SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT TRIỆU SƠN 2
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
KINH NGHIỆM ÔN THI
HỌC SINH GIỎI CẤP TỈNH MÔN VẬT LÍ
ĐẠT NHIỀU GIẢI CAO Ở TRƯỜNG THPT TRIỆU SƠN 2
Người thực hiện: Hồ Sỹ Phúc
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THPT Triệu Sơn 2
SKKN thuộc môn: Vật lí
THANH HÓA NĂM 2018
M ỤC LỤC
1. Mở đầu
1.1. Lí do chọn đề tài ............. …………………………………………
1.2. Mục đích nghiên cứu .................................................................….
1.3. Đối tượng nghiên cứu ......…………………………………………
1.4. Phương pháp nghiên cứu…………………………..........…………
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
Trang
1
1
2
2
4
4
4
4
5
5
6
16
17
17
19
20
20
20
1. Mở đầu
1.1. Lí do chọn đề tài.
Thế kỉ XXI là thế kỉ của khoa học kỹ thuật – công nghệ. Cuộc cách mạng
công nghiệp 4.0 đưa loài người tiến xa vượt bậc trong mọi lĩnh vực kỹ thuật – khoa
học – văn hóa – y tế. Để theo kịp với tốc độ phát triển như vũ bão này, đòi hỏi đất
nước chúng ta phải có một đội ngũ nhân lực có trình độ cao. Đội ngũ này đóng vai
trò tiên phong, nòng cốt quyết định sự phát triển của đất nước. Nhưng để có được
những kỹ sư tài năng, những bái sĩ nội trú, những tiến sĩ trẻ tuổi, những nhà khoa
học giỏi thì chúng ta phải có nguồn là những học sinh giỏi(HSG) ở các cấp học phổ
thông đặc biệt là bậc trung học phổ thông(THPT).
Môn Vật lí là môn khoa học cơ bản có tính ứng dụng thực tiễn rất cao đặc
biệt là trong lĩnh vực khoa học - công nghệ. Hầu hết các trường, các khoa, các
ngành kỹ thuật ở các trường đại học, cao đẳng, trung cấp đều tuyển sinh các khối
cao mà bản thân đúc kết từ thực tiễn ôn luyện đội tuyển HSG môn Vật lí tại trường
THPT Triệu Sơn 2 trong nhiều năm qua.
1.3. Đối tượng nghiên cứu.
- Đối tượng là học sinh THPT đặc biệt là học sinh các lớp chọn Khối A ở Trường
THPT Triệu Sơn 2.
1.4. Phương pháp nghiên cứu.
- Nghiên cứu tài liệu.
- Tổng hợp kinh nghiệm thực tế.
Trang 2
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm.
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
“Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”(Thân Nhân Trung). Bồi dưỡng HSG là
bước đi đầu tiên để tạo nhân tài cho đất nước. Đây cũng là một nhiệm vụ quan
trọng của ngành giáo dục. Đào tạo học sinh giỏi (HSG) ở bậc Trung học Phổ thông
là một quá trình mang tính khoa học nghiêm túc, không thể chỉ một vài tháng mà
phải có tính chiến lược dài hơi trong suốt cả ba năm học. Chỉ có quá trình này mới
cung cấp được tương đối đầy đủ các kiến thức cần thiết cho học sinh và phát hiện
chính xác khả năng học tập của các em, từ đó mới có thể thành lập các đội tuyển
tham dự kỳ thi HSG các cấp.
* Về mục tiêu bồi dưỡng HSG:
Theo quan điểm của tôi, mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng HSG, là đào tạo cho
các em:
- Có kiến thức khoa học cơ bản mang tính hệ thống. Biết vận dụng để giải
quyết các bài tập nâng cao trong các kì thi HSG.
- Có tính tự lập và khả năng nhận thức ở mức độ cao.
- Rèn luyện tư duy và kĩ năng để phát triển toàn diện.
