Quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài ở khu công nghệ cao thành phố hồ chí minh tt - Pdf 54

HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH

NGUYN TH OANH

QUảN Lý NHà nước đối với hoạt động
ĐầU TƯ TRựC TIếP nước ngoài ở khu công nghệ cao
ThàNH phố hồ chí minh

TểM TT LUN N TIN S
CHUYấN NGNH QUN Lí KINH T
Mó s: 62 34 04 10

H NI - 2019


Công trình được hoàn thành tại
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Người hướng dẫn khoa học:

1. TS Nguyễn Tấn Vinh
2. TS Ngô Hoài Anh

Phản biện 1:.........................................................
.........................................................

Phản biện 2:.........................................................
.........................................................

Phản biện 3:.........................................................
.........................................................

và các nhà khoa học và công nghệ nước ngoài trong nghiên cứu, sáng tạo và
chuyển giao công nghệ trực tiếp cho sản xuất và ươm tạo doanh nghiệp
(DN) CNC. Để thực hiện được nhiệm vụ đó, công tác quản lý nhà nước đối
với hoạt động FDI vào các KCNC cần được ưu tiên hàng đầu.
Trong thời gian qua, hoạt động quản lý nhà nước đối với FDI vào
KCNC Thành phố Hồ Chí Minh đã đạt được những thành tựu đáng kể,
cải thiện được môi trường đầu tư kinh doanh, môi trường pháp lý thuận
lợi, tạo sân chơi bình đẳng thu hút ngày càng nhiều đối tác đầu tư nước
ngoài. Tuy nhiên, cũng cần phải thừa nhận rằng, công tác quản lý nhà
nước còn tồn tại nhiều khó khăn, hạn chế, bất cập và cần có những giải
pháp để khắc phục, đặc biệt là trong thời kỳ hội nhập sâu rộng vào nền
kinh tế thời giới.


2

Với những hiểu biết nhất định về FDI, tình hình phát triển KCNC
Thành phố Hồ Chí Minh và mong muốn nghiên cứu vị trí, vai trò và tìm ra
giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động FDI ở
KCNC Thành phố Hồ Chí Minh nên học viên lựa chọn chủ đề: “Quản lý
nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Khu công
nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài luận án.
2. Mục đích và nhiệm vụ của luận án
2.1. Mục đích
Mục đích nghiên cứu của luận án là hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực
tiễn về quản lý nhà nước đối với hoạt động FDI ở các KCNC; phân tích,
đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động FDI ở KCNC
Thành phố Hồ Chí Minh; đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện
quản lý nhà nước đối với hoạt động FDI ở KCNC Thành phố Hồ Chí Minh
trong thời gian tới.

- Về chủ thể quản lý: Quản lý nhà nước đối với hoạt động FDI ở
KCNC Thành phố Hồ Chí Minh được phân cấp, phân công rõ ràng giữa các
cấp Trung ương và cấp địa phương. Trong khuôn khổ phạm vi của luận án,
tác giả tập trung phân tích, đánh giá vai trò của chính quyền địa phương, cụ
thể ở đây là Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong việc quản lý
hoạt động FDI ở KCNC.
- Về nội dung quản lý: Luận án tập trung phân tích các nội dung: Xây
dựng và hoàn thiện môi trường đầu tư vào Khu công nghệ cao; Hoàn thiện
và tổ chức thực hiện quy hoạch, danh mục thu hút đầu tư trực tiếp nước
ngoài vào Khu công nghệ cao; Tổ chức các hoạt động xúc tiến đầu tư vào
các Khu công nghệ cao; Thẩm định, cấp và điều chỉnh giấy phép đầu tư;
Kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của các DN có vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài trong Khu công nghệ cao.
Phạm vi về thời gian: Luận án nghiên cứu trong phạm vi 15 năm (2002 2017) kể từ khi KCNC Thành phố Hồ Chí Minh được thành lập đến năm 2017.
Phạm vi về không gian: KCNC Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Về phương pháp luận, các luận điểm, giả thiết và luận giải phân tích
trong luận án được trình bày trên cơ sở luận duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử của triết học Mác - Lênin, kinh tế chính trị Mác - Lênin và quan
điểm của Đảng và chính sách của nhà nước về quản lý nhà nước đối với
hoạt động FDI ở Khu Công nghệ cao.


