Trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội từ thực tiễn tỉnh quảng nam - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TỪ VĂN HOÀNG LĨNH

TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ
ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TỪ VĂN HOÀNG LĨNH

TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ
ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành : Luật Hình sự và Tố tụng Hình sự
Mã số
: 838.01.04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN VĂN HIỂN

tiễn áp dụng TNHS đối với người dưới 18 tuổi trên địa bàn tỉnh Quảng Nam ........ 58
CHƯƠNG 3. HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VỀ
TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI VÀ GIẢI PHÁP
BẢO ĐẢM ÁP DỤNG ............................................................................................ 61
3.1. Một số đề xuất tiếp tục hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự về
trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội ........................................ 61
3.2. Một số giải pháp bảo đảm áp dụng đúng trách nhiệm hình sự với người dưới
18 tuổi ........................................................................................................................ 69
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Bộ luật Hình sự

BLHS

Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009

BLHS 1999

Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017

BLHS 2015

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

BLTTHS 2015

Tòa án nhân dân

thanh thiếu niên, những người vẫn còn đang trong quá trình phát triển, hoàn thiện về
thể chất, tâm sinh lý cũng như nhân cách sống. Một bộ phận không nhỏ thanh thiếu
niên trở nên hư hỏng, không lo tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao năng lực bản thân mà
chạy theo lối sống thực dụng, ích kỷ, có lối hành xử côn đồ, hung hãn. Thực tiễn
điều tra, truy tố, xét xử cho thấy chủ thể thực hiện tội phạm hiện nay không chỉ có
xu hướng trẻ hóa về độ tuổi mà còn tinh vi, xảo quyệt trong hành vi phạm tội.
Luật hình sự với tư cách là một trong những ngành luật ra đời sớm nhất,
mang nhiệm vụ rất quan trọng trong hệ thống pháp luật đó là bảo vệ chế độ xã hội,
trật tự xã hội. Chính sách pháp luật hình sự của nước ta trong việc truy cứu TNHS
đối với người dưới 18 tuổi phạm tội chủ yếu là nhằm giáo dục, giúp đỡ họ nhận
thức được hành vi sai trái cũng như rèn luyện, tu dưỡng bản thân trở thành công dân
tốt, có ích cho xã hội, góp sức mình vào công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc
trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế hiện nay. Vì vậy,
Bộ luật hình sự nước ta đã dành một chương riêng để quy định về những vấn đề đối
với người dưới 18 tuổi phạm tội. Điều này đã thể hiện sự quan tâm, tư tưởng nhân
đạo, tiến bộ của Đảng và Nhà nước ta đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nói riêng
và thanh thiếu niên nói chung phù hợp với xu hướng quốc tế về yêu cầu bảo vệ ngày
một tốt hơn quyền và lợi ích của người dưới 18 tuổi. Trong bối cảnh BLHS 2015
vừa ra đời đánh dấu một bước tiến quan trọng trong tư duy lập pháp hình sự khi đề
cao hơn nữa hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm
1


tội mà đặc biệt là người dưới 18 tuổi phạm tội cũng như tôn trọng và bảo đảm thực
thi quyền con người, quyền công dân theo tinh thần Hiến pháp năm 2013. Cần thiết
có một nghiên cứu khoa học mang tính tổng hợp đối với các quy định về TNHS đối
với người dưới 18 tuổi phạm tội cũng như sự đánh giá về mặt thực tiễn thi hành các
quy định của BLHS 2015 để kịp thời có phương hướng, giải pháp tiếp tục hoàn
thiện quy định về TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Vì những lý do đó,
tác giả chọn nghiên cứu đề tài: “Trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi

2013; “Các biện pháp giám sát, giáo dục và biện pháp tư pháp đối với người dưới
18 tuổi phạm tội” của Trần Hồng Nhung, khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, năm
2017; “Các nguyên tắc xử lý người chưa thành niên phạm tội trong Luật hình sự
Việt Nam” của Nguyễn Tiến Hoàn, khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2013;
“Chính sách hình sự Việt Nam đối với người dưới 18 tuổi phạm tội: khía cạnh so
sánh” của Ngô Thị Tuyết Thanh, Học viện khoa học xã hội, năm 2018; luận án
“Chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội ở Việt Nam hiện nay”
của Hoàng Minh Đức, Học viện khoa học xã hội, năm 2016.
Các công trình nghiên cứu khoa học nêu trên đã góp phần không nhỏ vào hệ
thống lý luận khoa học pháp lý về TNHS nói chung cũng như về TNHS đối với
người dưới 18 tuổi phạm tội nói riêng. Tuy nhiên, đa số các công trình kể trên vẫn
chưa đề cập một cách hệ thống, toàn diện về TNHS đối với người dưới 18 tuổi
phạm tội, nhất là trong bối cảnh BLHS vừa được ban hành và có hiệu lực từ ngày
1/1/2018. Chính vì vậy, việc nghiên cứu TNHS của người dưới 18 tuổi phạm tội với
sự thay đổi trong quy định pháp luật hình sự trong tương quan với các quy định về
TNHS của người phạm tội nói chung cũng như những yêu cầu, đòi hỏi của pháp
luật quốc tế về tư pháp người chưa thành niên là một vấn đề mới mà tác giả mong
muốn giải quyết. Trong quá trình nghiên cứu, tác giả cũng đã có sự kế thừa, tiếp thu
có chọn lọc nhiều tri thức từ các công trình nghiên cứu khoa học nêu trên trong việc
hoàn thiện nghiên cứu khoa học của mình.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống về TNHS của người dưới 18
tuổi phạm tội theo quy định của Luật Hình sự Việt Nam, bên cạnh đó, trên cơ sở
phân tích, đánh giá số liệu thống kê từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam từ năm 2014 đến

3


năm 2018, chỉ ra những hạn chế, bất cập trong thực tiễn từ đó đề xuất giải pháp tiếp



phạm tội trong Luật hình sự Việt Nam trong sự so sánh với các quy định trong Bộ
luật hình sự các nước Liên Bang Nga, Trung Quốc, Nhật Bản và các văn bản pháp
lý của Liên Hợp Quốc.
Thứ hai, tác giả tập trung nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Quảng Nam thông qua
số liệu thống kê từ thực tiễn xét xử trong vòng 5 năm từ năm 2014 đến năm 2018.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận biện chứng duy vật
của chủ nghĩa Mác – Lê Nin, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về Nhà nước và
pháp luật, các quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về vấn đề thanh niên,
giáo dục thanh niên.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu sau: phương pháp
phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp thống
kê,…nhằm làm sáng tỏ vấn đề cần nghiên cứu.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Về mặt lý luận, luận văn là công trình nghiên cứu đầu tiên đề cập đến việc
làm sáng tỏ một cách toàn diện và có hệ thống về vấn đề TNHS đối với người dưới
18 tuổi phạm tội trong bối cảnh BLHS vừa được ban hành năm 2015 và sửa đổi, bổ
sung năm 2017. Qua đó, là cơ sở cho việc nhận thức một cách đúng đắn về TNHS
đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Bên cạnh việc phân tích các quy định của pháp
luật hình sự Việt Nam hiện hành, luận văn còn nghiên cứu quy định của pháp luật
quốc tế cũng như pháp luật một số nước qua đó có sự đánh giá một cách toàn diện
về TNHS đối với người dưới 18 tuổi.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Về mặt thực tiễn, trên cơ sở nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam
hiện hành, quy định của pháp luật quốc tế, quy định của một số nước, và thực tiễn

HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1. Trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
1.1.1. Khái quát chung về trách nhiệm hình sự của người phạm tội
1.1.1.1. Trách nhiệm pháp lý
Trách nhiệm pháp lý là một trong những vấn đề quan trọng của lý luận về
pháp luật. Trong các sách báo và tài liệu khoa học pháp lý ở Việt Nam, trách nhiệm
pháp lý thường được gắn với vi phạm pháp luật, gắn liền với yếu tố lỗi và do cơ
quan nhà nước có thẩm quyền hoặc cá nhân có thẩm quyền áp dụng. Tác giả cho
rằng, cách hiểu này vẫn chưa hoàn toàn bao quát hết thực tiễn phong phú của đời
sống pháp lý. Vi phạm pháp luật chỉ là một trong các “nguồn” phát sinh của trách
nhiệm pháp lý. Trên thực tế, trách nhiệm pháp lý không chỉ đến từ hành vi vi phạm
pháp luật mà còn có nguồn gốc từ các quan hệ pháp luật khác như giao dịch dân sự,
thương mại, quan hệ hôn nhân - gia đình,…Xã hội càng phát triển thì các mối quan
hệ pháp luật càng phát triển, và do đó nguồn của trách nhiệm pháp lý cũng ngày
càng mở rộng. Tác giả đồng ý với khái niệm trách nhiệm pháp lý mà TS Nguyễn
Văn Quân đưa ra, theo đó “trách nhiệm pháp lý là một liên hệ, ràng buộc pháp lý
giữa các chủ thể pháp luật. Theo đó, một bên có nghĩa vụ thực hiện một hành vi nào
đó, bảo đảm cho một việc gì đó, thực hiện cam kết của mình, nhằm đảm bảo quyền
và lợi ích của bên liên quan” [27, tr.5].
1.1.1.2. Khái niệm và đặc điểm cơ bản của trách nhiệm hình sự đối với
người phạm tội
Trong khoa học pháp lý, TNHS của người phạm tội là vấn đề được nhiều nhà
nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm, đặc biệt là trong những năm gần đây tại
Việt Nam. Tuy nhiên đến nay vẫn chưa có nhận thức thống nhất về TNHS trong
khoa học luật hình sự. Theo quan điểm của GS.TSKH Đào Trí Úc thì TNHS của
người phạm tội là “hậu quả pháp lý của việc phạm tội, thể hiện ở chỗ người đã gây

7



8


biện pháp cưỡng chế của Nhà nước là hình phạt là không phù hợp. Quan điểm coi
TNHS của người phạm tội là nghĩa vụ của một người phải gánh chịu hậu quả pháp
lý bất lợi trước Nhà nước về hành vi phạm tội của mình theo tác giả cũng không
phù hợp. Về bản chất thì nghĩa vụ pháp lý hình sự và trách nhiệm pháp lý hình sự là
khác nhau. Khi đề cập đến nghĩa vụ pháp lý của một người là đề cập đến khả năng
người đó có thể phải chịu trách nhiệm pháp lý, còn khi nói đến trách nhiệm pháp lý
hình sự của một người chính là nói đến việc thực hiện nghĩa vụ pháp lý trái với ý
chí của người có nghĩa vụ. TNHS của người phạm tội, với tính cách là một dạng
của trách nhiệm pháp lý, không phải là nghĩa vụ mà một người có thể phải chịu hậu
quả pháp lý bất lợi do việc người đó thực hiện tội phạm mà chính là việc phải chịu
hậu quả pháp lý bất lợi của người phạm tội trước Nhà nước do việc người đó đã
thực hiện tội phạm. Bên cạnh đó, theo quan điểm của tác giả thì, nếu không có bản
án kết tội có hiệu lực của Tòa án thì không thể nói đến TNHS đối với một người.
Tại khoản 1 Điều 31 Hiến pháp năm 2013 và Điều 13 BLTTHS 2015 đã khẳng định
một nguyên tắc quan trọng nhằm bảo vệ quyền con người trong hoạt động tư pháp
hình sự - nguyên tắc suy đoán vô tội. Theo đó, “người bị buộc tội được coi là không
có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của
Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”. Bản án kết tội có hiệu lực do Tòa án tuyên chính
là cơ sở pháp lý xác nhận người bị buộc tội chính thức bị coi là có tội. Vì vậy, có
thể nói, TNHS được thể hiện ở bản án kết tội của Tòa án và TNHS mà một người
phải chịu trước Nhà nước chỉ có thể được xác nhận một cách chính thức khi bản án
kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Ngoài ra, tác giả cho rằng, để xác định khái niệm TNHS của người phạm tội
trước hết nhận biết các đặc điểm vốn có của nó. Qua nghiên cứu các quan điểm nêu
trên về khái niệm TNHS của người phạm tội, đồng thời căn cứ vào các quy phạm
pháp luật hình sự Việt Nam liên quan đến việc giải quyết vấn đề TNHS của người
phạm tội cũng như thực tiễn áp dụng các quy phạm ấy. Chúng ta nhận thấy TNHS

do ý chí, về mối quan hệ giữa tính tất yếu và tính tự do trong hành vi của con người.
TNHS của người phạm tội chỉ đặt ra đối với hành vi của con người và nhằm
điều chỉnh hành vi của con người. Hành vi đó có thể biểu hiện bằng hành động hoặc
không hành động. Những ý tưởng, ý nghĩ, đặc tính cá nhân của con người chưa
được biểu hiện ra dưới dạng hành vi cụ thể thì không phải chịu sự điều chỉnh của

