Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch tại căn cứ địa k20 – quận ngũ hành sơn – thành phố đà nẵng - Pdf 56

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
KHOA LỊCH SỬ



KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Đề tài:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH
TẠI CĂN CỨ ĐỊA K20 - QUẬN NGŨ HÀNH SƠN THÀNH
PHỐ ĐÀ NẴNG

Sinh viên thực hiện

: ĐỖ LÊ TUẤN THANH

Chuyên ngành

: VĂN HÓA - DU LỊCH

Lớp

: 14CVNH

GV hƣớng dẫn

: ThS. TĂNG CHÁNH TÍN

Đà Nẵng, 04/2018




MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU...................................................................................................... 1
1.

Lý do chọn đề tài............................................................................................. 1

2.

Lịch sử nghiên cứu vấn đề............................................................................... 2

3.

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu................................................................... 4

4.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.................................................................... 4

5.

Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu...................................................... 4

6.

Đóng góp của Khóa luận.................................................................................. 6

7.

2.2.1.1. Nhà truyền thống K20................................................................................. 26
2.2.1.2. Nhà ông Huỳnh Phiên (Huỳnh Vấn)........................................................... 26
2.2.1.3. Nhà thờ Bà Nhiêu....................................................................................... 28
2.2.1.4. Nhà thờ tộc Huỳnh...................................................................................... 31
2.2.1.5. Nhà ông Huỳnh Trưng................................................................................ 32
2.2.2. Hệ thống cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật..................................................... 34
2.2.3. Chính sách đầu tư cho phát triển du lịch........................................................ 35
2.2.4. Một số tour, tuyến du lịch.............................................................................. 36
2.2.5. Số lượng, thành phần khách du lịch............................................................... 37
2.2.6. Các hoạt động của du khách.......................................................................... 39
Chƣơng 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI

KHU DI TÍCH CĂN CỨ ĐỊA CÁCH MẠNG K20 - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
................................................................................................................................. 41
3.1. Cơ sở đưa ra giải pháp...................................................................................... 41
3.1.1. Chính sách quy hoạch, phát triển du lịch của địa phương..............................41
3.1.2. Ý kiến phản hồi của du khách...................................................................... 43
3.1.3. Ý kiến, nguyện vọng của người dân K20...................................................... 45
3.2. Một số đề xuất, giải pháp nâng cao hiệu quả phát triển du lịch tại căn cứ địa K20 Đà

Nẵng 46
3.2.1. Giải pháp nghiên cứu quy hoạch tổng thể Khu căn cứ địa K20....................46


3.2.2. Giải pháp nghiên cứu, tôn vinh giá trị của căn cứ địa K20...........................47
3.2.3. Giải pháp đầu tư phục hồi, tôn tạo các di tích.............................................. 47
3.2.4. Giải pháp phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng vật chất kỹ thuật.......................48
3.2.5. Giải pháp xây dựng tour tuyến du lịch.......................................................... 49
3.2.6. Giải pháp đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ du lịch...................................52
3.2.7. Giải pháp để quảng bá, tuyên truyền............................................................. 53

cảnh quan thiên nhiên đa dạng, các khu du lịch đẳng cấp, di tích lịch sử, bảo
tàng,… tạo nên sự phong phú cho du lịch Đà Nẵng. Ngoài ra, Đà Nẵng còn là
điểm trung chuyển của 3 di sản văn hóa nổi tiếng thế giới là Cố đô Huế, phố cổ
Hội An và thánh địa Mỹ Sơn. Với những lợi thế như vậy, Đà Nẵng trở thành một
trong những trung tâm du lịch thu hút khách du lịch trong nước và nước ngoài.
Theo đó, loại hình du lịch cũng được phong phú hơn để thỏa mãn nhu cầu du lịch
ngày càng tăng của xã hội. Bên cạnh những hình thức Teambuilding, du lịch
1