* Yêu cầu chung với người thầy:
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
Việc bồi dưỡng HSG ở các trường THPT vừa kế thừa những kết quả bồi
dưỡng HSG ở cấp trung học cơ sở(THCS) đồng thời phát hiện, bồi dưỡng các nhân
tố mới và nâng tầm chât lượng cho các học sinh có năng lực giỏi. Thực tế dạy học
cho thấy nhiều học sinh (đặc biệt là học sinh nam) đến bậc THPT mới thực sự
“trưởng thành” về thể chất và về năng lực. Nhiều em đến bậc THPT mới bộc lộ tố
chất năng lực nổi bật của mình. Đây chính là nguồn HSG cho các trường THPT mà
giáo viên phải nhạy bén để phát hiện ra.
Riêng bộ môn Vật lí việc bồi dưỡng HSG ở bậc THPT nói chung và ở
trường THPT Triệu Sơn 2 nói riêng còn có những thuận lợi và khó khăn sau:
2.2.1. Thuận lợi.
- Được sự quan tâm và tạo điều kiện mọi mặt của Ban giám hiệu nhà trường.
- Sự đoàn kết, tương trợ của các thành viên trong tổ bộ môn.
- Sự nhiệt tình của các giáo viên đứng đội tuyển.
- Sự đam mê, tích cực của các em học sinh và sự ủng hộ của phụ huynh học
sinh.
2.2.2. Khó khăn.
- Nguồn HSG môn Vật lí ở cấp THCS trên địa bàn phía nam huyện Triệu Sơn
(khu vực tuyển sinh của Trường Triệu Sơn 2) có rất ít. Có những năm không có bất
kì một học sinh nào đã từng là HSG cấp Huyện, cấp Tỉnh ở THCS.
- Mặt khác môn Vật lí là môn học khó, có đặc thù riêng nên nhiều học sinh còn
e ngại. Đa số các em học sinh khá, giỏi thích chọn môn Toán, Hóa, Sinh vì những
môn ấy có vẻ dễ đạt giải hơn.
- Trong quá trình dạy đội tuyển kiến thức nền tảng Vật lí của học sinh vẫn còn
nhiều “lỗ hổng” nên giáo viên phải mất rất nhiều thời gian và công sức.
- Nắm rõ đặc điểm, tình hình dạy ôn thi HSG Vật lí ở trong các nhà trường nói
chung và trường THPT Triệu Sơn 2 nói riêng. Từ khi được Ban giám hiệu giao
nhiệm vụ đứng đội tuyển bản thân tôi đã có những mạnh dạn đổi mới trong công
tác bồi dưỡng HSG và đã đạt được nhiều thành tích cao.
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
chỉ “nghe” thầy nói. Tôi đã đem chính sự nhiệt huyết, đam mê trong công việc của
chính mình và uy tín của bản thân để nêu gương cho học sinh. Có những học sinh
năng lực tốt nhưng đầy cá tính như em Lê Đình Dũng lớp 11C2- Giải Nhất Vật lí
11 năm học 2017 – 2018 tôi phải kiên trì và từng bước “thu phục” và “nắn” em học
theo đúng phương pháp của mình đề ra... Khi các em trong đội tuyển đã thực sự
đam mê Vật lí và thực sự tin tưởng Thầy thì cũng là lúc hành trình ôn tập cần tăng
tốc.
Trong toàn bộ quá trình ôn tập việc nuôi dưỡng đam mê và truyền quyết tâm
chiến thắng cho học sinh là vô cùng quan trọng. Chính khát khao được khẳng định
mình là động lực để các em nỗ lực, thi đua và chiến thắng. Thực tế nhiều năm ôn
tập HSG Vật lí ở Trường THPT Triệu Sơn 2 tôi đã chứng kiến những cuộc bứt phá
ngoạn mục và đạt kết quả cao của nhiều học sinh. Tiêu biểu như em Lê Thị TrangLớp 12C2(2015 – 2016): khi thi vào đội tuyển và các lần khảo sát đội tuyển trường
em chỉ xếp thứ 5/5 với điểm trung bình 10,5 điểm. Khi thi HSG máy tính cầm tay
chỉ đạt giải KK(Xếp thứ 5 trong đội), em đã khóc rất nhiều nhưng nhờ có sự động
Trang 5
viên kịp thời của tôi, em đã nỗ lực hết mình nên khi thi HSG văn hóa em được
17,75 điểm, đạt giải Nhì, xếp thứ 2 trong đội tuyển...
