(Luận án tiến sĩ) Phương thức trần thuật của truyện ngắn thế sự đời tư trong văn học Việt Nam từ sau 1986 - Pdf 53

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TẠ HƯƠNG TRANG

PHƯƠNG THỨC TRẦN THUẬT CỦA TRUYỆN NGẮN
THẾ SỰ - ĐỜI TƯ TRONG VĂN HỌC
VIỆT NAM TỪ SAU 1986
Ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 9. 22 .01 .21

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. LÊ QUANG HƯNG

HÀ NỘI – 2019


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết
quả nêu trong luận án là trung thực, đảm bảo tính chính xác và khoa học cao.
Các tài liệu tham khảo, trích dẫn đều có xuất xứ rõ ràng. Tôi xin chịu hoàn
toàn trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình.
Hà Nội, ngày 10 tháng 11 năm 2019
Tác giả luận án

Tạ Hương Trang



PHÁT TRIỂN CỦA VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ SAU 1986 ................................ 33
2.1. Những tiền đề cho sự phát triển của truyện ngắn thế sự - đời tư trong văn học
Việt Nam từ sau 1986.................................................................................................. 33
2.2. Khái quát truyện ngắn thế sự - đời tư trong nền văn xuôi Việt Nam từ sau 198656
Chương 3: ĐIỂM NHÌN TRẦN THUẬT, TỔ CHỨC TÌNH HUỐNG VÀ KẾT
CẤU TRONG TRUYỆN NGẮN THẾ SỰ - ĐỜI TƯ TỪ SAU 1986 ................... 71
3.1. Ngôi kể và điểm nhìn trần thuật ........................................................................... 71
3.2. Tổ chức tình huống .............................................................................................. 92
3.3. Nghệ thuật tổ chức kết cấu ................................................................................. 101
Chương 4: NGÔN NGỮ VÀ GIỌNG ĐIỆU TRẦN THUẬT CỦA TRUYỆN
NGẮN THẾ SỰ - ĐỜI TƯ TỪ SAU 1986 ............................................................ 119
4.1. Ngôn ngữ trần thuật ........................................................................................... 119
4.2. Giọng điệu trần thuật .......................................................................................... 132
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 148
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN
QUAN ĐẾN LUẬN ÁN .......................................................................................... 151
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................... 152


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
1.1. Trong quan niệm của lí thuyết tự sự học hiện đại thì tiểu thuyết là
thể loại tự sự cỡ lớn, có khả năng miêu tả bức tranh hiện thực rộng lớn và số
phận của một hay nhiều người. Trong khi đó, điều làm nên nét khác biệt giữa
truyện ngắn với tiểu thuyết hay những thể loại tự sự khác chính là ở chỗ dung
lượng ngắn, tập trung miêu tả một sự kiện, một tình huống hoặc một khoảnh
khắc nào đó xảy ra trong cuộc đời của nhân vật. Trong loại hình văn xuôi tự
sự, truyện ngắn được đánh giá là một thể loại có tính thích ứng cao với thời
đại nó tồn tại và phát triển. Trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường như
ngày nay, truyện ngắn phù hợp với thị hiếu của độc giả bận rộn khi họ không

văn. Chính vì thế mà sự tỏa bóng của “chủ nghĩa đề tài” khá rộng lớn trong
văn xuôi. Những đề tài như ca ngợi cuộc chiến vĩ đại của dân tộc, những tấm
gương người tốt, việc tốt được đề cao còn những đề tài đi sâu vào miêu tả số
phận của cá nhân hay đời sống cá thể riêng biệt thì sẽ bị cấm đoán thậm chí
nhiều nhà văn bị treo bút trong một thời gian dài vì những gì họ viết ra không
đúng với tinh thần của thời đại. Song sang đến giai đoạn sau 1986, nhờ lời
kêu gọi của Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh mà văn học được “cởi trói”. Cảm
hứng sử thi tồn tại trong suốt những năm tháng chiến tranh và một vài năm
sau đổi mới đã nhường chỗ cho cảm hứng thế sự - đời tư khi con người dần
trở về với cuộc sống thường nhật. Lựa chọn cảm hứng này trong sáng tác, các
nhà văn được mặc sức khám phá thế giới muôn hình muôn vẻ với những nhân
dạng tồn tại trong hiện thực đó. Mặt khác, nó cũng chi phối đến các phương
diện khác thuộc trần thuật học trong tác phẩm mà cụ thể là điểm nhìn trần
thuật, tổ chức tình huống, kết cấu, ngôn ngữ và giọng điệu... Có thể thấy đây
là một hướng đi dù không có nhiều cách tân quyết liệt về mặt hình thức nhưng
đã khắc tạc trên cây cổ thụ văn chương nỗi đằm sâu của những nhà văn sống
có trách nhiệm và nặng lòng với đời sống con người.
1.3. Nếu như văn học giai đoạn trước năm 1975 quan tâm đến nhà văn
2