khám phá, du lịch mạo hiểm,… đang được ưa chuộng trên thị trường, thì loại
hình trở về chiến trường xưa hay tham quan, học tập tại các di tích lịch sử cũng
đang được thành phố tập trung đưa vào khai thác và phát triển. Điển hình là tại
Khu căn cứ địa cách mạng K20.
K20 là tên gọi do Quận ủy Quận 3 (Đà Nẵng) đặt để làm mật hiệu liên lạc thời
chống Mỹ. Khu căn cứ cách mạng K20 nằm trên địa bàn Khu dân cư Đa Mặn 5,
phường Khuê Mỹ, quận Ngũ Hành Sơn. Nơi đây còn lưu giữ những di vật, hiện vật và
hệ thống hầm bí mật trong kháng chiến chống Mỹ, có giá trị minh chứng lịch sử về một
thời đấu tranh ngoan cường, bất khuất ngay trong lòng địch của cán bộ và nhân dân
K20 thành phố Đà Nẵng. Khu căn cứ cách mạng K20 được Bộ Văn hóa - Thể thao và
Du lịch xếp hạng di tích cấp quốc gia năm 2010. Hiện nay, Khu di tích căn cứ địa cách
mạng K20 được thành phố Đà Nẵng đầu tư chỉnh trang, nâng cấp khang trang nhưng
nơi vẫn giữ được nét đẹp hiền hòa, yên ả của một vùng quê ngay giữa lòng đô thị để du
khách trong thành phố, trong nước và quốc tế đến tham quan, tìm hiểu về những giá trị
lịch sử được lưu lại. Đó chính là lý do tôi lựa chọn đề tài “Thực trạng và giải pháp
phát triển du lịch tại căn cứ địa K20 – quận Ngũ Hành Sơn

– thành phố Đà Nẵng” để làm đề tài Khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Liên quan đến nội dung đề tài đã có một số công trình trong nước phản ánh,

hình” ở Đà Nẵng trong những năm kháng chiến chống Mỹ. Mặc dù vậy, quá
trình xây dựng, vai trò về quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa và đặc điểm của
Căn cứ K20 vẫn chưa được làm rõ.
Công trình Lịch sử đấu tranh cách mạng và xây dựng Đảng bộ phường Bắc
Mĩ An (1930 – 2005) do Đảng bộ hai phường Mỹ An và Khuê Mĩ ấn hành năm
2010 đã trình bày một cách khái lược về sự ra đời, tổ chức và hoạt động của Căn
cứ K20 trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Một số bài báo về khai thác du lịch tại K20, điển hình như bài viết trên báo
Đà Nẵng: “Di tích K20 – điểm đến còn bỏ ngõ” số ra ngày 20/10/2015 của tác
giả Nhật Hạ đã trình bày được các sản phẩm độc đáo để khai thác các giá trị của
Căn cứ K20, những nguyên nhân tại đây chưa được khai thác hiệu quả để đáp
ứng nhu cầu giáo dục truyền thống cũng như chưa đẩy mạnh phát triển du lịch tại
địa phương.
Ngoài ra còn một số bài nghiên cứu về Căn cứ K20 được đăng trên các Tạp
chí khoa học và các trang báo điện tử như www.vietnamtourism.com,
tourism.danang.gov.vn, toptendulichdanang.com,… đã trình bày một cách khái
quát về vai trò của Căn cứ K20 trong những năm tháng kháng chiến chống Pháp,
chống Mỹ cứu nước cũng như K20 ngày nay. Tuy nhiên, đây chỉ mới dừng lại ở
3


một bài báo mà chưa thật sự đi sâu vào thành công trình nghiên cứu khoa học
đưa ra các giải pháp cũng như định hướng phát triển du lịch tại Khu Căn cứ K20.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nêu trên đã cung cấp những thông
tin quan trọng về Căn cứ K20 trong kháng chiến chống Mỹ. Tuy nhiên, cho đến
nay vẫn chưa có một công trình chuyên khảo nào đi sâu nghiên cứu về quá trình
xây dựng, đặc điểm và những đóng góp của Căn cứ K20 đối với cuộc kháng
chiến chống Mỹ. Cũng như nghiên cứu về phát triển du lịch tại Căn cứ địa K20 –
thành phố Đà Nẵng.
3.


Mỹ, quận Ngũ Hành Sơn.
5.

Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
-

Nguồn tư liệu:

4


+ Các văn kiện: Hệ thống các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà
nước và Quân đội Nhân dân Việt Nam về cuộc kháng chiến chống Pháp và
chống Mỹ cứu nước.
+ Tác phẩm của các vị lãnh tụ và lãnh đạo: Tác phẩm của Hồ Chí Minh, lãnh
đạo Đảng, Nhà nước và Quân đội về cách mạng giải phóng dân tộc, về cuộc
kháng chiến chống Mỹ, về căn cứ địa cách mạng trong chiến tranh giải phóng
dân tộc.
+

Tài liệu lưu trữ: Các tài liệu liên quan đến cuộc kháng chiến chống Pháp,

chống Mỹ cứu nước hiện được lưu trữ ở Bộ tư lệnh Quân khu V; Viện Lịch sử
Quân sự Việt Nam; Viện Lịch sử Đảng; Ban Tuyên giáo thành phố Đà Nẵng. Ban
Quản lý Khu di tích Ngũ Hành Sơn và Ban Quản lý Khu di tích K20 – thành phố
Đà Nẵng.
+

Các công trình nghiên cứu đã công bố: Các công trình nghiên cứu về việc


5


xúc với chính quyền địa phương, Ban Quản lý Khu di tích Ngũ Hành Sơn, Ban
Quản lý Khu di tích Căn cứ địa cách mạng K20, các nhân chứng lịch sử.
6.

Đóng góp của Khóa luận
Nghiên cứu, tìm hiểu một cách căn bản và tương đối đầy đủ về Căn cứ K20

nhằm phục vụ công tác giáo dục truyền thống và bổ sung tư liệu về hai cuộc
kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước của quân và dân thành phố Đà
Nẵng. Bên cạnh đó, đề tài cũng tìm hiểu thực trạng phát triển du lịch tại Căn cứ
K20 và nghiên cứu để tìm ra giải pháp nâng cao hiệu quả phát triển du lịch tại
đây. Nhằm góp phần bổ sung thêm loại hình du lịch tại Đà Nẵng thêm đa dạng,
cũng như đóng góp vào nền kinh tế của người dân xung quanh khu vực Căn cứ
K20 địa phương nói riêng cũng như thành phố Đà Nẵng nói chung.
7.

Bố cục Khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo. Khóa luận có phần nội

dung chia làm ba chương:
-

Chương 1: Tổng quan về Căn cứ địa cách mạng K20 – Thành phố Đà
Nẵng.

-

“Căn cứ của lực lượng kháng chiến nằm sâu trong vùng địch tạm chiếm trong
kháng chiến chống Pháp và kháng chiến chống Mỹ; xuất hiện trong chiến tranh
nhân dân Việt Nam để đấu tranh chống địch có hiệu quả. Căn cứ lõm thường có
quy mô không lớn nhưng chiếm vị trí xung yếu mà lực lượng kháng chiến dựa
vào đó để xây dựng và phát triển lực lượng phục vụ cho đấu tranh chính trị và
đấu tranh vũ trang trong vùng địch hậu.” [5, tr.96]
1.1.2. Phân loại căn cứ địa cách mạng
Theo Từ điển thuật ngữ quân sự Việt Nam: “Theo đơn vị hành chính, có căn
cứ địa cách mạng: Trung ương, địa phương, cơ sở. Theo địa hình và vùng lãnh
thổ, có căn cứ địa cách mạng: ở đồng bằng, vùng núi, đô thị”. [5, tr.127]
1.1.3. Vai trò của căn cứ địa cách mạng
7


Cuốn Từ điển thuật ngữ lịch sử phổ thông: “Căn cứ địa là nơi cung cấp sức
mạnh vật chất, quân sự, nguồn cổ vũ về tinh thần, chính trị trong cách mạng và
kháng chiến.” [27, tr.77]
Cũng theo các nguồn tư liệu khác được nghiên cứu cũng cho thấy được vai
trò của các căn cứ địa cách mạng. Cụ thể:
“Căn cứ địa ở Việt Nam là chỗ dựa, nơi bày thế trận tiêu diệt đối phương tại
chỗ, đồng thời làm nơi xuất phát, bàn đạp cho các lực lượng kháng chiến tiến
công địch ở bên ngoài căn cứ, tạo điều kiện cho phong trào du kích chiến tranh
phát triển ở vùng tạm bị chiếm, góp phần tạo ra cục diện chiến trường ngày
càng có lợi cho cách mạng và kháng chiến.”
1.1.4. Một số căn cứ địa cách mạng tại Việt Nam
Trên phạm vi cả nước, ngay trong kháng chiến chống Pháp, hàng loạt căn
cứ địa ra đời và từng bước phát triển, như: Việt Bắc, các chiến khu Thanh - Nghệ
-