10


pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng.
Mối quan hệ giữa tính tất yếu và tính tự do trong hành vi của con người thể
hiện ở sự tương tác giữa các điều kiện khách quan bên ngoài với con người. Tính tất
yếu trong hành vi của con người thể hiện ở chỗ, hành vi của con người được hình
thành và thực hiện một cách có quy luật, là kết quả của sự tác động của các điều
kiện tự nhiên, xã hội đến con người. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là con
người lệ thuộc tuyệt đối vào hoàn cảnh khách quan. Hành vi phạm tội là kết quả của
sự suy xét của lý trí và sự quyết định của ý chí. Vì vậy, trong cùng một hoàn cảnh,
cùng chịu sự tác động như nhau của điều kiện bên ngoài, nhưng mọi người lại có
cách xử sự khác nhau. Tính tự do trong hành vi thể hiện ở chỗ tuy bị hoàn cảnh
khách quan tác động đến nhưng con người không mất đi khả năng tự do lựa chọn
hành vi của mình. Cơ sở quy kết TNHS đối với người phạm tội chính là ở chỗ họ đã
thể hiện tự do ý chí trong việc lựa chọn xử sự trái pháp luật trong khi có thể lựa
chọn xử sự khác phù hợp với đòi hỏi của xã hội.
- Cơ sở pháp lý
Cơ sở pháp lý của TNHS của người phạm tội là căn cứ có tính chất bắt buộc
chung do luật hình sự quy định và phải dựa vào đó, các cơ quan nhà nước có thẩm
quyền mới có thể đặt vấn đề TNHS của người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho
xã hội đã được luật hình sự quy định là tội phạm. Hiện nay, trong khoa học luật
hình sự Việt Nam chưa có quan điểm thống nhất về cơ sở pháp lý của TNHS. Có
quan điểm cho rằng “cấu thành tội phạm là cơ sở pháp lý của TNHS, là điều kiện

tụng nhất định. Bên cạnh những đặc điểm nói chung của TNHS của người phạm tội
thì TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội còn mang những đặc điểm cơ bản
sau:
Thứ nhất, đây là dạng TNHS đặc biệt áp dụng đối với người đã đủ 14 tuổi
nhưng chưa đủ 18 tuổi tại thời điểm thực hiện tội phạm, được quy định trong một
chương riêng, thể hiện rõ nét tính nhân đạo của chính sách hình sự nói chung và
pháp luật hình sự Việt Nam nói riêng cũng như sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước
ta đối với nhóm chủ thể này.
Thứ hai, phạm vi chịu TNHS của người dưới 18 tuổi phạm tội hẹp hơn so với
người từ đủ 18 tuổi phạm tội. Ngoài các căn cứ miễn TNHS đối với người phạm tội
thì người dưới 18 tuổi phạm tội còn được miễn TNHS đối với một số tội phạm nếu

12


đáp ứng các điều kiện luật định. Bên cạnh đó, về loại hình phạt có thể áp dụng đối
với người dưới 18 tuổi phạm tội cũng hẹp hơn so với người phạm tội từ đủ 18 tuổi.
Các hình phạt tù chung thân, tử hình, các hình phạt bổ sung không thể được áp dụng
đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Các hình phạt cải tạo không giam giữ, tù có
thời hạn tuy được phép áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nhưng cũng
tùy vào loại tội phạm mà họ thực hiện.
Thứ ba, TNHS áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội về mức độ
nghiêm khắc có giảm nhẹ hơn so với người đủ 18 tuổi phạm tội. Biện pháp tư pháp
giáo dục tại trường giáo dưỡng và các biện pháp giám sát, giáo dục đều là những
biện pháp ít hà khắc hơn và được ưu tiên áp dụng thay vì áp dụng hình phạt. Các
hình phạt nhằm cách ly hoàn toàn người phạm tội ra khỏi xã hội như tù chung thân
và tử hình đều không áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Khung hình phạt
đối với người dưới 18 tuổi phạm tội cũng thấp hơn so với người từ đủ 18 tuổi phạm
tội.
Thứ tư, TNHS áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội mang ý nghĩa

