Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện cẩm giàng tỉnh hải dương - Pdf 55

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

LÊ NGỌC MINH

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CẨM GIÀNG – TỈNH HẢI DƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI, NĂM 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

LÊ NGỌC MINH

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CẨM GIÀNG – TỈNH HẢI DƯƠNG

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
MÃ SỐ: 60.62.16

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN THỊ VÒNG

HÀ NỘI, NĂM 2015


đồng nghiệp, bạn bè trong quá trình học tập và thực hiện luận văn này
Hà Nội, ngày

tháng

năm 2015

Tác giả luận văn

KS. Lê Ngọc Minh

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page ii


MỤC LỤC
L
i
ỜI
L
i
ỜI i
M i
Ụ i
D v
A i
D v
A ii
D vi

1. 1
2 6
1. 1
2. 6
1. 2
2. 0
1.
2.
H2
D3
Ch 2
ươ 6
2. 2
1 6
2. 2
1. 6
2. 2
1. 6
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 3


2. 2
2 6
2.
2.
G2
g6
2. 2

3. 4
2 1
3. 4
2. 1
3. 4
2. 2
3. 4
2. 2
3. 4
3 4
3. 5
3. 0
3. 5
3. 1
3. 5
3. 2
3. 5
4 3
3. 5
4. 3
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 4


3.
4.
3.
4.
3.

2 6
T 9
ÀI 7

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 5


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BQ

Bình quân

BVTV

Bảo vệ thực vật

CNH

Công nghiệp hoá

ĐTH

Đô thị hóa

ĐVT

Đơn vị tính


Khoa học kĩ thuật nông nghiệp



Lao động

LUT

Loại hình sử dụng đất

NNBV

Nông nghiệp bền vững

TNHH

Thu nhập hỗn hợp

PBHH

Phân bón hóa học

SXKD

Sản xuất kinh doanh

TTCN

Tiểu thủ công nghiệp



2
4
3
4

3.5 ện
C
3.6 ác
C

4
4
8
5

3.7 ác
C
3.8 ác
C

0
5
1
5

3.9 ác
T
3.1 ổn
H

9
6
1
6

4
3.1
5
3.1
6
3.1

ệu
Hi
ệu
T
ổn
M

3
6
5
6
6

3.3
.3.4

7


4
8
9

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page vii


DANH MỤC HÌNH
ST
T
3.
1
3.
2
3.
3
3.
4
3.
5
3.
6
3.
7
3.
8

S


Page viii


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là
tài nguyên thiên nhiên không có khả năng tái tạo, là thành phần quan trọng của môi
trường sống, là địa bàn phân bố của các khu dân cư, xây dựng cơ sở kinh tế, văn
hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh…Trong quá trình sử dụng đất con người đã làm
thay đổi các thuộc tính của đất theo cả hai hướng tốt và xấu. Do điều kiện cơ sở vật
chất nghèo nàn, trình độ canh tác lạc hậu, nhận thức và tiếp thu khoa học kỹ thuật
còn hạn chế dẫn đến đất đai bị xói mòn, rửa trôi, phá vỡ kết cấu đất, nghèo dinh
dưỡng, bạc màu hoá…
Nông nghiệp là một ngành sản xuất đặc biệt, là hoạt động có từ xa xưa của
loài người; hầu hết các nước trên thế giới đều xây dựng một nền kinh tế từ phát
triển nông nghiệp dựa vào khai thác các tiềm năng của đất, trên cơ sở đó để phát
triển các ngành khác…Vì vậy, tổ chức sử dụng nguồn tài nguyên đất đai hợp lý, có
hiệu quả kinh tế cao là nhiệm vụ quan trọng đảm bảo cho nông nghiệp phát triển
bền vững.
Ngày nay, xã hội phát triển, quá trình phát triển của công nghiệp hoá - hiện
đại hoá, quá trình đô thị hoá, sự bùng nổ dân số diện tích đất nông nghiệp đã
giảm rất nhiều do chuyển sang các mục đích sử dụng khác. Do đó, để đảm bảo vấn
đề an ninh lương thực cần phải có những loại hình sử dụng đất cho hiệu quả kinh tế
cao.
Trong sản xuất nông nghiệp hiện nay, để nâng cao năng suất người dân đã sử
dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật, thuốc trừ sâu, phân bón hoá học một cách bừa
bãi. Do đó đã làm ô nhiễm môi trường đất và nước.
Như vậy, việc đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất nông nghiệp hiện
tại là rất quan trọng để lựa chọn các loại hình sử dụng đất có hiệu quả nhất theo

- Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của địa
phương.