Tĩnh, Nam - Ngãi - Bình - Phú, Chiến khu Đ, Đồng Tháp Mười, U Minh,

Căn cứ địa U Minh là căn cứ cách mạng trong các thời kỳ chống Pháp,
chống Mỹ và có lúc là căn cứ của nghĩa quân Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung
Trực. Trong 9 năm kháng chiến chống Pháp, nơi đây là căn cứ của Quân khu IX,
Xứ uỷ, Trung ương Cục Miền Nam, Ủy ban Kháng chiến hành chánh Nam Bộ. U
Minh Thượng có kinh xáng Chắc Băng là trung tâm khu tập kết 200 ngày thi
hành Hiệp định Giơnevơ của miền Nam. Sau cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, đồng chí
Võ Văn Kiệt và một số đồng chí lão thành Cách mạng xây dựng lại cơ sở, gây
dựng lại phong trào. Và từ đó, U Minh Thượng là căn cứ Cách mạng của Liên
Tỉnh ủy miền Tây (sau được đổi tên là Khu Tây Nam Bộ, tức Khu IX), Liên Tỉnh
ủy Hậu Giang, là nơi thành lập Tỉnh ủy lâm thời Rạch Giá,…
1.2. Căn cứ địa cách mạng K20 – thành phố Đà Nẵng
1.2.1. Điều kiện tự nhiên, dân cư và truyền thống cách mạng
Về vị trí địa lý, Căn cứ K20 nằm trên địa bàn khu dân cư Đa Mặn 5 (thuộc
phường Khuê Mỹ, quận Ngũ Hành Sơn) cách phố cổ Hội An khoảng 20km và
danh thắng Ngũ Hành Sơn khoảng 1,5km về phía Tây; cách trung tâm thành phố
Đà Nẵng khoảng 10km về phía Đông Nam; phía Đông, phía Bắc giáp đường quy
hoạch khu số 4 mở rộng – Nam cầu Tuyên Sơn; phía Tây giáp đường Trần Hưng
Đạo; phía Nam giáp đường cách ly đường dây 110KV. Có diện tích gần 9ha, dân
cư ở đây thưa thớt, sống trong khu căn cứ chỉ vài trăm hộ, co cụm thành từng
xóm nhỏ về phía Nam, giữa vùng đất thấp để tiện cho việc sản xuất nông nghiệp
trồng lúa và hoa màu.
9


Theo các nhân chứng lịch sử, trong thời kỳ chống Mỹ địa bàn Căn cứ K20
bao gồm các xóm Đa Phước (xóm Cát), Nước Mặn (xóm Đồng) và một phần của
làng Mĩ Thị, Bà Đa thuộc quận III – Đà Nẵng, trung tâm căn cứ chính là xóm
Đồng với lũy tre bao bọc xung quanh, cây cối rậm rạp; phía Đông tiếp giáp với
song và đồng ruộng , phía Tây giáp sông Cổ Cò, Hòa Quý, Hòa Xuân; phía Nam
giáp cánh đồng trũng vào tới đập Bờ Quan, phía Bắc giáp cánh đồng rộng lớn