4

Về phương pháp cụ thể: Luận án sử dụng phương pháp phân tích và
tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp thu thập, phân tích số liệu
thống kê, phương pháp điều tra xã hội học... để thực hiện mục đích, nhiệm
vụ nghiên cứu.
5. Những đóng góp của luận án

ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ
TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI Ở KHU CÔNG NGHỆ CAO
1.1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
NƯỚC NGOÀI Ở KHU CÔNG NGHỆ CAO

1.1.1. Nhóm công trình nghiên cứu liên quan của học giả nước ngoài
Ở nhóm này, luận án giới thiệu, phân tích những vấn đề được đề cập
giải quyết trong các công trình nghiên cứu về FDI nói chung và quản lý nhà
nước đối với FDI vào KCNC nói riêng của một số học giả trên thế giới như
Đức, Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan…
1.1.1.1. Các công trình nghiên cứu ngoài nước về đầu tư trực tiếp
nước ngoài nói chung
Luận án tổng quan những công trình liên quan đến khái niệm, đặc điểm
FDI, nguồn gốc, bản chất của FDI và các công trình nghiên cứu vai trò, tác
động của FDI đến sự phát triển KT - XH của các quốc gia.
Trong đó phải kể đến các công trình: "How Does Foreign Direct
Investment Affect Economic Growth?" của Borensztein et al (1995 - 1998);
“Does Foreign Direct Investment Accelerate Economic Growth? in Does
Foreign Direct Investment Promote Development?” của Carkovic và
Levine; luận án tiến sĩ của Faramarz AKARAM, Foreign Direct Investment
in Developing Countries: Impact on Distribution and Employment (Đầu tư
trực tiếp nước ngoài tại các nước đang phát triển: Tác động vào phân phối
và việc làm.
1.1.1.2. Các công trình nghiên cứu ngoài nước về quản lý nhà nước
đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài
Các công trình trong nhóm này đề cập đến hoạt động quản lý nhà nước
đối với FDI thông qua việc phân tích chính sách, bộ máy... quản lý của nhà
nước đối với FDI. Tiêu biểu có các nghiên cứu: Công trình nghiên cứu
"Đầu tư trực tiếp nước ngoài và công nghiệp hóa ở Malaixia, Xingapo, Đài

hoạt động FDI nói chung và ở KCNC nói riêng của các tác giả trong nước
và nước ngoài, có thể rút ra một số kết luận sau đây:
Thứ nhất, các nghiên cứu đều đề cập đến vai trò của FDI đối với quá
trình phát triển KT-XH ở nước nhận đầu tư, đặc biệt là tác động tích cực
đến tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển giao công nghệ, mở
rộng thị trường, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực...
Thứ hai, các công trình đều khẳng định quản lý nhà nước có vai trò
quan trọng đối với hoạt động FDI.
Thứ ba, hầu hết các công trình và tài liệu liên quan đều hướng tới giải
quyết câu hỏi “Làm thế nào để nâng cao hiệu quả quản lý của nhà nước đối
với hoạt động FDI trong bối cảnh hiện nay?”. Để giải các bài toán đó, các
tác giả thường dựa trên các lý thuyết như: lý luận cổ điển về mối quan hệ
giữa nhà nước và thị trường, một số lý thuyết kinh tế học hiện đại về cung cầu vốn quốc tế (Mô hình của Harrod-Domar; các mô hình quản trị hiện
đại... Tuy nhiên, việc vận dụng từng mô hình vào từng quốc gia, từng địa
phương, từng đặc khu kinh tế cụ thể là khác nhau do đặc điểm kinh tế, xã
hội quy định.
Thứ tư, “khoảng trống” nghiên cứu của các công trình trên là:
- Chính sách của Nhà nước đối với hoạt động FDI trong bối cảnh mới có
nhiều biến đổi. Toàn cầu hóa, khủng hoảng kinh tế thế giới, cách mạng công