cầu giao tiếp cao hơn đối với bạn đồng trang lứa. Những phát triển mạnh mẽ về thể
chất và chức năng sinh lý càng khiến họ có ấn tượng sâu sắc rằng bản thân đã
trưởng thành và đòi hỏi nhu cầu độc lập, muốn tự hành động, tự đưa ra quyết định
theo ý kiến riêng. Tuy nhiên, khi nhu cầu độc lập phát triển theo hướng thái quá, dễ
dẫn đến các hành vi như ngang bướng, bảo thủ, dễ tự ái, khoe khoang, phô trương,
hành động mang tính phiêu lưu, mạo hiểm. Không giống với sự phát triển như “vũ
bão” về mặt thể chất cũng như tâm lý của nhóm đối tượng này, trình độ nhận thức
và kinh nghiệm sống của họ vẫn còn quá ít ỏi đặc biệt là nhận thức về pháp luật.
Dẫn đến dễ bị kích động, dễ bị lôi kéo vào các hoạt động phạm pháp. Thực tế cho
thấy, nhiều trường hợp người dưới 18 tuổi phạm tội nhưng bản thân họ lại không
biết mình phạm tội, không nhận thức được đầy đủ tính nguy hiểm cho xã hội mà
hành vi của mình mang lại. Một số còn cho rằng hành vi của mình là hợp pháp, là tự
bảo vệ quyền lợi của bản thân, hay góp phần đảm bảo công bằng xã hội. Nhìn
chung, khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của người dưới 18 tuổi
phạm tội hạn chế hơn so với người đã thành niên, vì thế, không thể coi người dưới
18 tuổi phạm tội có năng lực TNHS toàn phần như người từ đủ 18 tuổi phạm tội.
Mặt khác, tuy người dưới 18 tuổi dễ bị dụ dỗ, kích động tham gia thực hiện tội

14


phạm nhưng nhìn chung ý thức phạm tội vẫn chưa sâu sắc, sự giáo dục của nhà
trường, xã hội cũng như gia đình vẫn có những tác động lớn đến nhận thức và hành
vi của họ để giúp họ rời xa con đường phạm tội. Vì lẽ đó, việc cải tạo, giúp đỡ họ
trở thành công dân có ích cho xã hội cũng có những ưu thế nhất định so với người
từ đủ 18 tuổi phạm tội.
Thứ hai, nguyên nhân và điều kiện thúc đẩy hành vi phạm tội ở người dưới
18 tuổi chủ yếu bắt nguồn từ những thiếu sót, bất cập và cả những sai lầm trong
việc nuôi dưỡng, giáo dục cũng như xây dựng và tổ chức các mối quan hệ trong
cuộc sống của người lớn. Môi trường xã hội hóa đầu tiên và có ý nghĩa cực kỳ quan

luật quốc tế
Người dưới 18 tuổi phạm tội là một hiện tượng, thực tế tồn tại từ lâu ở tất cả
các quốc gia trên thế giới. Kể từ khi Liên Hợp Quốc được thành lập năm 1945, đến
nay, đã có nhiều văn bản pháp lý mang tầm quốc tế về quyền con người ra đời. Hiện
nay, việc tăng cường bảo vệ các quyền của trẻ em nói chung, người dưới 18 tuổi nói
riêng cũng là một khía cạnh quan trọng trong hoạt động của các cơ quan và chương
trình của Liên Hợp Quốc. Theo đó, Liên Hợp Quốc đã ban hành nhiều văn kiện về
tư pháp người chưa thành niên như: Công ước về quyền trẻ em được Đại Hội đồng
Liên Hợp Quốc thông qua năm 1989 và để ngỏ cho các quốc gia ký, phê chuẩn và
gia nhập; bên cạnh đó là tập hợp các quy tắc, hướng dẫn tuy không có hiệu lực ràng
buộc về mặt pháp lý đối với các quốc gia thành viên nhưng vẫn được các quốc gia
trên thế giới đồng tình ủng hộ như Các quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên Hợp
Quốc về hoạt động tư pháp đối với người vị thành niên hay còn gọi là Các quy tắc
Bắc Kinh, được Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 29/11/1985; Các
hướng dẫn của Liên Hợp Quốc về phòng ngừa phạm pháp ở người chưa thành niên
hay còn gọi là Các hướng dẫn Ri-át, được Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua
ngày 14/12/1990; Các quy tắc của Liên Hợp Quốc về bảo vệ người chưa thành niên
bị tước tự do được Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 14/12/1990; Các
hướng dẫn làm việc với trẻ em trong hệ thống tư pháp hình sự hay còn gọi là Các
hướng dẫn Viên, được khuyến nghị bởi Hội đồng Kinh tế - Xã hội Liên Hợp Quốc
ngày 21/7/1997.
Các văn kiện kể trên ra đời nhằm một mục tiêu chung đó là hạn chế đến mức
tối thiểu việc các cơ quan tư pháp phải xử lý đối với trẻ em, người chưa thành niên