Về chế độ thủy văn, vùng Căn cứ K20 trong chống Mỹ tiếp giáp với biển và
các con sông nên vào mùa mưa, nhiều khu vực ở đây bị ngập nước và xâm thực
mặn ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống, hoạt động sản xuất nông nghiệp của
nhân dân.
Theo sử cũ, quá trình “Nam tiến” vùng đất Đa Mặn, Mĩ Thị, Bà Đa đã được
những cư dân Việt ở phía Bắc đèo Ngang vào khai phá và sinh sống từ những
thập niên cuối thế kỷ XV, đầu thế kỷ XVI. Tại đây, trên các cánh đồng trũng, các
bãi bồi ven sông cư dân đã quầy tụ sinh sống chủ yếu dựa trên sản xuất nông
nghiệp trồng lúa nước và các loại hoa màu khác như khoai, sắn, ngô,… bên cạnh
phát triển nghề chài lưới, đánh bắt thủy sản trên các dòng sông lân cận. Cũng bắt
đầu từ đó, trên mảnh đất này cũng đã dần hình thành nên các làng như Khuê Bắc,
Mĩ Thị, xóm An Thượng, xóm Vạn Du,…
Vùng Căn cứ K20 trước đây là một khu vực khá hoang vu, đất đai khô cằn,
khí hậu khắc nghiệt rất khó để làm ăn sinh sống, nhưng bằng sự cần cù, chịu
thương, chịu khó những cư dân đầu tiên đi khai hoang lập ấp đã kiên trì bám đất,
đấu tranh với thiên nhiên để lập nên các xóm làng. Chính từ trong gian khổ đã tôi
rèn cho người dân nơi đây ý chí kiên cường và tinh thần cố kết cộng đồng rất cao
mà không phải nơi đâu cũng có được.
Nhân dân Căn cứ K20 luôn có ý thức giữ gìn và phát huy truyền thống văn
hóa dân tộc. Vì vậy, dù vất vả mưu sinh song những phong tục cổ truyền, những
sinh hoạt giải trí tinh thần, những lễ hội dân gian địa phương vẫn được người dân
gìn giữ, phát huy với nội dung hết sức phong phú, đa dạng phản ánh bức tranh
lao động đa màu sắc, thể hiện ước mơ về một cuộc sống tươi đẹp, hạnh phúc.
Hiện nay, trước tốc độ đô thị hóa ngày càng nhanh, diện tích đất sản xuất
nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, một bộ phận cư dân nơi đây đã nhanh chóng
chuyển đổi nền kinh tế sang các lĩnh vực khác như buôn bán, sản xuất đồ thủ
công bên cạnh bộ phận cư dân tiếp tục bán đất, bám ruộng để trồng lúa nước, hoa
màu làm cho bức tranh kinh tế nơi đây cũng có những chuyển biến tích cực.

11

khuất cho đến ngày Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công.
Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã đánh dấu một mốc vàng
son chói lọi trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Nước
12


Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Cùng với cả nước, nhân dân Đa Mặn, Mĩ
Thị, Bà Đa tích cực, hồ hởi hưởng ứng, tham gia xây dựng, bảo vệ thành quả
cách mạng vừa giành được, trong đó tập trung thực hiện 3 nhiệm vụ lớn, cấp
bách là diệt giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm, theo chỉ đạo của Chủ tịch Hồ
Chí Minh và Chính phủ cách mạng.
Đầu năm 1946, huyện Hòa Vang tiến hành sắp xếp, thay đổi đơn vị hành
chính trực thuộc. Lúc này, Đa Mặn, Mĩ Thị và Bà Đa thuộc xã An Bắc, huyện
Hòa Vang. Trên cơ sở đó ngày 16 tháng 01 năm 1946, tại nhà bà Xã Dậu xóm
Nước Mặn, dưới sự chủ trì của Ủy viên Thường vụ Huyện ủy Hòa Vang Nguyễn
Xuân Diệp, Chi bộ xã An Bắc được thành lập, lấy mật danh là Chi bộ Đặng
Tuyến. Khi mới thành lập Chi bộ có 3 đảng viên, đến tháng 9 năm 1946 tăng lên
9 đảng viên, gồm: Trần Viết Thăng, Nguyễn Luận (Bà Đa), Huỳnh Kim Bảng
(Mĩ Thị), Nguyễn Đẩu, Nguyễn Đấu, Nguyễn Thi, Đặng Sự (Đa Mặn) và Trần
Văn Hoa, Trần Văn Huyền (Sơn Thủy) do Trần Văn Hoa làm Bí thư.
Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Chi bộ và chính quyền cơ sở, nhân dân Đa Mặn,
Mĩ Thị, Bà Đa càng tích cực tham gia vào các tổ chức cách mạng ở địa phương
như lực lượng tự vệ chiến đấu xã, các tổ chức đoàn thể quần chúng và đặc biệt,
nhiều thanh niên hăng hái xung phong tham đoàn quân Nam tiến vào chiến
trường miền Nam. Tất cả đã sẵn sàng cùng nhân dân Đà Nẵng và cả nước bước
vào một cuộc chiến không tránh khỏi với thực dân Pháp.
Cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ ngày 19 tháng 12 năm 1946. Tại Đà
Nẵng, sau hơn một tháng bị quân ta kháng cự quyết liệt, địch đã chiếm được
vùng nội thành. Từ đó chúng tung quân liên tục tổ chức những cuộc tiến công
lớn ra các vùng xung quanh để mở rộng phạm vi chiếm đóng. Cùng với đó,