8

nghiệp 4.0... tác động mạnh mẽ đến việc thực hiện vai trò hỗ trợ của Nhà nước
đối với các hoạt động kinh tế, trong đó có hoạt động của FDI ở các KCNC.
- Quản lý nhà nước đối với hoạt động FDI vào các vùng đặc thù phù
hợp với nhiệm vụ phát triển KT - XH của mỗi vùng, nhất là những vùng
được coi là “động lực tăng trưởng” như Thành phố Hồ Chí Minh. Cho đến
nay, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách thấu đáo, đầy đủ về quản
lý nhà nước đối với hoạt động FDI ở KCNC Thành phố Hồ Chí Minh. Nếu


Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
Ở KHU CÔNG NGHỆ CAO
2.1. TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC
NGOÀI VÀ KHU CÔNG NGHỆ CAO

2.1.1. Cơ sở lý luận về hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài
2.1.1.1. Khái niệm hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trên cơ sở phân tích những quan điểm, khái niệm khác nhau, tác giả
luận án thống nhất tiếp cận khái niệm về FDI trong luận án như sau: Hoạt
động đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vốn
bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào vào nước tiếp nhận đầu tư để có được
quyền sở hữu và quản lý một thực thể kinh tế hoạt động lâu dài ở nước đó
với mục tiêu lợi nhuận.
2.1.1.2. Đặc điểm hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một dự án mang tính lâu dài, không dễ
rút đi trong một thời gian ngắn.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức kéo dài chu kỳ tuổi thọ sản
xuất và chu kỳ tuổi thọ kỹ thuật.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài gắn liền với quá trình hội nhập kinh tế
quốc tế, chính sách về FDI của mỗi quốc gia tiếp nhận đầu tư thể hiện chính
sách mở cửa và quan điểm hội nhập quốc tế về đầu tư.
2.1.1.3. Phân loại đầu tư trực tiếp nước ngoài
* Căn cứ vào mục đích đầu tư: FDI tìm kiếm nguồn tài nguyên; FDI tìm
kiếm thị trường; FDI tìm kiếm hiệu quả; FDI tìm kiếm tài sản chiến lược.
* Căn cứ theo hình thức đầu tư: Hình thức doanh nghiệp liên doanh;
Hình thức doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài; Hình thức hợp đồng
hợp tác kinh doanh.

hội trong những điều kiện cụ thể, xác định và trên cơ sở vận dụng sáng tạo
những quy luật kinh tế khách quan nói chung và quy luật vận động đặc thù
của đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Khu công nghệ cao nói riêng...
2.2.2. Mục tiêu và nguyên tắc quản lý nhà nước đối với hoạt động
đầu tư trực tiếp nước ngoài ở các Khu công nghệ cao
2.2.2.1. Mục tiêu quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp
nước ngoài ở các Khu công nghệ cao
Quản lý nhà nước nhằm đảm bảo mục tiêu thu hút đầu tư nước ngoài ở
các Khu công nghệ cao
Quản lý nhà nước góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động của các
DN đầu tư nước ngoài ở các Khu công nghệ cao.
Quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài nhằm
thực hiện mục tiêu đảm bảo an ninh chính trị.