3. Yêu cầu của đề tài
- Nghiên cứu điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và thực trạng sử dụng đất
nông nghiệp của huyện Cẩm Giàng.
- Đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường, phát hiện ưu, nhược điểm
của các loại hình sử dụng đất đang được áp dụng trên địa bàn huyện.
- Đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
trên địa bàn.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 3


Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Một số vấn đề lý luận về sử dụng đất nông nghiệp
1.1.1 Đất nông nghiệp và tình hình sử dụng đất nông nghiệp
1.1.1.1 Khái quát về đất nông nghiệp
Đất nông nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất nông
nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản hoặc nghiên cứu thí nghiệm về
nông nghiệp. Theo Điều 10, Luật Đất đai năm 2013, nhóm đất nông nghiệp bao
gồm các loại đất sau: Đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa và đất trồng cây
hàng năm khác; đất trồng cây lâu năm; đất rừng sản xuất; đất rừng phòng hộ; đất
rừng đặc dụng; đất nuôi trồng thủy sản; đất làm muối; đất nông nghiệp khác gồm
đất sử dụng để xây dựng nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt,
kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất; xây dựng chuồng trại chăn
nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép; đất trồng
trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản cho mục đích học tập, nghiên cứu thí nghiệm;

dụng đất.
1.1.1.2. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp
1.1.1.2.1 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới
Đất nông nghiệp là nhân tố vô cùng quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp.
Trên thế giới, mặc dù nền sản xuất nông nghiệp của các nước phát triển không giống
nhau nhưng tầm quan trọng đối với đời sống con người thì quốc gia nào cũng
thừa nhận. Hầu hết các nước coi sản xuất nông nghiệp là cơ sở nền tảng của sự phát
triển. Tuy nhiên, khi dân số ngày một tăng nhanh thì nhu cầu lương thực, thực phẩm
là một sức ép rất lớn. Để đảm bảo an ninh lương thực loài người phải tăng cường
các biện pháp khai hoang đất đai. Do đó, đã phá vỡ cân bằng sinh thái của nhiều
vùng, đất đai bị khai thác triệt để và không còn thời gian nghỉ, các biện pháp gìn giữ
độ phì nhiêu cho đất chưa được coi trọng. Kết quả là hàng loạt diện tích đất bị
thoái hoá trên phạm vi toàn thế giới qua các hình thức bị mất chất dinh dưỡng và
chất hữu cơ, bị xói mòn, bị nhiễm mặn và bị phá hoại cấu trúc của tầng đất... Người
ta ước tính có tới 15% tổng diện tích đất trên trái đất bị thoái hoá do những hành động
bất cẩn của con người gây ra (Dự án quy hoạch tổng thể đồng bằng sông
Hồng,1994). Theo P.Buringh (1994), toàn bộ đất có khả năng nông nghiệp của thế
giới chừng 3,3 tỷ ha (chiếm 22% tổng diện tích đất liền); khoảng 78% (xấp xỉ 11,7 tỷ
ha) không dùng được vào nông nghiệp .
Đất trồng trọt là đất đang sử dụng, cũng có loại đất hiện tại chưa sử dụng
nhưng có khả năng trồng trọt. Đất đang trồng trọt của thế giới có khoảng 1,5 tỷ ha
(chiếm xấp xỉ 10,8% tổng diện tích đất đai và 46% đất có khả năng trồng trọt). Như
vậy, còn 54% đất có khả năng trồng trọt chưa được khai thác.
Việc con người khai thác và sử dụng bừa bãi không có khoa học làm cho đất
nông nghiệp giảm về cả số lượng. Nhiều vùng đất trên thế giới đã trở thành sa mạc
không thể canh tác được, các hệ sinh thái đất khô cằn rất nhậy cảm với việc khai
thác quá mức và sử dụng đất không hợp lý. Nghèo đói, mất ổn định chính trị, phá
rừng chăn thả quá múc và các hoạt động tưới tiêu nghèo nàn đều đóng góp vào sa
mạc hóa. Tại Châu Phi, phía nam Sahara, với 66% đất đai là sa mạc khô cằn đây là
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