nổi lên những tấm gương điển hình, kiên định với cách mạng, sẵn sàng chấp
nhận cực hình và hy sinh cả bản thân mình để bảo vệ cán bộ. Các ông Nguyễn
Phúng, Hồ Ngô, Hồ Cường khi bị địch bắt, chúng tra tấn cực kỳ dã man, buộc
chỉ hầm bí mật, nhưng các ông vẫn không lung lay ý chí, ông Nguyễn Phúng và
Hồ Ngô hy sinh anh dũng.
Sẵn tinh thần yêu nước, cách mạng, lòng căm thù giặc sâu sắc, được sự chỉ
đạo hướng dẫn trực tiếp của cán bộ cơ sở, phong trào đấu tranh chính trị của
nhân dân K20 phát triển liên tục, rộng khắp và thu được nhiều thắng lợi quan
trọng như đấu tranh chống bắt lính, đòi các quyền dân sinh, dân chủ, bảo vệ môi
trường, chấm dứt càn quét, cướp bóc, khủng bố nhân dân… Tiêu biểu như cuộc
đấu tranh không cho địch đổ chất thải rắn xuống sông Hàn năm 1949; phong trào
14


chống nộp thuế ghe, thuế đất và nộp vật liệu cho địch xây đồn bốt từ năm 1951
đến 1953.
Cuối năm 1953, địch tổ chức một cuộc bủa vây lớn ở khu Đông – Đà Nẵng.
Chúng bắt nhiều thanh niên về tập trung tại Ngã ba Non Nước. Ngay lập tức
Đảng bộ khu Đông phát động phong trào đấu tranh chống bắt lính. Nhân dân khu
Đông, trong đó có nhân dân K20 rầm rập kéo đến bao vây đoàn xe địch. Trước
khí thế đấu tranh hừng hực, cương quyết của quần chúng, địch buộc phải thả hết
số người bị lính bắt.
Cuối năm 1953 đầu năm 1954,cùng với chiến trường cả nước, quân và dân
Đà Nẵng đã đẩy mạnh tấn công địch và giành được những thắng lợi giòn giã.
Ngày 7 tháng 5 năm 1954, Chiến dịch Điện Biên Phủ thắng lợi đã giáng một đòn
quyết định vào ý chí xâm lược của thực dân Pháp và làm xoay chuyển cục diện
chiến tranh Đông Dương. Ngày 21 tháng 7 năm 1954, Hiệp định Gionevo về lập
lại hòa bình ở Đông Dương đã được ký kết. Từ đây nhân dân K20 chuyển sang
giai đoạn đấu tranh cách mạng mới với muôn vàn cam go và thử thách.
1.2.2.2. Trong kháng chiến chống Mỹ