2.3.3. Xây dựng kế hoạch ôn luyện đội tuyển.
Việc xây dựng kế hoạc ôn tập là điều hết sức quan trọng. Cơ sở lập kế hoạch
phải căn cứ vào:
+ Chương trình, nhiệm vụ trong các năm học của nhà trường.
+ Chương trình, nội dung thi.
+ Đối tượng học sinh.
+ Thời gian của giáo viên đứng đội tuyển.
Kế hoạch ôn tập phải có tính liên tục, theo một lộ trình từ lớp 10 đến khi thi.
Số lượng buổi ôn tập: 2 buổi/ tuần( Chiều Thứ 2 và chiều Thứ 5). Trước lúc thi 2
tháng có thể tăng cường thêm các buổi sau giờ dạy thêm buổi chiều.
(Kế hoạch cụ thể - PHỤ LỤC 1)
- Dễ nén
- Có khối lượng riêng rất nhỏ so với chất rắn và chất lỏng
b) Cấu trúc của chất khí
- Chất được cấu tạo từ các nguyên tử, phân tử có kích thước rất nhỏ so với khoảng
cách giữa chúng.
- Lượng chất, mol
+ Lượng chất trong một vật được xác định theo số phân tử hay nguyên tử chứa
trong vật ấy.
+ 1 mol là lượng chất trong đó có chứa một số phân tử hay nguyên tử bằng số
nguyên tử chứa trong 12g cacbon: NA =6,02.1023 Số Avogadro.
Khối lượng một phân tử : m0 N ,
A
khối lượng mol phân tử.
Số mol: m
c) Các thông số trạng thái của một lượng khí.
- Nhiệt độ: T(K), t(0C)
T = t + 273.
3
- Thể tích: V(m , l)
1m3 = 1000dm3 = 1000 l
- Áp suất: p (N/m2, Pa, atm, at, mmHg, torr, bar)
1Pa = 1 N/m2, 1 atm = 1,033 at = 760 mmHg = 1,01325.105 Pa,
1 mmHg = 1 torr, 1 bar = 105 Pa.
c) Phương trình trạng thái của khí lí tưởng. Định luật Gay-luy-xac
+ Phương trình trạng thái:
+ Định luật Gay-luy-sac:
pV
pV
pV
const hay 1 1 2 2
T1
T2
T
V
p = const => T =const hay
V1 V2
T1 T2
- Đường đẳng tích:
m
d) Phương trình Cla-pê-ron -Men-đê-lê-ép: pV RT .
R = 8,31J/mol.K=0,082atm.lit/mol.K=0,084at.lit/mol.K – hằng số các khí.
II. Phân loại bài tập và cách giải.
1. Quá trình đẳng nhiệt. Định luật Bôi lơ – Mariốt.
* Bài tập cơ bản
Bài 1: Nén khí đẳng nhiệt từ thể tích 9(l) đến thể tích 6 (l) thì thấy áp suất tăng lên
một lượng p 40kPa . Hỏi áp suất ban đầu của khí là bao nhiêu?
100cm, hai đầu bịt kín có một cột thủy ngân dài h = 20cm. Trong ống có không khí.
Khi đặt ống thẳng đứng cột thủy ngân dịch chuyển xuống dưới một đoạn l = 10cm.
Tìm áp suất của không khí trong ống khi ống nằm ngang ra cmHg và Pa.
Coi nhiệt độ không khí trong ống không đổi và khối lượng riêng thủy ngân là ρ =
1,36.104kg/m3.
Hướng dẫn:
Trạng thái 1 của mỗi lượng khí ở hai bên cột thuỷ ngân (ống nằm ngang)
�L h �
: Trạng thái 2 (ống đứng thẳng).
p1.V1 �
�S .T1
�2 �
Lh �
l�
S ; T2 T1
�2
�
�L h � '
'
'
l �S ; T2 T1
+ Đối với lượng khí ở dưới cột thuỷ ngân: p2 ;V2 �
�2
�
�
+ Đối với lượng khí ở trên cột thuỷ ngân: p2 ;V2 �
Áp suất khí ở phần dưới bằng áp suất khí ở phần trên cộng với áp suất do cột thuỷ
ngân gây ra. Do đó đối với khí ở phần dưới, ta có:
� p1 L h p2 h L h 2l (2)
4l
Thay giá trị P2 vào (1) ta được:
2
2
h�
20 �
100 20 4.102 �
�L h 4l 2 �
� �
� 37.5cmHg
p1
4l L h
4.10 100 20
p1 gH 1,36.10 4.9,8.0,375 5.10 4 Pa
Bài 2: Cho một ống tiết diện S nằm ngang
được ngăn với bên ngoài bằng 2 pittông
Pittông thứ nhất được nối với lò xo như hình
vẽ. Ban đầu lò xo không biến dạng, áp suất
khí giữa 2 pittông bằng áp suất bên ngoài p 0.