nằm trong vùng nhiệt đới ẩm của Đông Nam Á. Phần lớn diện tích này là đất dốc và
chua; khoảng 40 - 60 triệu ha trước đây vốn là đất rừng tự nhiên che phủ, nhưng đến
nay do bị khai thác khốc liệt nên rừng đã bị phá và thảm thực vật đã chuyển thành cây
bụi và cỏ dại (FAO, 1990).

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 7


Đông Nam Á là một khu vực đặc biệt. Từ số liệu của UNDP năm 1995 cho ta
thấy đây là một khu vực có dân số khá đông trên thế giới nhưng diện tích đất
canh tác thấp, trong đó chỉ có Thái Lan là diện tích đất canh tác trên đầu người khá
nhất, Việt Nam đứng hàng thấp nhất trong số các quốc gia Asean (Nguyễn Điền,
2001).
1.1.1.2.2 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp tại Việt Nam
Trải qua hơn bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước, nông nghiệp Việt Nam
đi qua chặng đường dài phát triển đã có những thành tựu nổi bật nhưng cũng đã có
những sự thay đổi về số lượng cũng như chất lượng đất nông nghiệp.
Ở Việt Nam việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nhằm thoả mãn nhu cầu cho
xã hội về sản phẩm nông nghiệp đang trở thành vấn đề cấp bách luôn được các nhà
quản lý và sử dụng đất quan tâm. Thực tế cho thấy, trong những năm qua do tốc độ
công nghiệp hoá cũng như đô thị hoá diễn ra khá mạnh mẽ ở nhiều địa phương trên
phạm vi cả nước làm cho diện tích đất nông nghiệp có nhiều biến động.
Thoái hóa đất đang là xu thế phổ biến đối với nhiều vùng rộng lớn ở nước ta,
đặc biệt là ở vùng miền núi, nơi tập trung ¾ quỹ đất. Các dạng thoái hoá đất chủ
yếu là: Xói mòn, rửa trôi, đất có độ phì nhiêu thấp và mất cân bằng dinh dưỡng, đất
chua hoá mặn hoá, phèn hoá bạc mầu, khô hạn và sa mạc hoá, đất ngập úng, lũ quét,
đất trượt và sạt lở, ô nhiễm đất.
Trên 50% diện tích đất (5,7 triệu ha) ở vùng đồng bằng và trên 60% diện tích

tích đất đai theo đầu người thấp nhất trên thế giới hiện nay. Theo Nguyễn Đình
Bồng (1995) đất nông nghiệp của chúng ta chỉ chiếm 28,38% và gần tương đương
với diện tích này là diện tích đất chưa sử dụng. Đây là tỷ lệ cho thấy cần có nhiều
biện pháp thiết thực hơn để có thể khai thác được diện tích đất nói trên phục vụ
cho các mục đích khác nhau. So với một số nước trên thế giới, nước ta có tỷ lệ đất
dùng vào nông nghiệp rất thấp. Là một nước có đa phần dân số làm nghề nông thì
bình quân diện tích đất canh tác trên đầu người nông dân rất thấp là một trở ngại to
lớn. Để vượt qua, phát triển một nền nông nghiệp đủ sức cung cấp lương thực thực
phẩm cho toàn dân và có một phần xuất khẩu cần biết cách khai thác hợp lý đất đai,
cần triệt để tiết kiệm đất, sử dụng đất có hiệu quả cao trên cơ sở phát triển một nền
nông nghiệp bền vững.
1.1.2. Hiệu quả và phân loại hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
1..1.2.1. Khái quát về hiệu quả và hiệu quả sử dụng đất
Theo Viện ngôn ngữ học (1992) thì hiệu quả chính là kết quả như yêu cầu
của việc làm mang lại.
Kết quả, mà là kết quả hữu ích là một đại lượng vật chất tạo ra do mục đích
của con người, được biểu hiện bằng những chỉ tiêu cụ thể, xác định. Do tính chất
mâu thuẫn giữa nguồn tài nguyên hữu hạn với nhu cầu tăng lên của con người mà ta
phải xem xét kết quả đó dược tạo ra như thế nào? Chi phí bỏ ra là bao nhiêu? Có
đưa lại kết quả hữu ích hay không? Chính vì thế khi đánh giá kết quả hoạt động sản
xuất không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả mà còn phải đánh giá chất lượng
các hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm đó.
Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu cây
trồng, vật nuôi là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay của hầu hết các nước
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page
10



hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page
11


1.1.2.2.1. Hiệu quả kinh tế
Hiệu quả là một phạm trù kinh tế phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động
kinh tế. Mục đích của sản xuất và phát triển kinh tế, xã hội là đáp ứng nhu cầu ngày
càng tăng về vật chất và tinh thần của toàn xã hội, khi nguồn lực sản xuất của xã hội
ngày càng trở nên khan hiếm, việc nâng cao hiệu quả là một đòi hỏi khách quan của
mọi nền sản xuất xã hội (Nguyễn Đình Hợi, 1993).
Theo C. Mác thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể là quy
luật tiết kiệm thời gian và phân phối một cách có kế hoạch thời gian lao động theo
các ngành sản xuất khác nhau. Trên cơ sở thực hiện vấn đề "tiết kiệm và phân phối
môt cách hợp lý thời gian lao động (vật hoá và lao động sống) giữa các ngành".
Theo quan điểm của C. Mác, đó là quy luật 'tiết kiệm", là "tăng năng suất lao động xã
hội", hay đó là "tăng hiệu quả". Ông cho rằng "Nâng cao năng suất lao động vượt quá
nhu cầu cá nhân của người lao động là cơ sở của hết thảy mọi xã hội". Như vậy theo
quan điểm của Mác, tăng hiệu quả phải được hiểu rộng và nó bao hàm cả việc
tăng hiệu quả kinh tế và xã hội.
Các nhà khoa học kinh tế Samuel - Nordhuas cho rằng "Hiệu quả có nghĩa là
không lãng phí. Nghiên cứu hiệu quả sản xuất phải xét đến chi phí cơ hội, hiệu quả
sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một loại hàng hoá này mà
không cắt giảm sản lượng một loại hàng hoá khác. Mọi nền kinh tế có hiệu quả nằm
trên đường giới hạn khả năng năng suất của nó" (Doãn Khánh, 2000).
Hiệu quả kinh tế là phạm trù chung nhất, nó liên quan trực tiếp tới nền sản
xuất hàng hoá và với tất cả các phạm trù và các quy luật kinh tế khác. Vì thế hiệu
quả kinh tế phải đáp ứng được 3 vấn đề:

khả năng tạo việc làm trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp. Thu hút được
nhiều lao động, giải quyết công ăn việc làm cho nông dân. Đảm bảo an toàn lương
thực, gia tăng lợi ích của người nông dân.
Trong sử dụng đất nông nghiệp, hiệu quả về mặt xã hội chủ yếu được xác định
bằng khả năng tạo việc làm trên một diện tích đất nông nghiệp mà chỉ tiêu quan trọng
nhất là giá trị của sản phẩm nông nghiệp đạt cao nhất trên một đơn vị diện tích (Đỗ
Thị Tám, 2001). Hiện nay, việc đánh giá hiệu quả xã hội của các loại hình sử
dụng đất nông nghiệp là vấn đề đang được nhiều nhà khoa học quan tâm.
1.1.2.2.3. Hiệu quả môi trường
Môi trường luôn là một vấn đề nóng bỏng, mang tính toàn cầu đang được
toàn xã hội quan tâm. Hiệu quả môi trường được các nhà môi trường học rất quan
tâm trong điều kiện hiện nay.
Hiệu quả môi trường là môi trường được sản sinh do tác động của hoá học,
sinh học, vật lí…, chịu ảnh hưởng tổng hợp của các yếu tố môi trường, của các loại
vật chất trong môi trường. Hiệu quả môi trường phân theo nguyên nhân gây nên
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 10