thể hiện nội dung gì trong sáng tác của mình, những nội dung ấy có phù hợp
với lí tưởng của thời đại hay không, có giá trị cổ vũ tinh thần và ý chí của con
người trong thời đại ấy như thế nào... thì giai đoạn từ sau 1986, cái mà văn
học và công chúng quan tâm là nhà văn - anh đã làm mới “đứa con tinh thần”
của mình như thế nào, nói một cách khác là anh đã có thêm tiếng nói, cách
nói gì. Trong xu thế đổi mới, những gì anh viết ra nếu bị coi là cũ kĩ sẽ không
có chỗ đứng trong lòng bạn đọc, vì thế nỗ lực cách tân và làm mới trở thành
tuyên ngôn trong sáng tác của họ. Theo đó, nghệ thuật trần thuật trong tác
phẩm được đề cao hơn bao giờ hết, nó là “sự trình bày liên tục bằng lời văn

thi, truyện ngắn theo khuynh hướng triết luận.
- Chỉ ra những cơ sở cho sự phát triển của truyện ngắn theo khuynh
hướng thế sự - đời tư, tái hiện diện mạo của truyện ngắn theo khuynh hướng
này trong văn học Việt Nam từ sau 1986.
- Phân tích những đặc điểm của phương thức trần thuật qua các phương
diện như: điểm nhìn trần thuật, cách tổ chức tình huống, kết cấu.
- Phân tích những đặc điểm của phương thức trần thuật qua ngôn ngữ
và giọng điệu trần thuật.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận án của chúng tôi tập trung nghiên cứu thể loại truyện ngắn trong
văn học Việt Nam hiện đại (từ sau 1986 đến nay). Từ những khảo sát trên
thực tế tác phẩm, chúng tôi phân loại truyện ngắn thành 3 khuynh hướng: sử
thi, thế sự - đời tư và triết luận. Cảm hứng sáng tác chủ đạo là tiêu chí để
chúng tôi phân loại truyện ngắn thành các khuynh hướng như vậy. Trong đó
chúng tôi đặc biệt quan tâm tìm hiểu sự vận động và phát triển của truyện
ngắn thế sự - đời tư, lí giải những đặc điểm riêng của thể tài truyện ngắn này
trên cơ sở những lí thuyết chung về thể loại. Luận án tập trung vào phương
thức trần thuật bao gồm: điểm nhìn trần thuật, tổ chức tình huống, kết cấu,
ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật.
4


3.2. Phạm vi nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi dành sự quan tâm đến một số tập truyện
ngắn, tuyển tập truyện ngắn đã được xuất bản của các nhà văn tiêu biểu như
Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Ngọc Tư,
Nguyễn Thị Thu Huệ... và một số cây bút trẻ có truyện ngắn đạt giải từ sau
1986 đến nay đã được in trong các tuyển tập.
Ngoài ra, trong quá trình thực hiện đề tài, để thấy được sự vận động và

4.2.3. Phương pháp so sánh
Để khẳng định phương thức trần thuật của truyện ngắn thế sự - đời tư
trong văn học Việt Nam từ sau 1986 có những nét riêng, độc đáo, chúng tôi đối
chiếu, so sánh với truyện ngắn cùng thể tài ở thời kì trước đó và so sánh với
truyện ngắn thuộc các đề tài khác thời kì từ sau 1986.
4.2.4. Phương pháp loại hình
Chúng tôi quan niệm truyện ngắn thế sự - đời tư là một loại hình với nội
dung phản ánh, kết cấu và phương thức trần thuật riêng.
4.2.5. Phương pháp lịch sử - xã hội
Chúng tôi xem xét, đánh giá truyện ngắn theo khuynh hướng thế sự đời tư trong bối cảnh vận động, đổi thay của xã hội Việt Nam từ sau 1986.
Đồng thời chúng tôi quan niệm rằng bản thân khuynh hướng này cũng có quá
trình phát triển của nó trong mấy mươi năm.
4.2.6. Phương pháp thống kê - phân loại
Phương pháp này được sử dụng trong quá trình khảo sát các tác phẩm
truyện ngắn thế sự - đời tư tiêu biểu từ sau 1986 nhằm có những cứ liệu xác
đáng cho các luận điểm.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
- Luận án cung cấp cái nhìn hệ thống về truyện ngắn Việt Nam giai
đoạn sau 1986 trong bước chuyển của lịch sử văn học, góp phần khẳng định
mối quan hệ biện chứng giữa nội dung phản ánh, kiểu nhân vật với phương
thức trần thuật trong thể loại này.
6