về xây dựng và phát triển phong trào cách mạng của quận. Như chỉ đạo của đồng
chí Hồ Nghinh về đẩy mạnh công tác củng cố và phát triển Căn cứ K20, trong
các năm 1971 – 1972. Đặc biệt nhất, vào những ngày tháng 3 năm 1975, trong
không khí sôi sục của cách mạng miền Nam, thành phố Đà Nẵng, tại K20, Quận
ủy quận III liên tục nhận được các mật điện của Đặc Khu ủy Quảng Đà chỉ đạo
phải nắm chắc tình hình, kịp thời hình thành các ban khởi nghĩa trên địa bàn toàn
quận, huy động đến mức tối đa lực lượng tại chỗ cùng nhân dân toàn thành phố
nổi dậy giải phóng quê hương.
Đồng thời, đây cũng là nơi diễn ra nhiều hội nghị, nhiều buổi họp, trao đổi
của Quận ủy quận III, trong đó có những hội nghị có tính chất quyết định đến sự
chuyển biến của công cuộc kháng chiến ở địa phương. Đó là: Hội nghị giữa năm
1965, khi Mỹ đã trực tiếp đổ bộ vào Đà Nẵng. Quận ủy đã phát động phong trào
thi đua đánh Mỹ; Hội nghị cuối năm 1967 về xây dựng kế hoạch, chuẩn bị cho
cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968; Hội nghị ngày 29 tháng 1
năm 1968 kiểm tra về công tác chuẩn bị vật lực cho Tổng tấn công và nổi dậy
Xuân Mậu Thân 1968; tiếp sau đó là Hội nghị chuẩn bị kế hoạch thực hiện chiến
dịch Hè năm 1968.
K20 là nơi triển khai kế hoạch, tổ chức xuất quân tấn công địch của lực
lượng vũ trang quận III. Hầu hết, các trận đánh lớn, nhỏ của lực lượng vũ trang
16


quận tấn công vào các trụ sở, căn cứ điểm Mỹ - Ngụy trên địa bàn đều trải qua
một thời gian bàn thảo, chuẩn bị kỹ lưỡng tại K20. Đây là nơi các chiến sĩ đi
nắm thông tin từ cơ sở, trinh sát mục tiêu, trận địa rồi trao đổi, xây dựng kế
hoạch tác chiến. Đồng thời, đây cũng là nơi chuẩn bị đầy đủ nhất khí tài, đạn
dược, đảm bảo công tác hậu cần cho mỗi trận đánh. Và, đây là nơi đội quân xuất
trận, tiếp áp mục tiêu để thực hiện nhiệm vụ chiến đấu.
Căn cứ địa K20 là hậu phương tại chỗ, nơi bảo đảm một phần quan trọng
tiềm lực của cuộc kháng chiến. Muốn tiến hành chiến tranh một cách thật sự,

cho nên nơi đây đã trở thành địa bàn triển khai các cứ điểm quân sự mạnh của
Mỹ ngụy trong kế hoạch xây dựng Đà Nẵng thành khu liên hợp quân sự lớn nhất
miền Trung. Có những thời điểm chúng tập trung tới 6000 quân với đủ các loại
lính: thủy quân lục chiến, biệt kích, bộ binh cơ giới,… Đi liền theo đó là một hệ
thống dày đặc các đồn bốt, trạm gác, cơ sở thông tin, trại huấn luyện quân sự,…
với trang bị kỹ thuật và phương tiện chiến tranh hiện đại. Đặc biệt, chúng còn
xây dựng ở đây một sân bay quân sự chiến thuật nhằm giảm tải cho sân bay Đà
Nẵng, đáp ứng yêu cầu ngày càng mở rộng của cuộc chiến tranh. Trong khi đó, ta
cũng xác định đây là địa bàn chiến lược cực kỳ quan trọng để xây dựng và phát
triển lực lượng cách mạng, cất giấu vũ khí,… là cầu nối giữa phong trào cách
mạng địa phương với vùng giải phóng và tỉnh Quảng Nam, và là bàn đạp để lực
lượng vũ trang của ta từ hậu cứ đột kích vào vùng địch hậu.
Vượt qua biết bao gian khổ, hy sinh, bằng sự khôn khéo, mưu trí, dũng cảm,
quần chúng nhân dân K20 đã biến nơi đây thành vùng đất “thép” trong phong
trào đấu tranh cách mạng ngay giữa lòng địch với mạng lưới hầm bí mật dày đặc,
có thời điểm lên tới 157 hầm. Tất cả đều được ngụy trang hết sức khéo léo, kín
đáo, đa dạng và được bảo vệ trong một thế trận lòng dân giàu truyền thống cách
mạng. Nhân dân K20 luôn có ý thức tự cảnh giác cách mạng, đoàn kết thành một
khối thống nhất, không phân biệt già trẻ, gái trai kiên quyết bám trụ xóm làng,
đấu tranh vì mục tiêu giải phóng quê hương.
Cứ mỗi lần địch vây ráp, lùng sục, đánh phá, càn quét vào làng là nhân dân,
đặc biệt là các mẹ, các chị lại hiên ngang đứng chặn trước đầu xe, họng súng kẻ
thù để đấu tranh, đồng thời mưu trí đánh lạc hướng địch và nhanh chóng thông
báo cho các cơ sở của ta kịp thời đối phó, bảo toàn được lực lượng. Đi liền với
đó, nhân dân rất coi trọng vấn đề “thuần khiết” nội bộ. Vì vậy, dù bọn địch đã
bày đủ trò, xuất đủ kế từ lừa bịp mỵ dân, đánh đòn tâm lý song không hề lung
lay được tinh thần đấu tranh cách mạng của quần chúng nhân dân nơi đây. Nhân
18