1
Khoảng cách giữa hai pittông là H và bằng
2
Phương trình có nghiệm là: F
p0 S
p2S 2
kH 0
k 2H 2
2
4
Bài 3: Bơm không khí ở áp suất P1 = 1at vào một quả bóng bằng cao su, mỗi lần
nén pittông thì đẩy được V1 125cm3. Nếu nén 40 lần thì áp suất khí trong bóng là
bao nhiêu? Biết dung tích bóng lúc đó là V = 2,5lít. Cho rằng trước khi bơm trong
quả bóng không có không khí và khi bơm nhiệt độ không đổi.
2. Quá trình đẳng tích. Định luật Sáclơ.
* Bài tập cơ bản
Bài 1: Một bóng đèn điện chứa khí trơ ở nhiệt độ t1 = 27oC và áp suất p1, khi bóng
đèn sáng, nhiệt độ của khí trong bóng là t 2 = 150oC và có áp suất p2 = 1atm. Tính
áp suất ban đầu p1 của khí trong bóng đèn khi chưa sáng
Hướng dẫn:
- Trạng thái 1:
T1 = 300K; p1 = ?
- Trạng thái 2: T2 = 423K; p2 = 1atm
- AD định luật Sáclơ:
p1T2 = p2T1 => 423p1 = 300.1 => p1 = 0,71atm
Bài 2: Khi đun đẳng tích một khối lượng khí tăng thêm 2 oC thì áp suất tăng thêm
1
áp suất ban đầu. Tính nhiệt độ ban đầu của khối lượng khí.
180
nhiêu để nút bật ra ? Biết lực ma sát giữa nút và chai có độ lớn là 12 N, áp suất ban đầu
của không khí trong chai bằng áp suất khí quyển và bằng 9,8.10 4Pa, nhiệt độ ban đầu của
không khí trong chai là -30C.
Hướng dẫn:
Trước khi nút bật ra, thể tích khí trong chai không đổi và quá trình đun nóng là
quá trình đẳng tích. Tại thời điểm nút bật ra, áp lực không khí trong chai tác dụng
lên nút phải lớn hơn áp lực của khí quyển và lực ma sát:
p2 S Fms p1S
F
Do đó: p2 ms p1
S
p1 p2
p
T �F
270 � 12
�
�
� T2 T1 2 � T2 1 � ms p1 �� T2
9,8.104 ��402K
4 �
4
T1 T2
p1
p1 �S
9,8.10 �2,5.10
�
�
Trang 11
* Bài tập nâng cao
Bài 1: Một áp kế gồm một bình cầu thủy tinh có thể tích 200cm3 gắn với ống
nhỏ AB nằm ngang có tiết diện 0,15 cm2. Trong ống có một giọt thủy ngân. Ở 00C
giọt thủy ngân cách A 25 cm, hỏi khi nung bình đến 150C thì giọt thủy ngân di
chuyển một khoảng bao nhiêu? Coi dung tích của bình không đổi, ống AB đủ dài
để giọt thủy ngân không chảy ra ngoài.
A
B
4. Phương trình trạng thái.
* Bài tập cơ bản
Bài 1: Một lượng khí đựng trong một xi lanh có pittông chuyển động được. Các thông số
trạng thái của lượng khí này là: 2 atm, 300K. Khi pit tong nén khí, áp suất của khí tăng lên
tới 3,5 atm, thể tích giảm còn 12l. Xác định nhiệt độ của khí nén.
Hướng dẫn:
T2
p2V2T1
420 K
p1V1
Bài 2: Một bóng thám không được chế tạo để có thể tăng bán kính lên tới 10m khi bay ở
tầng khí quyển có áp suất 0,03atm và nhiệt độ 200K. Hỏi bán kímh của bong khi bơm, biêt
bóng được bơm khí ở áp suất 1 atm và nhiệt độ 300K ?