- Luận án là công trình đầu tiên tìm hiểu và phân tích một cách tương
đối toàn diện, có hệ thống về đặc điểm phương thức trần thuật của truyện
ngắn viết theo khuynh hướng thế sự - đời tư trong văn xuôi Việt Nam từ
sau 1986.
6. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận án
6.1. Ý nghĩa lí luận

cỡ nhỏ. Nội dung của truyện ngắn bao trùm hầu hết các phương diện của đời
sống: đời tư, thế sự hay sử thi nhưng cái độc đáo của nó là ngắn. Truyện ngắn
được viết ra để tiếp thu liền một mạch, đọc một hơi không nghỉ” [94; tr.370].
Song hành cùng sự phát triển của xã hội, truyện ngắn là một trong
những thể loại có lịch sử phát triển lâu dài và phức tạp. Sự biến động của xã
hội qua từng thời kì lịch sử phát triển của loài người kéo theo sự vận động và
biến đổi của truyện ngắn thế giới nói chung, truyện ngắn Việt Nam nói riêng.
Từ đầu thế kỉ XX đến nay, truyện ngắn hiện đại Việt Nam có những thay đổi
theo hướng tích cực để thích ứng với sự đổi thay của thời đại, đặc biệt từ thời
kì sau 1986, nó đã chứng tỏ là một thể loại có khả năng dung hòa được với
nhịp sống hối hả và bao quát được những vấn đề đặt ra trong xã hội ngày nay.
1.1. Quan niệm chung về phương thức trần thuật trong truyện
ngắn thế sự - đời tư
1.1.1. Khái niệm truyện ngắn thế sự - đời tư
Do tác động của hoàn cảnh chiến tranh, nội dung ưu tiên hàng đầu trong
các tác phẩm văn học Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975 là những biến cố lịch sử
trọng đại, nhiệm vụ của đời sống chính trị. Khuynh hướng sử thi vì thế nổi lên
như một khuynh hướng tiêu biểu và duy nhất của văn học giai đoạn này. Sau
đổi mới, văn xuôi từng bước thoát ra khỏi áp lực của “chủ nghĩa đề tài” bằng
kinh nghiệm cá nhân đột phá vào các vùng hiện thực mới, chủ quan hóa cách
nhìn đối với những hiện thực vốn quen thuộc. Giá trị tác phẩm bây giờ không
còn phụ thuộc vào đề tài nữa mà do cách xử lí nghệ thuật của nhà văn quyết
định. Tương ứng với các mảng hiện thực lớn cùng cảm hứng sáng tác của nhà
văn là những khuynh hướng: sử thi, thế sự - đời tư và triết luận. Trong luận án
này, chúng tôi đặc biệt dành sự quan tâm đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu truyện
8


ngắn thế sự - đời tư, lí giải những nguyên nhân hình thành, phát triển và sức hút
mạnh mẽ của khuynh hướng này đối với các nhà sáng tác.