11

Quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài nhằm
thực hiện các cam kết hội nhập kinh tế.
Quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài vào
Khu công nghệ cao nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng
hiệu quả.
2.2.2.2. Nguyên tắc quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực
tiếp nước ngoài ở các Khu công nghệ cao
Một là, nguyên tắc công bằng.
Hai là, nguyên tắc ổn định.
Ba là, nguyên tắc công khai, minh bạch.
Bốn là, nguyên tắc phân cấp trong quản lý hoạt động FDI ở KCNC.
Năm là, nguyên tắc hiệu quả.
2.2.3. Nội dung quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực

trực tiếp nước ngoài ở Khu công nghệ cao
Tác giả luận án lựa chọn các chỉ tiêu sau đây để đánh giá hoạt động
hiệu quả của quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước
ngoài ở Khu công nghệ cao:
Một là, kết quả thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Hai là, đối tác đầu tư
Ba là, trình độ công nghệ
Bốn là, hình thức đầu tư
2.3. KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA VÀ MỘT SỐ ĐỊA
PHƯƠNG TRONG NƯỚC TRONG VIỆC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI
HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI Ở CÁC KHU CÔNG
NGHỆ CAO - BÀI HỌC CHO THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Luận án phân tích kinh nghiệm của một số quốc gia trong việc quản lý
nhà nước đối với hoạt động FDI ở KCNC như: Đài Loan, Nhật Bản,
Malaysia và kinh nghiệm quản lý nhà nước ở hai KCNC của Việt Nam là
KCNC Hòa Lạc, KCNC Đà Nẵng. Từ đó, rút ra được 05 bài học sau:
Một là, quá trình quy hoạch phát triển KCNC, đặc biệt là việc lựa chọn
vị trí xây dựng, quy mô xây dựng, chọn ngành ưu tiên thu hút đầu tư vào
KCNC phải phù hợp quy hoạch phát triển KT - XH chung, với tiềm năng và
lợi thế của địa phương, với điều kiện cơ sở hạ tầng KT - XH của khu vực và
đảm bảo an ninh quốc phòng.
Hai là, chính sách thu hút và ưu đãi đầu tư phải được xây dựng theo
hướng thuận lợi và có tính cạnh tranh hơn so với các nước trong khu vực,
nhất là môi trường đầu tư phải ổn định, có tính tiên lượng và minh bạch.
Ba là, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, ưu tiên phát triển nguồn
nhân lực chất lượng cao và thu hút nhân tài.
Bốn là, nâng cao trình độ công nghệ trong sản xuất và tăng cường khả
năng hấp thụ CNC.
Năm là, tăng cường công tác xúc tiến đầu tư vào KCNC.

chức theo cơ chế phân cấp, phân quyền giữa cấp trung ương và địa phương.
3.1.3. Thực trạng hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Khu
công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh
Trong giai đoạn đầu khi thành lập từ năm 2002 - 2010, Ban Quản lý
KCNC đã triển khai công tác xúc tiến đầu tư, tiếp thị, quảng bá để thu hút
đầu tư CNC vào KCNC. KCNC đã trải qua giai đoạn khởi nghiệp ban đầu
với “cú hích” thu hút đầu tư trong và ngoài nước để thông qua đó tiếp nhận
chuyển giao - áp dụng - hoàn thiện công nghệ.


14

Giai đoạn 2011 - 2017, KCNC tiếp tục khẳng định là điểm đến tin cậy
về đầu tư CNC, sự hiện diện và mở rộng sản xuất của các tập đoàn CNC có
tên tuổi trên thế giới như Intel, Samsung, Jabil… là những minh chứng.
3.2. PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI
HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI Ở KHU CÔNG
NGHỆ CAO THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trên cơ sở các thông tin, số liệu thu thập từ thực tế công tác quản lý
nhà nước đối với hoạt động FDI ở KCNC Thành phố Hồ Chí Minh trong
giai đoạn 15 năm qua (từ khi thành lập năm 2002 đến năm 2017), luận án
phản ánh thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động FDI theo 05 nội
dung, bao gồm:
3.2.1. Xây dựng và hoàn thiện môi trường đầu tư vào Khu công
nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh
Luận án phản ánh thực trạng xây dựng và hoàn thiện môi trường đầu
tư vào Khu công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh qua các thông tin, số
liệu về:
- Chính sách đất đai, tạo mặt bằng sản xuất kinh doanh.

nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Khu công nghệ cao Thành
phố Hồ Chí Minh
Luận án phản ánh thực trạng kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của
các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong Khu công nghệ
cao Thành phố Hồ Chí Minh qua các thông tin, số liệu cụ thể về:
- Kiểm tra việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chính sách,
quy hoạch... trong Khu công nghệ cao sau khi được cấp có thẩm quyền phê
duyệt hoặc ban hành.
- Tổng hợp, thống kê, theo dõi kiểm tra hoạt động của các DN; kịp thời
phát hiện, đề nghị các cơ quan có thẩm quyền xử lý các hành vi vi phạm
pháp luật của DN.
3.3. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI Ở KHU
CÔNG NGHỆ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

3.3.1. Kết quả đạt được
3.3.1.1. Kết quả đạt được xét trên các nội dung quản lý nhà nước đối
với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Khu công nghệ cao Thành
phố Hồ Chí Minh
Thứ nhất, môi trường đầu tư được cải thiện tạo điều kiện thuận lợi thu
hút FDI và triển khai thực hiện có hiệu quả các dự án FDI.
Thứ hai, danh mục đầu tư được xây dựng tương đối hoàn chỉnh, phù
hợp với mục tiêu định hướng phát triển của KCNC Thành phố.
Thứ ba, đối với công tác xúc tiến đầu tư: Các hoạt động xúc tiến đầu tư có
trọng tâm trọng điểm, tránh dàn trải lãng phí và đạt được hiệu quả cao hơn.
Thứ tư, công tác thẩm định, cấp và điều chỉnh giấy phép đầu tư được
thực hiện theo đúng quy trình quản lý chặt chẽ.
Thứ năm, công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của các DN
có vốn FDI trong KCNC được chú trọng.


một số khó khăn, trở ngại.
Nguyên nhân của các khó khăn này là do thiếu sự phối hợp đồng bộ
giữa các cấp có thẩm quyền trong việc ban hành và thực hiện các chính sách
ưu đãi đầu tư vào KCNC. Mặt khác, nền hành chính quan liêu dẫn đến các
thủ tục hành chính rườm rà. Đặc biệt, KCNC có tính đặc thù riêng, khác với
các KCN, KCX ở Việt Nam - mô hình kinh tế này còn khá non trẻ, do vậy
kinh nghiệm quản lý còn yếu và thiếu nên trong quá trình thực hiện các
chính sách thu hút FDI vào KCNC gặp nhiều khó khăn.


17

Hai là, công tác xây dựng các danh mục thu hút FDI ưu tiên vào
KCNC, KCNC Thành phố Hồ Chí Minh còn nhiều hạn chế, đó là: (1) Các
lĩnh vực, ngành nghề ưu tiên vào KCNC chưa hoàn chỉnh, một số còn ở thế
hệ công nghệ trung bình. (2) Công tác quy hoạch các danh mục ưu tiên thu
hút FDI còn chưa chủ động. (3) Chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ
quan chức năng trong công tác xây dựng danh mục đầu tư ưu tiên vòa
KCNC. (4) Các tiêu chí đặt ra còn cứng nhắc, chưa thể hiện được “tính ưu
tiên”, ưu đãi trong thu hút FDI vào KCNC.
Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập kể trên là do: Các cơ quan
chức năng chưa có nhiều kinh nghiệm trong công tác xây dựng các danh
mục đầu tư ưu tiên vào KCNC. Mặt khác, trình độ KH&CN của Thành phố
còn chưa xứng tầm, nhất là trong khâu thẩm định các dự án đầu tư. Hơn
nữa, công tác quy hoạch còn gặp nhiều cản trở từ các thủ tục hành chính.
Thực tế là, theo danh mục các sản
Ba là, công tác xúc tiến đầu tư ở KCNC còn một số hạn chế: (1) Chất
lượng và hiệu quả xúc tiến đầu tư còn thấp, công tác xúc tiến đầu tư còn dàn
trải, chưa tập trung vào các đối tác, lĩnh vực trọng điểm cũng như chưa có sự
thống nhất điều phối để thực hiện đúng mục tiêu. (2) Hoạt động xúc tiến đầu