16


cũng như những ảnh hưởng xấu có thể xảy đến với họ trong trường hợp buộc phải
áp dụng các chế tài pháp luật. Cụ thể, Công ước về quyền trẻ em định nghĩa trẻ em
là “bất kỳ người nào dưới 18 tuổi” và yêu cầu các quốc gia là thành viên phải xem

đối với người dưới 18 tuổi nói chung và TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
nói riêng đã được các quốc gia trên thế giới dành sự quan tâm đặc biệt từ lâu. Các
quốc gia trên toàn cầu đã và đang nỗ lực tìm mọi cách bảo đảm hệ thống pháp luật
liên quan đến người dưới 18 tuổi phạm tội tuân thủ theo đúng pháp luật quốc tế về
quyền con người.
1.2.2. Trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi trong pháp luật một
số nước trên thế giới
Mặc dù tồn tại nhiều văn kiện pháp lý mang tầm quốc tế về tư pháp người
chưa thành niên nêu trên, tuy nhiên, mỗi quốc gia giải quyết vấn đề TNHS đối với
người dưới 18 tuổi phạm tội bằng những cách thức khác nhau, thái độ khác nhau tùy
theo điều kiện kinh tế - xã hội, truyền thống pháp luật và quan điểm của các nhà làm
luật. Trên cơ sở đó, tác giả đã nghiên cứu một số nội dung, quy định về TNHS đối
với người dưới 18 tuổi phạm tội hay còn gọi là người chưa thành niên trong pháp luật
hình sự Liên bang Nga, Trung Quốc, Nhật Bản nhằm làm rõ hơn vấn đề này.
Thứ nhất, về nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Nhìn
chung, pháp luật hình sự các nước đều đề cao nguyên tắc nhân đạo trong các quy
định về TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Khoản 2 Điều 57 BLHS Liên
bang Nga quy định: “hình phạt tù chung thân không áp dụng đối với người phạm
tội tại thời điểm người đó dưới 18 tuổi”. Khoản 2 Điều 59 BLHS Liên Bang Nga
quy định: “hình phạt tử hình không áp dụng đối với người phạm tội tại thời điểm
người đó dưới 18 tuổi”. Khoản 2 Điều 88 BLHS Liên Bang Nga quy định: “hình
phạt tiền chỉ áp dụng đối với người chưa thành niên có thu nhập riêng hoặc tài sản
riêng”. Ngoài ra, theo quy định tại khoản 1 Điều 90 BLHS Liên Bang Nga thì
người chưa thành niên phạm tội lần đầu ở mức độ nghiêm trọng nhỏ hoặc trung
bình có thể được miễn TNHS và áp dụng các biện pháp mang tính giáo dục nếu có
căn cứ cho rằng có thể đạt được hiệu quả cải tạo. Tại Điều 49 BLHS Cộng hòa nhân
dân Trung Hoa quy định: “Không áp dụng hình phạt tử hình đối với người chưa đủ
18 tuổi tại thời điểm thực hiện tội phạm…”. Điều 54 Luật về người chưa thành niên
của Nhật Bản lại quy định: “Không có người chưa thành niên nào bị kết án phải


tù có thời hạn. Khoản 2 Điều 90 BLHS Liên Bang Nga quy định các biện pháp
mang tính giáo dục được áp dụng trong trường hợp miễn TNHS đối với người chưa

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status