thường. Những tác phẩm thuộc khuynh hướng này thường lấy đề tài trực tiếp
từ đời sống hiện tại. Điểm tựa cho kết cấu không phải là các biến cố lịch sử
mà là những chuyện hàng ngày, những quan hệ nhân sinh muôn thuở, những
ứng xử có tính phổ biến hay đột biến của con người. Qua đó nhà văn săn tìm
ý thức về nhân cách. Con người cá nhân, có lẽ, đã xuất hiện trong các thi
phẩm của các thi nhân từ rất lâu và có thể xem giai đoạn 1930 - 1945 với sự
xuất hiện của phong trào Thơ mới đã đánh dấu sự thức tỉnh và ý thức về bản
thể mạnh mẽ nhất: “Ta là Một, là Riêng, là Thứ Nhất - Không có chi bè bạn
nối cùng ta” (Xuân Diệu). Giai đoạn 1945 - 1975 do hoàn cảnh đặc thù con
người cá nhân chìm khuất nhường chỗ cho con người cộng đồng, lịch sử gọi
tên những người anh hùng mang những nét đẹp thời chiến trận, sử thi phủ lên
các sáng tác văn học tấm áo choàng của lịch sử, số phận của mỗi cá nhân như
một lẽ tất yếu, trùng khít với số phận của cộng đồng. Câu hỏi “ta vì ai?” vì thế
được ưu tiên hàng đầu. Khi cuộc sống trở về nhịp quay bình thường như nó
phải có, văn học trở về với đời sống cá nhân đó là một quy luật tất yếu. Văn
học sau 1975 lấy con người làm tâm điểm soi chiếu lịch sử. Con người từ
điểm nhìn lí tưởng hóa được đặt vào điểm nhìn thế sự, đời tư. Dòng chảy đời
thường ở thời đại ý thức cá nhân phát triển tạo cho con người một diện mạo
mới; phong phú, phức tạp, nhiều bí ẩn và nhà văn trong nỗ lực khám phá,
chiếm lĩnh đời sống nhận ra mỗi cá thể là “một tiểu vũ trụ” không thể biết hết,
không thể biết trước. Để con người hiện diện với các quan hệ nhân sinh cụ
thể, nhiều chiều, đó là cách xử lí phổ biến. Con người đời thường với những
ẩn mật, khuất lấp hiện lên muôn màu muôn vẻ: thực trạng nhân tính suy thoái,
con người ham mê dục vọng tầm thường, con người chìm sâu vào hào quang
quá khứ... nhưng tiêu biểu và nổi bật hơn cả chính là con người tìm được cách
khẳng định giá trị tự thân của mình, nói khác đi là con người có giá trị tự thân.
Đây được xem như là một trong những phát hiện mang tính nhân bản về con
10



chúng tôi sẽ có dịơng xứng để tự cười và chọc cười thiên hạ là một sự dũng
cảm, một hướng đi gập ghềnh nhưng thú vị, hấp dẫn; và chính phương diện
này đã bộc lộ sở trường, phong cách độc đáo và tạo ra cái gọi là “cuộc chơi
lối viết” trong tác phẩm của họ.
4. Công cuộc đổi mới văn học không phải đến năm 1986 mới manh
nha mà từ trước đó nó đã tích tụ âm thầm và khá dài lâu trong sự vận động
nội tại của nền văn học. Đại hội lần thứ VI của Đảng diễn ra năm 1986 như
một cú huých chính xác và nhạy bén làm bùng nổ sức mạnh nội tại ấy. Đây
được coi là giai đoạn quan trọng và có ý nghĩa trong lịch sử văn học Việt
Nam hiện đại, khép lại thời kì văn học sử thi, mở ra một hướng đi mới đầy
triển vọng cho văn học, đưa nó trả về đúng quỹ đạo vốn có, về với nơi khởi
nguồn và làm nên vẻ đẹp của nó: cuộc sống và con người. Cuối cùng, có thể
thấy rằng, vấn đề tiếp nhận sáng tác của của các nhà văn có ý thức cách tân
văn học quyết liệt hôm nay ở nước ta cần phải được nhìn nhận trên tinh thần
cởi mở, dân chủ. Chính luồng gió mới này đã thổi vào trong văn xuôi nói
chung, truyện ngắn nói riêng ý thức phải tự làm mới mình đồng thời mở ra
nhu cầu đối thoại giữa nhà văn với bạn đọc, nhà văn với nhân vật và nhà văn
với chính bản thân mình. Có như vậy mới tạo được sự đồng thuận trong quá
trình tiếp biến văn học thế giới để định hướng, điều chỉnh sự vận động, phát
triển hợp lý của văn học nước nhà. Đồng thời qua đó sẽ gợi mở ra những
hướng nghiên cứu về tính hậu hiện đại trong bối cảnh Việt Nam hội nhập
cùng thế giới.

150


DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1. Tạ Hương Trang (2014), Nhân vật - sự cụ thể hóa của tính trò chơi trong
một số tiểu thuyết của Hồ Anh Thái, Tạp chí Khoa học, Số 2/2014, tr.7-11.