liên quan; Năng lực chuyên môn và đạo đức công vụ của cán bộ làm công tác
thẩm định và cấp phép đầu tư còn nhiều vấn đề...
Năm là, công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động FDI trong KCNC Thành
phố Hồ Chí Minh cũng tồn tại một số vướng mắc, đó là: (i) Vẫn xảy ra các
trường hợp các DN FDI vi phạm quy định của pháp luật trong kinh doanh
trong một thời gian dài mới được phát hiện; (ii) Thủ đoạn gian lận, vi phạm
của các DN FDI trong lĩnh vực CNC ngày càng tinh vi...
Nguyên nhân của hạn chế: (i) Các quy định về kiểm tra, thanh tra sau
khi cấp Giấy chứng nhận đầu tư còn thiếu, chưa đồng bộ, chưa hiệu quả; (ii)
Thiếu các biện pháp chế tài chặt chẽ hoặc các biện pháp chế tài còn nhẹ đối
với những sai phạm như không báo cáo định kỳ về hoạt động đầu tư của
DN FDI, không thực hiện góp đủ vốn điều lệ, đúng thời hạn cam kết… (iii)
Hạn chế về năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác thanh tra, kiểm tra.
3.3.2.2. Hạn chế và nguyên nhân xét trên các tiêu chí đánh giá quản
lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Khu công
nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh
Về khả năng thu hút FDI vào KCNC Thành phố Hồ Chí Minh:
Tỷ lệ lấp đầy KCNC Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay chỉ đạt khoảng
60%. Mục tiêu về thu hút các dự án CNC, sản phẩm có sức cạnh tranh,
chuyển giao công nghệ chưa đạt yêu cầu. Số các dự án quy mô lớn giảm, đa
phần các dự án được cấp phép là dự án quy mô nhỏ. Số vốn đăng ký và số
vốn thực hiện của các dự án FDI còn chênh lệch nhau khá lớn.
Nguyên nhân của hạn chế trên là do: Ngành công nghiệp hỗ trợ tại
thành phố còn kém phát triển; nguồn lao động chất lượng cao của Thành


19

phố chưa đáp ứng đủ nhu cầu của nhà đầu tư nước ngoài. Mặt khác, nhiều
cơ chế chính sách của Việt Nam nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh nói

(iii) Công tác thẩm định phê duyệt hợp đồng chuyển giao công nghệ là
vấn đề khó khăn phức tạp trong khi điều kiện đội ngũ cán bộ khoa học


20

kinh tế của nước ta chưa đáp ứng kịp sự phát triển của tiến bộ kỹ thuật.
Về hình thức đầu tư
Với hình thức đầu tư chủ yếu là DN 100% vốn nước ngoài và đến 86%
DN được khảo sát lựa chọn liên kết với các DN nước ngoài khác là một bất
lợi lớn trong quá trình chuyển giao công nghệ. Mặt khác, tác động lan tỏa
của FDI ở KCNC vẫn không như kỳ vọng, chưa tạo ra sự hỗ trợ rõ nét và
thậm chí còn đang dần lấn sân các DN trong nước. Điều này, khiến tăng
trưởng GDP và xuất khẩu ở KCNC Thành phố Hồ Chí Minh ngày một gia
tăng lệ thuộc vào khu vực FDI, còn sản xuất của khối DN trong nước lại
gặp rất nhiều khó khăn.
Nguyên nhân chính ở đây là do: (1) Đầu tư CNC là ngành đòi hỏi cao
về công nghệ và liên quan nhiều đến "bí quyết kinh doanh", do đó, nhiều
đối tác nước ngoài chưa thực sự muốn hợp tác để chia sẻ và chuyển giao;
(2) Mặt khác, nguồn nhân lực chất lượng cao ở Thành phố Hồ Chí Minh
còn thiếu và yếu, điều này làm cho các DN FDI khó sử dụng được nguồn
nhân lực "tại chỗ". (3) Ngoài ra uy tín và khả năng hợp tác của một số DN
trong nước còn nhiều hạn chế, do đó các DN FDI khó tìm cơ hội hợp tác
chung với các DN trong nước.
Chương 4
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ
NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC
NGOÀI Ở KHU CÔNG NGHỆ CAO THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
4.1. XU HƯỚNG VẬN ĐỘNG CỦA DÒNG VỐN ĐẦU TƯ TRỰC
TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀ NHU CẦU ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC

tích các phân khu chức năng khác. Tổng số lũy kế thu hút đạt hơn 100 dự án
CNC, trong đó có 12 tập đoàn CNC tên tuổi lớn của thế giới.
4.2. QUAN ĐIỂM VÀ ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI Ở
KHU CÔNG NGHỆ CAO THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

4.2.1. Quan điểm hoàn thiện quản lý nhà nước đối với hoạt động
đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Khu công nghệ cao Thành phồ Hồ Chí
Minh trong giai đoạn tới
- Thống nhất nhận thức cần xem đầu tư trực tiếp nước ngoài là một bộ
phận cấu thành quan trọng của kinh tế Thành phố nói chung và Khu công
nghệ cao nói riêng.
- Chính sách quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước
ngoài vào Khu công nghệ cao phải đồng bộ và linh hoạt.
- Quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài ở
Khu công nghệ cao nhằm tạo thuận lợi và bình đẳng tối đa cho các nhà đầu
tư, đồng thời đáp ứng cao nhất các yêu cầu hội nhập đã cam kết.
- Hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực
tiếp nước ngoài ở Khu công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh trên cơ sở


22

phát huy sự chủ động, sáng tạo của Ban Quản lý Khu công nghệ cao và phối
hợp với các sở, ban ngành liên quan.
4.2.2. Định hướng hoàn thiện quản lý nhà nước đối với hoạt động
đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Khu công nghệ cao Thành phồ Hồ Chí
Minh trong giai đoạn tới
Một là, thúc đẩy xây dựng, hoàn thiện và trình ban hành các văn bản
quy phạm pháp luật về hoạt động FDI và triển khai có hiệu quả Luật CNC,


đối với hoạt động FDI trong KCNC, kịp thời chấn chỉnh, xử lý những hạn
chế, bất cập; Tăng cường năng lực thực thi pháp luật chính sách của đội ngũ
Ban Quản lý KCNC và các Sở, ban ngành liên quan.
4.3. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI
HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI Ở KHU CÔNG NGHỆ
CAO THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐẾN NĂM 2025 TẦM NHÌN 2030

4.3.1. Nhóm giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước đối với
hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Khu công nghệ cao Thành phố
Hồ Chí Minh
- Hoàn thiện hành lang pháp lý về quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài ở
Khu công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh.
- Hoàn thiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch đối với hoạt động đầu tư
trực tiếp nước ngoài ở Khu công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh.
- Hoàn thiện chính sách ưu đãi đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước
ngoài ở Khu công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh.
4.3.2. Nhóm giải pháp hoàn thiện việc tổ chức thực hiện cơ chế
quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Khu
công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh
- Tổ chức thực hiện xúc tiến, vận động đầu tư.
- Nâng cao hiệu quả công tác thẩm định và cấp phép đầu tư.
- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát đối với hoạt động
đầu tư sau cấp phép.
4.3.3. Nhóm giải pháp hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước đối với
hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Khu công nghệ cao Thành phố
Hồ Chí Minh
- Kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước
- Nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ quản lý và người lao động ở các
Khu công nghiệp đáp ứng yêu cầu thu hút và sử dụng vốn đầu tư


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status