gồm: Hiệu quả hoá học môi trường, hiệu quả vật lý môi trường và hiệu quả sinh vật
môi trường. Hiệu quả hoá học môi trường là hiệu quả môi trường do các phản ứng
hoá học giữa các vật chất chịu ảnh hưởng của điều kiện môi trường dẫn đến. Hiệu
quả vật lý môi trường là hiệu quả môi trường do tác động vật lý dẫn đến. Hiệu quả
sinh vật môi trường là hiệu quả khác nhau của hệ thống sinh thái do sự phát sinh
biến hoá của các loại yếu tố môi trường dẫn đến (Đại từ điển kinh tế thị trường).
Hiệu quả môi trường là một vấn đề mang tính toàn cầu, ngày nay đang được
chú trọng quan tâm và không thể bỏ qua khi đánh giá hiệu quả. Điều này có ý nghĩa
là mọi hoạt động sản xuất, mọi biện pháp khoa học kỹ thuật, mọi giải pháp về quản
lý... được coi là có hiệu quả khi chúng không gây tổn hại hay có những tác động xấu

Điều kiện tự nhiên (đất, nước, khí hậu, thời tiết...) có ảnh hưởng trực tiếp đến
sản xuất nông nghiệp (Nguyễn Đình Hợi, 1993), (Nguyễn Duy Tính, 1995). Bởi vì,
các yếu tố của điều kiện tự nhiên là tài nguyên để sinh vật tạo nên sinh khối. Do vậy,
cần đánh giá đúng điều kiện tự nhiên để trên cơ sở đó xác định cây trồng vật nuôi
chủ lực phù hợp và định hướng đầu tư thâm canh đúng.
Theo C.Mác, điều kiện tự nhiên là cơ sở hình thành địa tô chênh lệch I. Theo
N. Borlang - Người được giải Nobel về giải quyết lương thực cho các nước phát triển
cho rằng yếu tố duy nhất quan trọng hạn chế năng suất cây trồng ở tầm cỡ thế giới
trong các nước đang phát triển, đặc biệt đối với nông dân thiếu vốn là độ phì đất.
1.1.3.2 Nhóm các yếu tố kinh tế, kỹ thuật canh tác
Biện pháp kỹ thuật canh tác là các tác động của con người vào đất đai, cây
trồng, vật nuôi nhằm tạo nên sự hài hoà giữa các yếu tố của quá trình sản xuất để
hình thành, phân bố và tích luỹ năng suất kinh tế. Đây là những tác động thể hiện sự
hiểu biết sâu sắc về đối tượng sản xuất, về thời tiết, về điều kiện môi trường và thể
hiện sự dự báo thông minh và sắc sảo. Lựa chọn các tác động kỹ thuật, lựa chọn
chủng loại và cách sử dụng các yếu tố đầu vào phù hợp với các quy luật tự nhiên
của sinh vật nhằm đạt được các mục tiêu đề ra. Theo Frank Ellis và Douglass
C.North, ở các nước phát triển, khi có tác động tích cực của kỹ thuật, giống mới,
thuỷ lợi, phân bón tới hiệu quả thì cũng đặt ra các yêu cầu mới đối với việc sử dụng
đất. Có nghĩa là ứng dụng công nghệ sản xuất tiến bộ là một đảm bảo vật chất cho
kinh tế nông nghiệp tăng trưởng nhanh.
1.1.3.3 Nhóm các yếu tố kinh tế tổ chức:
- Công tác quy hoạch và bố trí sản xuất: Thực hiện phân vùng sinh thái nông
nghiệp dựa vào điều kiện tự nhiên, dựa trên cơ sở phân tích, dự báo và đánh giá nhu
cầu của thị trường, gắn với quy hoạch phát triển công nghiệp chế biến, kết cấu hạ
tầng, phát triển nguồn nhân lực và các thể chế pháp luật về bảo vệ tài nguyên, môi

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 12


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status