Hướng dẫn:
như nhau ở nhiệt độ 17oC và áp suất 2 atm. Muốn pittong
dịch chuyển 2cm thì phải đun nóng khí ở một phần lên thêm bao nhiêu ? Áp suất cuả khí
pittong đã dịch chuyển là bao nhiêu.
Hướng dẫn:
T 41, 4 K ; p �2,14atm .
Đối với phần khí bị nung nóng:
+ Trạng thái đầu: p1 ;V1 lS ; T1
(1)
+ Trạng thái cuối: p 2 ;V2 l l S ; T2
(2)
Đối với phần khí không bị nung nóng:
+ Trạng thái đầu:
p1 ;V1 lS ; T1
(3)
'
'
'
+ Trạng thái cuối: p 2 ;V2 l l S ; T2 T1
(4)
Trang 12
p1V1 p 2V2
p 2' V2'
Ta có:
T1
T2
T1
pV
1 1
2 2
Vì T T
1
2
nên:
p2
p1V1T2 p1lS T1 T p1l T1 T 2.0,3 290 41
�2,14atm
TV
T1 l l S
T1 l l
290 0,3 0, 02
1 2
Bài 2: Một ống nghiệm tiết diện đều có chiều dài 76cm, đặt thẳng
đứng chứa một khối khí đến nửa ống, phía trên của ống là
một cột thủy ngân. Nhiệt độ lúc đầu của khối khí là 00C.
áp suất khí quyển là 76cmHg. Để một nửa cột thủy ngân
00C
trào ra ngoài thì phải đun nóng khối khí lên đến nhiệt độ bao nhiêu?
5. Phương trình Clapeyron –Mendeleep.
32
2. Tính nhiệt độ T2 của khối khí sau khi đun nóng.
Trạng thái 1: p1 = 3at; V1 = 2,48lít; T1 = 283K
Trang 13
Trạng thái 2: p2 = p1 ; V2 = 10lít; T2 =?
Vì quá trình biến đổi từ trạng thái (1) sang trạng thái (2) là quá trình đẳng
áp, nên ta áp dụng định luật Gay lussac:
V1T2 = V2T1 => 2,48T2 = 10.283 => T2 = 1141K => t2 = 868oC
* Bài tập nâng cao
Bài 1: Một xilanh đặt thẳng đứng, bịt kín hai đầu, được chia làm hai phần bởi một
pittông nặng cách nhiệt. Cả hai bên pittông đều chứa cùng một lượng khí lý tưởng.
Ban đầu khi nhiệt độ khí của hai phần như nhau thì thể tích phần khí ở trên pittông
gấp n = 2 lần thể tích khí ở phần dưới pittông. Hỏi nếu nhiệt độ của khí ở phần
trên pittông được giữ không đổi thì cần phải tăng nhiệt độ khí ở phần dưới pittông
lên bao nhiêu lần để thể tích khí ở phần dưới pittông sẽ gấp n = 2 lần thể tích khí ở
phần trên pittông ? Bỏ qua ma sát giữa pittông và xilanh.
Hướng dẫn:
Lượng khí ở 2 phần xilanh là như nhau nên:
'
'
'
PV P V
P V
P V
m
V2, P2
'
V2’,
P2’
ta dựa vào các nhận xét sau:
1. Hiệu áp lực hai phần khí lên pittông bằng trọng lượng Mg của pittông:
'
'
(P2 P1 )S Mg (P2 P1 )S
P2' P1' P2 P1 (n 1)P1
P2' P1' (n 1)P1
(2)
2. Từ phương trình trạng thái của khí lí tưởng ở phần trên của pittông:
’
1
P1V1 = P V
’
1
V1' 1
V1
'
'
V1 V1 nV1
V1 n
n
P2'
1 2n 1
Thay vào (3) ta được: ' 1 (n 1)
P1
n
n
T2
P2'
n ' 2n 1 3 .
