đang giàu có; một người không thành
thật sẽ nhìn mọi người đầy gian dối; …. Cái nhìn tiêu cực ấy xuất pháp từ một nội tâm đầy
bất an về chính mình, về cuộc đời.
+ Những toan tính, sân hận khiến chúng ta chỉ mải mê chạy theo những sai trái, lỗi lầm của
người khác mà quên đi những gì tươi đẹp, hạnh phúc ở ngoài kia. Tự bạn đang đánh mất đi
cuộc sống hạnh phúc của chính mình.
=> Nhìn cuộc sống hiện thực thế nào chính là phản ánh cuộc sống nội tâm bên trong của
chính bạn. Tâm an cuộc đời mới an yên, tâm bất an cuộc đời sẽ đầy bão tố.
Trang 2
Làm văn
- Tô Hoài là một trong những cây bút văn xuôi hàng đầu của nền văn học hiện đại Việt Nam,
là nhà văn có biệt tài nắm bắt rất nhanh nhạy những nét riêng trong phong tục, tập quán của
những miền đất mà ông đã đi qua. Ông có giọng văn kể chuyện hóm hỉnh, rất có duyên và
đầy sức hấp dẫn; có vốn ngôn ngữ bình dân phong phú và sử dụng nó rất linh hoạt, đắc địa.
- Truyện ngắn Vợ chồng A Phủ được sáng tác năm 1952, in trong tập Truyện Tây Bắc – tập
truyện được tặng giải Nhất – Giải thưởng Hội văn nghệ Việt Nam 1954 – 1955. Tập Truyện
Tây Bắc gồm ba truyện: Mường Giơn, viết về dân tộc Thái; Cứu đất cứu mường, viết về dân
tộc Mường; Vợ chồng A Phủ, viết về dân tộc Mèo (Mông) – mỗi truyện có một dáng vẻ, sức
hấp dẫn riêng, nhưng đọng lại lâu bền trong kí ức của nhiều người đọc là truyện Vợ chồng A
Phủ.
• Giới thiệu nhân vật
- Nhan sắc: “trai đến đứng nhẵn chân vách đầu buồng Mị” -> nhan sắc rực rỡ ở tuổi cập kê.
- Tài năng: thổi sáo, thổi lá. Hay đến mức có biết bao nhiêu người mê, ngày đêm thổi sáo đi
theo Mị.
- Phẩm chất tốt đẹp: Khi bố mẹ Mị hết đời chưa trả được món nợ cho thống lí Pá Tra, thống
lí Pá Tra định bắt Mị về làm con dâu gạt nợ:
+ Hiếu thảo:“ Con sẽ làm nương ngô giả nợ thay cho bố”
+ Tự tin vào khả năng lao động: “Con nay đã biết cuốc nương làm ngô”
+ Khao khát tự do: “Bố đừng bán con cho nhà giàu”
Trang 3
-> Xứng đáng được hưởng hạnh phúc nhưng lại bị xã hội của tiền quyền, cường quyền và
thần quyền vùi dập, đẩy vào ngã rẽ tăm tối.
• Phân tích diễn biến tâm trạng Mị trong những lần tiếng sáo xuất hiện
❖ Tiếng sáo cùng với khung cảnh ngày xuân và hơi rượu đã làm thức dậy sức sống tiềm
tàng trong Mị.
❖ Tiếng sáo: có sự dịch chuyển, vận động:
- Từ xa đến gần (Từ ngoài vào trong, từ khách thể nhập vào chủ thể):
Lấp ló ngoài đầu núi vọng lại.
- Tin tưởng vào bản chất người luôn tiềm tàng trong mỗi con người: khát vọng sống mãnh
liệt.
- Ngợi ca vẻ đẹp của con người lao động miền núi
• Tổng kết
- Chi tiết có giá trị nghệ thuật đặc sắc thể hiện sức sống, khát vọng được sống mãnh liệt của
con người.
Trang 4
- Qua chi tiết của thể hiện được tấm lòng nhân đạo sâu sắc của tác giả.
Trang 5