19


Chính vì tầm quan trọng đó, mà cố Bí thư Thành ủy Đà Nẵng Nguyễn Bá
Thanh cũng đã có tâm huyết thực hiện chủ trương khơi thông sông Cổ Cò, kết
nối Đà Nẵng - Hội An, phát triển kinh tế du lịch, hướng đến đa mục tiêu phát
triển kinh tế - xã hội của thành phố. Sông CổCòcóxuất phát từ cửa sông Trường
Giang, huyêṇ Núi Thành, Quảng Nam về Đà Nẵng . Vào thế kỷ 17, sông Cổ Cò
là thủy lộ huyết mạch nối Cửa Hàn, Đà Nẵng và phố cổ Hội An . Tuy nhiên, do
thời gian vàchiến tranh tác đôngg̣ , nhiều đoạn sông bị bồi lấp, dâñ đến tắc nghẽn,
nhất là đoạn qua Thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Dòng sông Cổ Cò là con
sông chạy gần và song song bờ biển với nhiều khu resort cao cấp, từ bến sông
Hàn đến bến Cửa Đại Hội An, con uốn lượn qua nhiều dự án phát triển du lịch và
khu đô thị lớn, hiện đại: khu đô thị Nam Việt Á, tổ hợp du lịch nghỉ dưỡng cao
cấp Cocobay Đà Nẵng, sân golf Montgomerie Links, sân gôn VinaCapital, khu
đô thị Sea View, khu đô thị Công nghệ FPT, khu đô thị Phú Mỹ An… Dòng Cổ
Cò sẽ uốn lư ợn qua núi Ngũ Hành Sơn với nhiều truyền thuyết và huyền thoại
được người dân lưu truyền như sự tích hình thành 5 ngọn núi Ngũ Hành Sơn.
Nơi đây có nhiều ngôi chùa cổ kính tựa lưng vào ngọn Kim Sơn, đặc biệt chùa
Quán Thế Âm hướng ra dòng sông Cổ Cò. Sông Cổ Cò cũng là dòng sông tạo
nên sự thơ mộng, gần gũi, gắn liền với khu Căn cứ K20.
Dường như ai từng biết đến Đà Nẵng là biết đến Ngũ Hành Sơn. Nó nổi
tiếng đến độ nhiều người muốn xem nó như là biểu tượng của vùng đất này.
Không gian huyền ảo, thơ mộng, chùa chiền và hang động, cây cỏ và tiếng
chuông chùa, sóng...Gần 200 năm trước, vua Minh Mạng đã từng đến đây. Ông
đã tự mình đặt tên cho núi, cho các hang động, chùa chiền. Không ai biết những
cái tên như Ngũ Hành Sơn, Huyền Không, Hóa Nghiêm, Lăng Hư, Tàng Chân,
Vân Nguyệt, Thiên Long... đã làm nhà vua phải suy nghĩ mất hết biết bao nhiêu
thời gian. Nhưng có một điều chắc chắn rằng, giữa những lo toan quốc kế dân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status