Thay vào (1) ta có kết quả:
T1
P1
Bài 2: Có 0,4g khí Hiđrô ở nhiệt độ
, áp suất Pa, được biến đổi trạng thái
qua 2 giai đoạn: nén đẳng nhiệt đến áp suất tăng gấp đôi, sau đó cho dãn nở đẳng
áp trở về thể tích ban đầu.
a. Xác định các thông số (P, V, T) chưa biết của từng trạng thái .
b. Vẽ đồ thị mô tả quá trình biến đổi của khối khí trên trong hệ OPV.
Bài toán về đồ thị.
(1)
- Khi V = 2V0 thì P = P0/2 nên: P0 /2 = 2αV0 + β (2)
- Từ (1) và (2) ta có: α = - P0 / 2V0 ; β = 3P0 / 2
3P
P
0
0
- Thay vào (*) ta có phương trình đoạn thẳng đó : P = 2 - 2V V
0
PV
=
RT
- Mặt khác, phương trình trạng thái của 1 mol khí :
(3)
(4)
Trang 15
V
3V
2V
2
0
0
9 V 0 P0 / 8 R
V 0 P0 / R
2
1
P
0
P0 /2
3 P0 / 4
P0
3 P0 / 2
V
Bài 2: Một lượng khí biến đổi theo chu trình được V
2
biểu diễn trên đồ thị hình bên. Biết :
p1 = p3; V1 =1m3 , V2 = 4m3;
T1 = 100K và T4 = 300K.
Tính V3 = ?
Hướng dẫn:
V
V1
0
Vậy V3 = 2,2m3
2.3.5. Công tác dạy đội tuyển.
- Việc dạy đội tuyển phải thực sự nghiêm túc từ việc dạy của giáo viên đến việc học
của học sinh.
Trang 16
- Trong các buổi dạy, nên cho học sinh làm các bài tập từ cơ bản đến nâng cao.
- Giáo viên hướng dẫn giải chi tiết các bài mẫu để học sinh học cách trình bày.
- Với những bài tập khó mà học sinh chưa giải được thì giáo viên phải gợi ý, hướng
dẫn ngay chứ không để “dồn toa” ngày càng nhiều các bài mà học sinh không giải
được.
- Tạo không khí hưng phấn, vui vẻ trong các buổi học để hạn chế áp lực cho các
em.
- Bài tập về nhà, yêu cầu học sinh phải hoàn thành và nộp bài đúng thời gian quy
định của giáo viên.
- Hình ảnh Thầy và trò trong một buổi ôn thi HSG cấp tỉnh năm học 2016 -20172.3.6. Công tác kiểm tra, đánh giá, sàng lọc đội tuyển.
- Tổ bộ môn cần có kế hoạch thi chọn đội tuyển sớm để có nhiều thời gian ôn
tập tập trung.
- Tổ chức thi nhiều vòng trong quá trình ôn luyện để thấy được sự tiến bộ
của từng học sinh. Kết quả cuối cùng lấy theo điểm tổng các bài thi theo thứ tự từ
cao xuống thấp.
- Việc tổ chức kiểm tra đánh giá phải được tổ chức khách quan, chính xác.
2.3.7. Công tác phối hợp.
Việc ôn thi HSG muốn đạt hiệu quả cao cần có sự phối hợp đồng bộ của nhà
trường – giáo viên – học sinh và gia đình.
- Phối hợp với BGH tranh thủ sự ủng hộ về các nguồn lực tài chính hoặc tạo “hành
lang” thuận lợi cho giáo viên và học sinh tiến hành quá trình ôn tập. BGH có
chương trình, kế hoạch cụ thể cho công tác ôn thi HSG. Việc ôn tập được tiến hành
- Phối hợp với gia đình học sinh: Chúng tôi rất coi trọng công tác phối hợp với gia
đình học sinh, thường xuyên giữ mối liên hệ với các phụ huynh học sinh trong đội
tuyển và luôn được sự ủng hộ nhiệt tình của các bậc phụ huynh. Phụ huynh của học
sinh trong đội tuyển HSG Vật lí của tôi luôn tự hào khi con mình được đi thi HSG
cấp Tỉnh. Các bậc phụ huynh đã luôn nhắc nhở, động viên các cháu, giám sát các
cháu trong quá trình ôn tập ở nhà. Có thể nói thành tích của ĐT HSG Vật lí Trường
THPT Triệu Sơn 2 có công đóng góp rất lớn của các bậc phụ huynh.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản
thân, đồng nghiệp và nhà trường.