Phan Thị Vàng Anh (1995), Hội chợ, Nxb Trẻ, TP Hồ Chí Minh.

4.

Tạ Duy Anh (2014), Bước qua lời nguyền, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.

5.

Y Ban (2005), Bức thư gửi mẹ Âu Cơ, Nxb Thanh niên, Hà Nội.

6.

Y Ban (2005), Cưới chợ, Nxb Văn học, Hà Nội.

7.

Y Ban (2005), Iam Đàn bà, Nxb Phụ nữ, Hà Nội.

8.

Y Ban (2015), Cuối cùng thì đàn bà muốn gì, Nxb Phụ nữ, Hà Nội.

9.

Nguyễn Minh Châu (2006), Nguyễn Minh Châu tuyển tập truyện ngắn,
Nxb Văn học, Hà Nội.

10. Đỗ Hoàng Diệu (2006), Bóng đè – Tập truyện ngắn, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng.
11. Phong Điệp (2015), Biên bản bão - Tập truyện ngắn, Nxb Phụ nữ, Hà Nội.
12. Nguyễn Việt Hà (2016), Buổi chiều ngồi hát – Tập truyện ngắn tinh

31. Hoàng Tố Mai (2017), Thực đơn mây trắng – Tập truyện ngắn, Nxb Trẻ,
TP Hồ Chí Minh.
32. Nguyễn Hữu Hồng Minh (2013), Người ăn bóng – Những chuyện nhỏ,
Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.
33. Phan Hồn Nhiên (2016), Hồi phục - tập truyện ngắn, Nxb Trẻ, TP Hồ Chí Minh.
34. Nhiều tác giả ( 2004), Truyện ngắn 5 cây bút nữ, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.
35. Nhiều tác giả (2011), Truyện ngắn 9 cây bút nữ, Nxb Văn học, Hà Nội.
36. Nhiều tác giả (2013), Truyện ngắn đặc sắc các tác giả nữ, Nxb Văn học,
Hà Nội.
37. Nhiều tác giả (2017), Truyện ngắn hay 2017, Nxb Văn học, Hà Nội.
153


38. Nhiều tác giả (2018), Truyện ngắn đặc sắc 2018, Nxb Hội nhà văn, Hà
Nội.
39. Bảo Ninh (2011), Trại bảy chú lùn – Tập truyện ngắn, Nxb Văn học, Hà Nội.
40. Bảo Ninh (2013), Bảo Ninh – Những truyện ngắn, Nxb Trẻ, TP Hồ Chí Minh.
41. Đỗ Phấn (2016), Thác hoa – Tập truyện ngắn, Nxb Trẻ, TP Hồ Chí Minh.
42. Thái Bá Tân (1996), Thái Bá Tân truyện ngắn, Nxb Lao động, Hà Nội.
43. Hồ Anh Thái (2003), Tự sự 265 ngày – Tập truyện ngắn, Nxb Hội nhà văn,
Hà Nội.
44. Hồ Anh Thái (2004), Mảnh vỡ của đàn ông – Tập truyện ngắn, Nxb Hội
nhà văn, Hà Nội.
45. Nguyễn Huy Thiệp (2005), Cánh buồm nâu thuở ấy – Tuyển chọn những
truyện ngắn hay nhất và mới nhất, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.
46. Nguyễn Huy Thiệp (2011), Không có vua, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội.
47. Nguyễn Huy Thiệp (2013), Hạc vừa bay vừa kêu thảng thốt - Tuyển
truyện ngắn, Nxb Trẻ, TP Hồ Chí Minh.
48. Nguyễn Huy Thiệp (2013), Tình yêu, tội ác và trừng phạt – tuyển truyện
ngắn, Nxb Trẻ, TP Hồ Chí Minh.

65. Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia,
Hà Nội.
66. Bakhtin (2003), Lí luận và thi pháp tiểu thuyết, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.
67. Lê Huy Bắc (2004), Truyện ngắn: Lí luận tác gia và tác phẩm, Tập 1,
Nxb Giáo dục, Hà Nội.
68. Lê Huy Bắc (2012), Văn học hậu hiện đại lí thuyết và tiếp nhận, Nxb
Đại học Sư phạm, Hà Nội.
69. Lê Huy Bắc (2013), Đặc trưng truyện ngắn Anh – Mỹ, Nxb Đại học Sư
phạm, Hà Nội.
70. Lê Huy Bắc (2013), Phê bình văn học hậu hiện đại Việt Nam, Nxb Tri
155


thức, Hà Nội.
71. Nguyễn Thị Bình (1996), Những đổi mới của văn xuôi nghệ thuật Việt
Nam sau 1975 (khảo sát trên những nét lớn), Luận án Phó tiến sĩ khoa
học ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội.
72. Nguyễn Thị Bình (2012), Văn xuôi Việt Nam sau 1975, Nxb Đại học Sư
phạm, Hà Nội.
73. Pierre Daco (1999), Giải mã những giấc mộng qua ánh sáng Phân tâm
học, Nxb Trẻ, TP. Hồ Chí Minh.
74. Daniel Grojnowski (Phùng Ngọc Kiên, Trần Hinh dịch) (1993), Đọc truyện
ngắn, Tài liệu nội bộ, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Hà Nội.
75. Trương Đăng Dung (1998), Từ văn bản đến tác phẩm văn học, Nxb
Khoa học xã hội, Hà Nội.
76. Trương Đăng Dung (2004), Tác phẩm văn học như là quá trình, Nxb
Khoa học xã hội, Hà Nội.
77. Trương Đăng Dung (2013), Tác phẩm văn học nhìn từ lí thuyết tiếp
nhận, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
78. Nguyễn Thị Ngọc Diệp (2003), Quan niệm nghệ thuật về con người

diễn ngôn, Luận án Tiến sĩ Ngữ văn, Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội.
91. Trần Thanh Hà (2008), Học thuyết Freud và sự thể hiện của nó trong văn
học Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
92. Đinh Thị Thu Hà (2012), Ngôn ngữ nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam
đương đại, Luận án Tiến sĩ Ngữ văn, Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội.
93. Lưu Thị Thu Hà (2008), Sự vận động của truyện ngắn Việt Nam từ 1986
đến nay, nhìn từ góc độ hình thức thể loại, Luận văn thạc sĩ khoa học
Ngữ văn, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn.
94. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) (2006), Từ
điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
157


95. Cao Thị Hồng Hạnh (2006), Ý thức tự vấn trong văn xuôi sau 1975,
Luận văn thạc sĩ, Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội.
96. Lê Thị Tuyết Hạnh (2003), Thời gian nghệ thuật trong cấu trúc văn bản
tự sự (qua các truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1975 – 1995), Nxb Đại
học Sư phạm, Hà Nội.
97. Đỗ Thị Hiên (2007), Ngôn ngữ kể chuyện trong truyện ngắn Nguyễn
Khải và Nguyễn Minh Châu, Luận án Tiến sĩ Ngôn ngữ, Đại học Khoa
học xã hội và Nhân văn, Hà Nội.
98. Phạm Ngọc Hiền (2016), Thi pháp học, Nxb Văn học, Hà Nội.
99. Đỗ Đức Hiểu (2000), Thi pháp hiện đại, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.
100. Nguyễn Thái Hòa (2001), Những vấn đề thi pháp của truyện, Nxb Giáo
dục, Hà Nội.
101. Nguyễn Trọng Hoàn (2007), Nguyễn Minh Châu về tác gia và tác phẩm,
Nxb Giáo dục, Hà Nội.
102. Lê Thị Thanh Huyền (2006), Ý thức về nhịp điệu trong một số tiểu thuyết
Việt Nam thời đổi mới, Luận văn thạc sĩ khoa học Ngữ văn, Trường Đại
học Sư phạm Hà Nội.

mạng tháng Tám 1945, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội.
114. IU.M.Lotman (2004), Cấu trúc văn bản nghệ thuật (Trần Ngọc Vương,
Trịnh Bá Đĩnh, Nguyễn Thu Thủy dịch), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội,
Hà Nội.
115. Phương Lựu (2001), Lý luận và phê bình văn học phương Tây thế kỉ XX,
Nxb Văn học, Hà Nội.
116. Phương Lựu (2005), Phương pháp luận nghiên cứu văn học, Nxb Đại
học Sư phạm, Hà Nội.
117. Phương Lựu (chủ biên) (2006), Lý luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
118. Liviu Petrescu (Lê Nguyên Cẩn dịch và giới thiệu) (2013), Thi pháp chủ
159



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status