- Từ năm học 2007 – 2008 đến nay tôi được Ban giám hiệu nhà trường phân công
làm Tổ phó chuyên môn phụ trách việc dạy đội tuyến học sinh giỏi văn hóa và học
sinh giỏi giải toán bằng máy tính cầm tay môn Vật lí. Tôi luôn không ngừng học
hỏi, tích lũy kinh nghiệm, chia sẻ kinh nghiệm, hợp tác chặt chẽ với các đồng
nghiệp trong tổ tìm các phương pháp dạy học sinh làm tốt các bài toán trong đề thi
HSG Vật lí cấp Tỉnh.
- Đội tuyển học sinh giỏi Vật lí trường THPT Triệu Sơn 2 luôn đạt kết quả rất cao
trong các kì thi học sinh giỏi văn hóa do Sở GD và ĐT tổ chức, cụ thể như sau:
TT
Năm học
1
2
3
4
5
6
7
1
1
2
1
2
1
3
3
Ba
KK
2
3
4
4
2
8
1
2
2
1
2
3
3
4
4
Trang 19
3. Kết luận, kiến nghị.
- Kết luận.
Niềm tự hào của người thầy chính là người dẫn đường đưa học sinh chiếm
lĩnh những đỉnh cao tri thức. Năng lực của người thầy được đo bằng thành tích của
học trò. Tất nhiên thành tích này bao hàm nhiều mặt nhưng trong đó kết quả HSG
chính là tiêu chí quan trọng nhất, nổi bật nhất. Ý thức được điều này các giáo viên
đứng đội tuyển HSG sẽ toàn tâm, toàn ý, toàn chí toàn lực cho công tác ôn luyện.
“ Muốn có trò giỏi phải có thầy giỏi”, đó là một quy luật trong nhiều lĩnh vực
và đặc biệt là công tác ôn luyện HSG. Vì vậy mỗi giáo viên phải không ngừng tự
học tập, trau dồi chuyên môn, tích lũy và học tập kinh nghiệm của các đồng nghiệp
để vận dụng phù hợp vào thực tiễn công tác của mình. Tôi mong rằng những kinh
nghiệm mà tôi chia sẻ trong khuôn khổ của SKKN này sẽ giúp ích cho các đồng
nghiệm trong quá trình ôn thi HSG Vật lí cấp tỉnh.
- Kiến nghị.
Ôn luyện HSG là một công tác đòi hỏi rất nhiều sự nỗ lực và cả sự hy sinh
của các giáo viên đứng đội tuyển. Tuy nhiên, hiện nay chế độ đãi ngộ đối với các
giáo viên đứng đội tuyển ở nhiều trường còn chưa tương xứng. Tôi kính đề nghị Sở
GD và ĐT, các ban, ngành, các nhà trường cần có sự hỗ trợ về tài chính nhiều hơn
cho công tác ôn thi HSG, đặc biệt là đối với các giáo viên trực tiếp đứng đội tuyển.
Bộ GD và ĐT, các Sở GD và ĐT cần có chính sách khuyến khích hơn đối
với các HSG cấp tỉnh nhất là các học sinh đạt giải cao để có thể tạo điều kiện cho
các em phát triển năng lực của mình ở các cấp học cao hơn.
XÁC NHẬN
CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Thanh Hóa, ngày 20 tháng 05 năm 2018
- Đồng chí Hồ Sỹ Phúc – Tổ phó chuyên môn chịu trách nhiệm chính.
III. Danh sách dự nguồn ĐT HSG Vật lí 12 năm học 2016 – 2017
Điểm thi
STT
Họ và tên
Lớp
Giáo viên dạy
chọn ĐT Vòng 1
1
Hoàng Văn Hưng
12A5
13.00
Nguyễn Thọ Tuấn
2
Hồ Nguyên Pháp
12A6
11.75
Hồ Sỹ Phúc
Hồ Sỹ Phúc
3
Lê Thị Mai Anh
12A6
13.50
Hồ Sỹ Phúc
4
Lê Huy Khải
12A6
12.25
Hồ Sỹ Phúc
5
Hệ liên kết
Thời
gian
3 buổi
4 buổi
Giáo viên dạy
Nguyễn Thọ Tuấn
Hồ Sỹ Phúc